ThS. Nguyễn Minh Thắng
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh
(Quanlynhanuoc.vn) – Quá trình thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đổi mới toàn diện nền kinh tế ở Việt Nam không chỉ bao gồm cải cách thể chế kinh tế, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước mà còn là đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát huy nội lực và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Bài viết phân tích vai trò của đổi mới kinh tế như một động lực trọng yếu thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chỉ ra những thách thức và đề xuất một số giải pháp trọng tâm tiếp tục tổ chức thực hiện nhằm tạo nền tảng vững chắc cho quá trình phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Đổi mới nền kinh tế; kinh tế thị trường; định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới luôn là yêu cầu khách quan, tất yếu và mang tính phổ quát trong tiến trình phát triển của mọi quốc gia, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, cạnh tranh chiến lược diễn biến phức tạp và tác động đa chiều của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa trên quy mô toàn cầu. Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay là một dấu mốc có ý nghĩa lịch sử, mở ra bước ngoặt mang tính đột phá trong tư duy phát triển, cơ cấu thể chế và phương thức quản trị quốc gia. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã từng bước vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội, duy trì ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong tiến trình ấy, đổi mới kinh tế được xác định là trọng tâm xuyên suốt, đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng và từng bước hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) – một mô hình phát triển đặc thù, kết hợp hài hòa giữa nguyên lý thị trường với các mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội.
2. Thành tựu đổi mới nền kinh tế những năm qua
Về phương diện lý luận, đổi mới nền kinh tế là một tất yếu khách quan từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện mới. Đổi mới nền kinh tế không chỉ là cải cách về thể chế, mà là sự chuyển đổi có tính căn bản trong tư duy phát triển, phương thức vận hành và cách thức tổ chức nguồn lực. Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Đảng xác lập là sự kết hợp biện chứng giữa việc vận hành theo quy luật thị trường với vai trò định hướng, điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm phát triển hài hòa giữa hiệu quả và công bằng, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Trên thực tiễn, gần 40 năm đổi mới đã tạo ra những thành tựu phát triển toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, góp phần quan trọng vào việc định hình vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Giai đoạn 1991 – 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,6%/năm; GDP năm 2000 tăng gấp 2 lần năm 1991.
Giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,5%/năm; năm 2006 – 2010 đạt 6,9%/năm, bình quân 10 năm (2001-2010) đạt 7,2%/năm, bình quân 20 năm đạt 7,4%/năm1. Bất chấp tác động của đại dịch Covid‑19, nền kinh tế vẫn tăng trưởng dương 2,91 % năm 2020 và phục hồi mạnh mẽ với mức 8,02 % trong năm 2022 – mức cao nhất trong giai đoạn gần một thập niên2.
Quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, với mức 346 tỷ USD năm 2020, xếp thứ 37 trên thế giới, dự kiến tăng lên trên 510 tỷ USD năm 2025, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN3. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ hơn 100 USD năm 1990 lên 4.324 USD năm 2023, và dự kiến đạt 4.622 USD vào năm 2024, đưa Việt Nam tiến sát ngưỡng thu nhập trung bình cao theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới4. Song song với đó, hội nhập quốc tế đã được mở rộng mạnh mẽ.
Việt Nam đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định FTA thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… Điều này thúc đẩy kim ngạch thương mại đạt 786 tỷ USD năm 2024, trong đó xuất khẩu đạt 405,5 tỷ USD, dẫn tới xuất siêu gần 25 tỷ USD5. Theo Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăn ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/7/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 24,09 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước6. Những thành tựu nổi bật nêu trên vừa phản ánh hiệu quả của đổi mới thể chế và tư duy kinh tế, vừa minh chứng cho sức bật vượt bậc của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN.
3. Một số thách thức trong quá trình đổi mới nền kinh tế để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, thách thức lớn và mang tính nền tảng hiện nay là sự bất cập, thiếu đồng bộ, thậm chí mâu thuẫn giữa các yếu tố trong thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặc dù nhiều nội dung đã được cải cách và hoàn thiện, song khung pháp lý cho nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập vẫn chưa đầy đủ, nhiều chính sách còn chồng chéo, thiếu ổn định và khó dự báo, gây cản trở cho hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh.
Việc triển khai các nguyên tắc thị trường, như: cạnh tranh bình đẳng, minh bạch thông tin, bảo vệ quyền tài sản và hợp đồng chưa được thực thi hiệu quả trên thực tế. Cơ chế điều phối giữa trung ương và địa phương trong thực hiện chính sách kinh tế cũng chưa thực sự linh hoạt, dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực và thiếu liên kết vùng. Đồng thời, một bộ phận cán bộ, công chức vẫn chưa theo kịp yêu cầu đổi mới tư duy quản lý kinh tế thị trường hiện đại, còn tư tưởng sợ trách nhiệm, làm việc theo lối mòn. Trong bối cảnh kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và các mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh, nếu không kịp thời đổi mới và thích ứng sẽ dễ bị rơi vào thế bị động trong cạnh tranh toàn cầu.
Thứ hai, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu vẫn gặp nhiều lực cản do chưa hình thành được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh, trong khi chất lượng nguồn nhân lực và trình độ công nghệ còn hạn chế. Mặc dù khu vực doanh nghiệp đã có bước phát triển, đặc biệt là sự gia tăng số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, song năng suất lao động vẫn thấp so với mặt bằng khu vực.
Việc áp dụng khoa học – công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số trong doanh nghiệp còn chậm, chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp FDI hoặc quy mô lớn, trong khi khu vực tư nhân trong nước chưa tiếp cận được đầy đủ với các chính sách hỗ trợ và hạ tầng công nghệ. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục – đào tạo chưa theo kịp yêu cầu thị trường lao động mới, dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, mất cân đối cung – cầu lao động. Đặc biệt, những ngành, nghề mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, kỹ thuật số, tự động hóa, năng lượng tái tạo… chưa được đầu tư đồng bộ về chương trình đào tạo, cơ sở vật chất và chính sách thu hút nhân tài.
Thứ ba, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và khả năng bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển. Việc tham gia các FTA thế hệ mới, như: CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư, mở rộng xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng khiến Việt Nam chịu áp lực lớn về cạnh tranh, tiêu chuẩn chất lượng và cam kết thể chế. Nhiều doanh nghiệp trong nước còn yếu về năng lực quản trị, tài chính, công nghệ và thương hiệu nên dễ bị tổn thương trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Trong khi đó, khu vực FDI có xu hướng chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu và sản xuất công nghiệp nhưng chưa có sự lan tỏa đủ mạnh sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Nguy cơ lệ thuộc vào khu vực đầu tư nước ngoài cả về công nghệ lẫn chuỗi cung ứng ngày càng hiện hữu nếu không có giải pháp chủ động đổi mới và nâng cao năng lực nội tại.
Thứ tư, bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện đại vẫn là một thách thức lớn, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong tư duy phân phối, chính sách an sinh và điều tiết xã hội. Trong quá trình phát triển, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, nhóm dân cư vẫn còn lớn; chênh lệch cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng cơ bản giữa nông thôn – đô thị, miền núi – đồng bằng vẫn chưa được thu hẹp hiệu quả. Bên cạnh đó, các vấn đề mới, như: già hóa dân số, an ninh lương thực, năng lượng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi việc làm… đặt ra nhiều yêu cầu đối với hệ thống chính sách xã hội, trong khi nguồn lực và năng lực quản lý nhà nước còn hạn chế.
4. Một số giải pháp tiếp tục đổi mới để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới, việc tiếp tục đổi mới nền kinh tế cần được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ gắn với mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Một số nhóm giải pháp trọng tâm bao gồm:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng đồng bộ, hiện đại, hội nhập và vận hành đầy đủ các yếu tố thị trường. Đây là giải pháp nền tảng, giữ vai trò định hình mô hình phát triển đặc thù của Việt Nam. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính lý luận, mà còn là điều kiện tiên quyết để giải phóng nguồn lực, khơi thông động lực tăng trưởng và cụ thể hóa định hướng XHCN trong điều kiện phát triển theo cơ chế thị trường. Theo đó, cần đẩy mạnh rà soát, sửa đổi và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, đặc biệt là các đạo luật trụ cột, như: Luật Đất đai, Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bất động sản… theo hướng đơn giản, dễ thực thi, hài hòa với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, phải gắn với chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Nhà nước cần chủ động thiết lập môi trường thể chế thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, sáng tạo, liên kết và chuyển đổi số. Cần nâng cao chất lượng xây dựng chính sách bằng cơ chế phản biện độc lập, đánh giá tác động chính sách kỹ lưỡng, mở rộng kênh tham vấn xã hội.
Hai là, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thực hiện giải pháp này có ý nghĩa quan trọng và cấp bách trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dần từ giai đoạn phát triển dựa trên lợi thế chi phí thấp, tài nguyên và lao động sang giai đoạn phát triển dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo.
Việc đổi mới không chỉ là sự điều chỉnh trong cách thức huy động và sử dụng nguồn lực mà còn thể hiện bước chuyển căn bản về tư duy phát triển, gắn với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có năng lực thích ứng cao trong nền kinh tế số và kinh tế xanh. Chính vì vậy, cần quan tâm xây dựng và phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, ưu đãi đầu tư cho R&D, còn doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân giữ vai trò trung tâm trong ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn sản xuất – kinh doanh, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao. Chuyển đổi số cần được đẩy mạnh toàn diện trong các lĩnh vực trụ cột, như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, y tế, giáo dục và quản lý nhà nước, thông qua các chương trình quốc gia về chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.
Ba là, phát triển các thành phần kinh tế và các loại hình sở hữu một cách bình đẳng, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh và có sự điều tiết hợp lý của Nhà nước. Việc phát triển đầy đủ, bình đẳng và hiệu quả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là giải pháp chiến lược nhằm khai thác tối đa tiềm năng nội sinh, khơi thông các nguồn lực xã hội và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm. Chính vì vậy, cần đặc biệt coi trọng thực thi nghiêm túc nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, gồm: đất đai, tín dụng, thông tin và cơ hội kinh doanh giữa các thành phần kinh tế.
Nhà nước cần xóa bỏ triệt để các “đặc quyền ngầm”, hành chính hóa trong phân bổ nguồn lực; đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa chính sách và phòng, chống lợi ích nhóm. Kinh tế tư nhân cần được ưu tiên hỗ trợ phát triển thông qua các chính sách tài chính, tín dụng ưu đãi, phát triển hạ tầng số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và kết nối thị trường. Doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục tái cơ cấu toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, thu hẹp lĩnh vực hoạt động, tập trung vào các ngành thiết yếu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, phân định rõ chức năng công ích và kinh doanh.
Bốn là, tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng XHCN cho nền kinh tế thị trường, thông qua hệ thống chính sách tài khóa, tiền tệ, phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước là yếu tố then chốt để bảo đảm phát triển bền vững, công bằng và mang bản sắc riêng biệt của mô hình kinh tế Việt Nam. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng “trọng tài” điều phối hoạt động thị trường một cách công khai, minh bạch, mà còn đóng vai trò “kiến tạo phát triển”, điều tiết các quan hệ kinh tế – xã hội, khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường và hướng đến thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Để giải quyết tốt vấn đề nêu trên, cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công theo hướng chủ động, linh hoạt, phản ứng kịp thời với biến động thị trường; đồng thời, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm phân phối công bằng. Chính sách thuế cần được điều chỉnh theo hướng lũy tiến hợp lý, cải cách thuế tài sản, thuế thu nhập cao, trong khi chi tiêu công cần hướng đến trợ giúp nhóm yếu thế, vùng khó khăn và thúc đẩy phát triển xanh, tuần hoàn, bao trùm. Bên cạnh đó, hệ thống an sinh xã hội phải được củng cố toàn diện, với cơ chế trợ giúp xã hội có trọng tâm, linh hoạt và ứng dụng công nghệ trong quản lý, phân phối. Chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cần được tích hợp hiệu quả, bảo đảm bao phủ toàn dân và khả năng tiếp cận thuận lợi. Nhà nước cần chủ động điều tiết thị trường lao động, thị trường nhà ở, thị trường giáo dục – y tế nhằm bảo đảm cơ hội phát triển công bằng, nhất là cho người nghèo và nhóm yếu thế. Đồng thời, các công cụ kiểm soát thị trường tài chính, thị trường bất động sản, phòng chống đầu cơ, bong bóng giá và bảo vệ người tiêu dùng cần được áp dụng linh hoạt, có dự báo và cảnh báo sớm.
4. Kết luận
Đổi mới nền kinh tế là một yêu cầu mang tính tất yếu và chiến lược trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Với vai trò vừa là động lực nội sinh, vừa là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy nguồn lực xã hội và bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, đổi mới kinh tế thực sự là trụ cột trung tâm trong xây dựng và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã minh chứng rõ hiệu quả và tính đúng đắn của đường lối này, song đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển đồng đều các thành phần kinh tế và tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, việc tiếp tục thúc đẩy đổi mới toàn diện, đồng bộ, sâu sắc trong lĩnh vực kinh tế là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Chú thích:
1. Hội đồng Lý luận Trung ương (2020). 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 112.
2. Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2023. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2023/12/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2023/
3. Dự kiến năm 2025, kinh tế Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.https://laodong.vn/thoi-su/du-kien-nam-2025-kinh-te-viet-nam-vuot-qua-muc-thu-nhap-trung-binh-thap-1549945.ldo#top-article
4. GDP bình quân đầu người của Việt Nam qua các năm. https://topi.vn/gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-viet-nam-qua-cac-nam.html
5. Năm 2024, vốn FDI giải ngân cao kỷ lục. https://baochinhphu.vn/nam-2024-von-fdi-giai-ngan-cao-ky-luc-102250106101728669.htm
6. Vốn đầu tư FDI đổ vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. https://tapchicongthuong.vn/von-dau-tu-fdi-do-vao-viet-nam-tiep-tuc-tang-manh-170342.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Lê Văn Lợi (2024). Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 (194), tr. 5 – 13.
3. Nguyễn Xuân Thắng (2025). Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – sự đột phá sáng tạo về tư duy lý luận của Đảng. Tạp chí Cộng sản, số 984, tr. 23 – 28.