ThS. Nguyễn Mạnh Cường
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, yêu cầu bảo vệ Thủ đô đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ yếu tố quốc phòng, an ninh ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch và triển khai các dự án phát triển. Cơ chế, chính sách đồng bộ sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các ngành, các cấp và lực lượng vũ trang; đồng thời thúc đẩy các mô hình kinh tế lưỡng dụng, quy hoạch khu công nghiệp gắn với quốc phòng, an ninh bằng cách quản lý chặt đất đai, hạ tầng chiến lược. Đây không chỉ là nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững mà còn là yếu tố then chốt để Thủ đô chủ động ứng phó với các thách thức của an ninh truyền thống và phi truyền thống trong tương lai.
Từ khóa: Bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, cơ chế, chính sách, Hà Nội.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự biến đổi phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, việc phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là một yêu cầu khách quan, xuyên suốt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ hàng đầu của đất nước, địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả mối quan hệ này càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của thành phố và sự vững mạnh của Tổ quốc.
Để cụ thể hóa đường lối của Đảng, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của Hà Nội, đồng thời chủ động ứng phó với mọi thách thức, bảo vệ vững chắc Thủ đô và đất nước, việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách trong phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ quan trọng trong tình hình mới.
2. Yếu tố tác động đến chính sách phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại Hà Nội
Một là, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước là nguồn gốc của định hướng chính sách. Cụ thể, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960), để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam, Đảng đã đề ra chủ trương: “trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”1. Thời kỳ trước đổi mới (1976 – 1986), giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Đảng chỉ đạo và thực hiện trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Đại hội IV của Đảng chủ trương: “kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường nền quốc phòng toàn dân”2. Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, kế thừa và phát huy chủ trương, đường lối qua các kỳ Đại hội và quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc, Đảng xác định rõ yêu cầu “kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế”3.
Mọi chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hóa thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Điều này bao gồm việc quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo chỉ đạo và quản lý. Đặc biệt, Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp (có hiệu lực từ 01/7/2025) là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo động lực và định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế. Những chủ trương, đường lối của Đảng xuyên suốt chính là “kim chỉ nam”, là cơ sở pháp lý và cũng là yêu cầu trong mọi chủ trương phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội phải tính đến yếu tố an ninh, quốc phòng từ giai đoạn xây dựng quy hoạch phát triển đến xây dựng hạ tầng và bố trí sản xuất công nghiệp.
Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2045 là minh chứng pháp lý cho việc đưa quốc phòng, an ninh vào phát triển kinh tế, đô thị của Thủ đô: “Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối Thủ đô trong mọi tình huống.
Như vậy, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là một tổng thể thống nhất nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc quán triệt và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quan điểm, đường lối này sẽ tạo ra khả năng tốt hơn trong giảm thiểu nguy cơ, tranh thủ thời cơ để phát triển đất nước nhanh và bền vững, đặc biệt là đối với các địa bàn trọng yếu như Thủ đô Hà Nội. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hai là, yếu tố kinh tế – xã hội trong đó có quy mô, cơ cấu và áp lực đô thị hóa.
Hà Nội là trong hai trung tâm kinh tế lớn của đất nước, đóng góp tỷ trọng cao vào GDP quốc gia. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố năm 2023 ước tính tăng 6,27%4. Năm 2024, GRDP của thành phố ước tính tăng 6,52% so với năm 2023, quy mô gần 59 tỷ USD, lớn thứ 2 cả nước5. Hà Nội đã thu hút đầu tư FDI đáng kể (năm 2024 đạt khoảng 2,16 tỷ đô). Điều này phản ánh sức hút đầu tư va quy mô nền kinh tế của Thủ đô. Những con số này vừa cơ hội (yếu tố để tăng cường nguồn lực cho quốc phòng, an ninh Thủ đô), vùa là thách thức (áp lực dân số, hạ tầng và an ninh xã hội).
Với dân số đông, thu nhập bình quân đầu người cao (năm 2024, bình quân đầu người đạt 163,5 triệu đồng)6. Hà Nội là thị trường tiêu thụ lớn, đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ. Sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ và hiện đại (sân bay quốc tế Nội Bài, các tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt, cảng sông), Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng, kết nối Việt Nam với khu vực và thế giới, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và du lịch. Tuy nhiên, sự tăng nhanh dân số, mức độ đô thị hóa và tập trung hoạt động kinh tế cao đã tạo ra những nhu cầu lớn về nhà ở, giao thông, logistics và dịch vụ. Những yếu tố này đặt ra thách thức nếu quy hoạch đô thị mà không gắn với quốc phòng, an ninh sẽ dễ hình thành điểm yếu chiến lược (hạ tầng trọng yếu không có dự phòng, khu dân cư lấn chiếm vùng dự trữ an ninh…).
Các yếu tố đã nêu đòi hỏi thiết kế chính sách phát triển kinh tế phải tính tới chi phí an ninh công cộng (nguồn kinh phí cho phòng thủ dân sự, y tế khẩn cấp, dự trữ hậu cần) và khuyến khích các hoạt động đầu tư vào hạ tầng lưỡng dụng.
Ba là, yếu tố quốc phòng, an ninh.
Hà Nội vừa là trung tâm chính trị, vừa là đầu mối giao thông quan trọng và có ý nghĩa chiến lược đặc biệt trong phòng thủ Thủ đô, nơi đặt các cơ quan cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, quân đội và công an. Điều này khiến mọi quy hoạch hạ tầng đều phải tính đến yếu tố an ninh, quốc phòng. Do đó, việc bảo vệ an toàn tuyệt đối Thủ đô có ý nghĩa sống còn đối với sự ổn định chính trị và phát triển đất nước.
Mặt khác, Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, là đầu mối giao thông huyết mạch, có vai trò then chốt trong thế trận phòng thủ đất nước, đặc biệt là trong việc bảo vệ các tỉnh phía Bắc và kết nối với các vùng chiến lược khác. Do đó, Hà Nội là một trong những khu vực phòng thủ trọng yếu của đất nước, nơi xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang với toàn dân trong việc xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh.
Với tốc độ đô thị hóa nhanh, dân cư đông đúc từ nhiều vùng miền, Hà Nội tiềm ẩn các yếu tố phức tạp về an ninh trật tự, an ninh xã hội. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động thường lợi dụng các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, hoặc các sự kiện lớn để kích động, gây rối, biểu tình, phá hoại an ninh trật tự tại Thủ đô. Với sự phát triển kinh tế năng động và hội nhập quốc tế, Hà Nội cũng đối mặt với các thách thức về an ninh kinh tế, như: rửa tiền, buôn lậu, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh và các hoạt động phá hoại kinh tế từ bên ngoài.
Hà Nội có vị trí chiến lược là “đầu não” chính trị, điều này đòi hỏi mọi phương án phát triển phải bảo đảm an toàn cho trụ cột điều hành quốc gia. Đồng thời, các mối đe dọa bằng nhiều hình thức, từ an ninh mạng, an ninh thông tin, khủng bố, đến rủi ro an toàn sinh học đòi hỏi một chính sách bảo vệ toàn diện hơn thay vì chỉ dựa vào cơ chế truyền thống. Ví dụ: các hệ thống hạ tầng số, dữ liệu đô thị thông minh cần tiêu chuẩn an toàn cao để vừa phục vụ phát triển, vừa bảo vệ khỏi tấn công mạng. Do vậy, việc xây dựng chính sách với tiêu chuẩn an ninh hạ tầng số, phát triển năng lực phòng thủ phi truyền thống, củng cố hệ thống dự trữ y tế và năng lực phản ứng khẩn cấp là vô cùng cần thiết với an ninh Thủ đô.
Bốn là, yếu tố khoa học – công nghệ.
Công nghệ chính là “chất xúc tác” để đồng bộ mục tiêu kinh tế và quốc phòng, an ninh. Hà Nội là nơi triển khai nhiều dự án thành phố thông minh, hệ thống giám sát giao thông và an ninh đô thị bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Điều này vừa giúp nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế – xã hội, vừa hỗ trợ giám sát, ứng phó nhanh trong các tình huống an ninh. Việc thiết kế đồng bộ hệ thống camera giám sát, hệ thống quản lý giao thông thông minh, lập các trung tâm dữ liệu…. nâng cao khả năng quản trị rủi ro và phòng thủ an ninh, quốc phòng từ sớm, từ xa cho Thủ đô. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ đồng thời cũng đưa đến những thách thức không nhỏ trong bảo mật và an toàn an ninh mạng (tấn công mạng, lộ lọt dữ liệu…). Điều này đòi hỏi các dự án chuyển đổi số của Hà Nội cần đi kèm khung bảo mật và kế hoạch phòng thủ, tác chiến trên không gian mạng cũng như kế hoạch phục hồi hoạt động sau sự cố. Vì vậy, cần có những cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư an ninh mạng, tiêu chuẩn hóa thiết kế hạ tầng số và phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin song song với phát triển kinh tế số, xã hội số tại Thủ đô trong thời gian sớm nhất.
Năm là, yếu tố quy hoạch đô thị và môi trường.
Tại Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2045 đã lồng ghép yêu cầu về thế trận quốc phòng toàn dân, như: bố trí các khu công nghiệp, giao thông và vùng dự trữ quốc phòng hợp lý. Do vậy, quy hoạch không gian đô thị quyết định khả năng tổ chức bố trí vùng dự trữ, thao trường huấn luyện, cơ sở hậu cần và mạng lưới giao thông chiến lược nhằm bảo vệ Thủ đô và vùng Thủ đô được an toàn trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm suy giảm an ninh cơ sở hạ tầng và tác động trực tiếp đến an ninh lương thực, y tế đòi hỏi chính sách cần tập trung vào xây dựng hành lang xanh, tích hợp đánh giá rủi ro thiên tai, kết hợp quản lý đất đai với dự phòng an ninh, quốc phòng.
Sáu là, yếu tố nguồn lực con người.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để vận hành cả nền kinh tế lẫn hệ thống an ninh, quốc phòng ngày càng hiện đại, đáp ứng tình hình mới. Quan điểm của Đảng nêu rõ: “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”7. Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ của cả nước với hơn 100 trường đại học, học viện và hơn 80 viện nghiên cứu cấp quốc gia8 đóng trên địa bàn thành phố là điều kiện thuận lợi để hình thành các chương trình đào tạo liên ngành kết hợp phù hợp với yêu cầu vừa phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nhân lực trong độ tuổi lao động của thành phố chiếm 66,2% tổng dân số9, đây là lợi thế rất lớn trong đào tạo nhân lực chất lượng cho thành phố nhằm bảo đảm vận hành nền kinh tế tri thức và có đông đảo lực lượng tham gia trực tiếp vào các hoạt động bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội và an ninh phi truyền thống (an ninh mạng, an ninh năng lượng, y tế…).
Những yếu tố trên đặt ra yêu cầu đối với Hà Nội là phải luôn phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng các lực lượng vũ trang mà là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô để Hà Nội không ngừng phát triển, xứng đáng là trái tim của cả nước, là địa bàn chiến lược vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại thành phố Hà Nội
3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách gắn kết phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh
Thứ nhất, rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Hà Nội cần thực hiện rà soát và đánh giá toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật. Việc này cần được đối chiếu với các chủ trương, nghị quyết mới của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội XIII cũng như các nghị quyết và kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Thủ đô. Điều này bảo đảm cho mọi cơ chế, chính sách mới được thể chế hóa kịp thời và đầy đủ.
Đồng thời, cần kiểm tra sự tương thích giữa các văn bản pháp luật của trung ương (luật, nghị định, thông tư, quyết định) và các văn bản của thành phố liên quan đến các lĩnh vực trọng yếu, như: quy hoạch, đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh nhằm phát hiện và loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc gây cản trở sự phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thành phố cũng cần xác định những “điểm nghẽn” về thể chế và những quy định đã không còn phù hợp với tốc độ phát triển nhanh chóng của Thủ đô và yêu cầu mới của quốc phòng, an ninh.
Thứ hai, xây dựng và bổ sung quy định về quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lý đất đai.
Cần lồng ghép yếu tố quốc phòng, an ninh vào kế hoạch phát triển của Hà Nội. Các quy hoạch tổng thể thành phố, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch các ngành, lĩnh vực (giao thông, công nghiệp, đô thị, du lịch) phải tích hợp chặt chẽ các yêu cầu về quốc phòng, an ninh ngay từ khâu xây dựng, thẩm định và phê duyệt. Điều này bao gồm việc xác định các khu vực chiến lược, các công trình lưỡng dụng, hành lang an ninh và vùng đệm.
Đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án lớn, dự án FDI, dự án tại khu vực “nhạy cảm” cần có quy trình thẩm định kỹ lưỡng để đánh giá các yếu tố có thể tác động đến quốc phòng, an ninh. Cần thiết lập các tiêu chí, quy trình rõ ràng để bảo đảm các dự án không gây nguy hại cho khu vực quốc phòng, an ninh và vùng dự phòng cho quốc phòng, an ninh của Hà Nội.
Đồng thời, thành phố phải có quy định chặt chẽ về việc sử dụng đất tại các khu vực trọng yếu. Cần ban hành các quy định cụ thể để quản lý và sử dụng đất tại các khu vực có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh (như vùng ven đô, vành đai xanh, các tuyến giao thông huyết mạch và các khu vực có công trình quốc phòng, an ninh). Điều này nhằm bảo đảm không gian phát triển kinh tế không ảnh hưởng đến khả năng phòng thủ và tác chiến.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền và phối hợp.
Hà Nội cần tiếp tục rà soát, phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các sở, ban, ngành, giữa các cấp chính quyền với các lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn. Mục tiêu là tránh sự chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
Cần xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp cụ thể, chặt chẽ giữa các cơ quan kinh tế, quy hoạch, đầu tư với các cơ quan quốc phòng, an ninh. Cơ chế phối hợp này phải được thể hiện từ khâu xây dựng chính sách, thẩm định dự án cho đến tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát.
Thứ tư, xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư và phát triển kinh tế lưỡng dụng.
Thành phố cần xây dựng chính sách ưu đãi (thuế, đất đai, tín dụng, hỗ trợ nghiên cứu – phát triển) để thu hút các doanh nghiệp (trong và ngoài nước) đầu tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ có tính lưỡng dụng cao. Những ngành này vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa có khả năng chuyển đổi sang phục vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết (ví dụ: công nghệ thông tin, viễn thông, vật liệu mới, y tế, giao thông vận tải, công nghiệp chế tạo chính xác).
Bên cạnh đó, cần phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp gắn với quốc phòng, an ninh. Điều này có thể thực hiện bằng cách quy hoạch các khu mới hoặc điều chỉnh các khu hiện có để tích hợp các yếu tố quốc phòng, an ninh ngay từ đầu, bảo đảm khả năng chuyển đổi mục đích sản xuất, dự trữ vật tư hoặc phục vụ hậu cần quốc phòng, an ninh khi cần. Đặc biệt, cần chú trọng chính sách khuyến khích nghiên cứu và chuyển giao công nghệ quốc phòng, an ninh. Cần thúc đẩy liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn với các doanh nghiệp và đơn vị quốc phòng, an ninh để đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ mới.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Đa dạng hóa nguồn vốn cho quốc phòng, an ninh là rất quan trọng. Ngoài ngân sách nhà nước, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, đầu tư vào các dự án quốc phòng, an ninh hoặc các hoạt động có tính lưỡng dụng.
Thành phố cần xây dựng cơ chế để khai thác, bảo vệ hiệu quả tài sản và đất đai quốc phòng, an ninh. Cơ chế này cho phép khai thác hiệu quả các tài sản, đất đai thuộc quản lý của các đơn vị quốc phòng, an ninh không còn nhu cầu sử dụng trực tiếp hoặc có thể kết hợp sử dụng cho mục đích kinh tế, tạo nguồn thu tái đầu tư cho quốc phòng, an ninh nhưng phải bảo đảm nguyên tắc an ninh và bí mật quân sự. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tham gia chuỗi cung ứng, sản xuất các sản phẩm, linh kiện phục vụ công nghiệp quốc phòng, an ninh, tận dụng tiềm lực công nghiệp dân sự của Thủ đô.
Thứ sáu, xây dựng cơ chế, chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống.
Các chính sách của Hà Nội về ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai cần tích hợp các yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Điều này bảo đảm khả năng phòng thủ và ứng phó trong các tình huống khẩn cấp do thiên tai hoặc các mối đe dọa an ninh phi truyền thống gây ra. Ngoài ra, cần xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể để bảo vệ an ninh mạng, an ninh thông tin trong các hoạt động kinh tế, đặc biệt là kinh tế số. Đồng thời, cần có các biện pháp để phòng ngừa và đấu tranh với các hoạt động phá hoại kinh tế, lợi dụng kinh tế để chống phá quốc phòng, an ninh.
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi và giám sát cơ chế, chính sách
Một là, nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị nói chung và cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, việc tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn định kỳ cho đội ngũ cán bộ các cấp về kiến thức quốc phòng, an ninh, kinh tế, pháp luật, kỹ năng quản lý, điều hành, đặc biệt là khả năng nhận diện và xử lý các vấn đề phức tạp liên quan đến kết hợp kinh tế – quốc phòng, an ninh là rất cần thiết. Đồng thời, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, trong đó, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các sở, ban, ngành trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, thiếu trách nhiệm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cần được chú trọng thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số tại Hà Nội để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, minh bạch hóa quy trình, giảm thiểu tiêu cực, tạo thuận lợi cho việc thực thi chính sách.
Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá.
Việc kiểm tra, giám sát thường xuyên, định kỳ và đột xuất của các cơ quan chức năng (thanh tra, kiểm tra đảng, Hội đồng nhân dân các cấp) cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các cơ chế, chính sách về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm, tiêu cực. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với việc xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách. Mặt khác, xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả cụ thể, định lượng được hiệu quả của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Hà Nội, từ cấp thành phố đến cơ sở, trong từng ngành, lĩnh vực và từng dự án. Kết quả đánh giá phải được công khai, minh bạch.
Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về tầm quan trọng của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về tầm quan trọng của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân Thủ đô. Giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng và bảo vệ Thủ đô. Từ đó, chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ trương này, tạo cơ sở củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
4. Kết luận
Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là một giải pháp then chốt, mang tính quyết định đối với sự phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự quyết tâm cao của các cấp lãnh đạo và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân. Bằng việc xây dựng và thực thi một hệ thống cơ chế, chính sách chặt chẽ, khoa học, linh hoạt và phù hợp với đặc thù của Thủ đô. Hà Nội sẽ không ngừng nâng cao tiềm lực tổng hợp, vững vàng tiến bước, trở thành một Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”, xứng đáng là trái tim của cả nước, là địa bàn chiến lược vững chắc trong thế trận quốc phòng, an ninh của Tổ quốc.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 21. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 535.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 37. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 1002.
3, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 5, 134.
4. Cục Thống kê TP. Hà Nội họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Thành phố năm 2023. https://consosukien.vn/hop-bao-cong-bo-so-lieu-thong-ke-kinh-te-xa-hoi-tp-ha-noi-nam-2023.htm
5, 6. Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội thành phố Hà Nội năm 2024. https://consosukien.vn/hop-bao-cong-bo-so-lieu-thong-ke-kinh-te-xa-hoi-thanh-pho-ha-noi-nam-2024.htm
8. Tổng cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2024.
9. Tổng Cục Thống kê (2024). Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 01/4/2024. H. NXB Thống kê, tr. 121.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủn ghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Quốc hội (2024). Luật Thủ đô năm 2024.
4. Quốc hội (2024). Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp năm 2024.