ThS. Lê Đức Quang
Trường Đại học Thành Đông
(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hướng tới mục tiêu tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ với đổi mới công tác cán bộ. Bài viết tập trung phân tích những cơ sở lý luận về công tác cán bộ trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đáp ứng tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trên các mặt: (1) Chuyên nghiệp, công khai, minh bạch; (2) Trọng dụng người tài theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; (3) Phát triển đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính; (4) Ứng dụng công nghệ số trong quản lý cán bộ. Từ đó, đưa ra những giải pháp mang tính định hướng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Từ khóa: Công tác cán bộ; đổi mới hệ thống chính trị; tinh gọn bộ máy; hiệu lực; hiệu quả.
1. Đặt vấn đề
Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc gắn với đặc trưng về chuyển đổi số, toàn cầu hóa sâu rộng, biến đổi địa chính trị và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tái cấu trúc toàn diện hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, thích ứng với những biến động nhanh và phức tạp của thế giới. Đứng trước bối cảnh này, đội ngũ cán bộ giữ vai trò trung tâm trong tổ chức thực hiện đường lối, chính sách và là mắt xích trực tiếp kết nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Công tác cán bộ vì thế trở thành một công cụ chiến lược để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền hành chính phục vụ, đồng thời bảo đảm sự vận hành tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công tác cán bộ hiện nay vẫn còn những bất cập: quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm còn hình thức; cơ chế đánh giá chưa gắn với kết quả đầu ra, ứng dụng công nghệ số còn hạn chế; đạo đức công vụ trong một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã xác định rõ mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động. Để thích ứng với bối cảnh mới và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045, cần đặt lại vấn đề công tác cán bộ trên cơ sở lý luận vững chắc và phù hợp với đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam.
2. Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam và yêu cầu đối với công tác cán bộ
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các thiết chế và chủ thể chính trị như Đảng chính trị, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, có chức năng tổ chức và quản lý xã hội, bảo đảm sự vận hành ổn định và phát triển của quốc gia. Tại Việt Nam, hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, với bộ máy nhà nước đóng vai trò trung tâm trong tổ chức và thực hiện quyền lực công. Trong hệ thống đó, đội ngũ cán bộ giữ vị trí then chốt, là “mắt xích” kết nối giữa đường lối, chính sách của Đảng và hoạt động thực tiễn của Nhà nước và xã hội.
Trong bối cảnh kỷ nguyên mới của dân tộc, đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng với biến động của môi trường trong nước và quốc tế. Từ đó, những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ cũng được đặt ra theo một số phương diện sau:
(1) Cán bộ phải có năng lực quản trị hiện đại, tư duy phản biện và khả năng ra quyết định dựa trên bằng chứng. Đây là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh nhà nước pháp quyền, nền kinh tế số và xã hội tri thức đang phát triển nhanh chóng.
(2) Cán bộ phải có tinh thần phục vụ nhân dân, đặt lợi ích công lên trên lợi ích cá nhân, tuân thủ đạo đức công vụ và pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong yêu cầu chuyển từ mô hình “cai trị” sang mô hình “phục vụ” trong hành chính công hiện đại.
(3) Cán bộ phải có khả năng thích ứng với sự thay đổi, đặc biệt là chuyển đổi số, cải cách thể chế và toàn cầu hóa. Khả năng học hỏi suốt đời, đổi mới sáng tạo và làm việc trong môi trường đa ngành trở thành tiêu chuẩn mới đối với cán bộ trong hệ thống chính trị đương đại.
(4) Đội ngũ cán bộ cần được xây dựng theo hướng chuyên nghiệp hóa, có cơ cấu hợp lý, cân đối về độ tuổi, giới tính, vùng miền và lĩnh vực công tác. Điều này không chỉ nhằm bảo đảm hiệu quả tổ chức bộ máy mà còn góp phần duy trì sự ổn định và tính đại diện trong hệ thống chính trị.
Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tại Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), Đảng đã xác định rõ yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ các cấp “có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”1. Những yêu cầu đó không chỉ mang tính chiến lược mà còn có ý nghĩa chỉ đạo trực tiếp đối với việc thiết kế và thực thi chính sách cán bộ trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị.
Mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống chính trị với công tác cán bộ, bao gồm:
Một là, cán bộ là nhân tố trung tâm của tổ chức. Một tổ chức dù được thiết kế tinh gọn đến đâu cũng không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực và phẩm chất. Ngược lại, cán bộ chỉ phát huy được vai trò khi được đặt trong một cơ cấu tổ chức hợp lý, tránh chồng chéo hoặc lãng phí nguồn lực. (1) Cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, là người đưa ra các quyết định chiến lược về sáp nhập, tinh giản hay tái cơ cấu tổ chức. (2) Cán bộ là người trực tiếp triển khai các chính sách tinh gọn bộ máy, từ việc sắp xếp lại nhân sự, phân định chức năng đến giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển đổi. Nếu cán bộ thiếu năng lực hoặc không đồng thuận, quá trình đổi mới có thể bị đình trệ. (3) Một bộ máy cồng kềnh, chồng chéo sẽ làm giảm hiệu quả làm việc của cán bộ, dẫn đến tình trạng “việc ít, người nhiều” hoặc “việc nhiều, người không đủ năng lực”.
Hai là, tính hệ thống của đổi mới chính trị, tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước. Đổi mới hệ thống chính trị là một quá trình toàn diện, trong đó tổ chức bộ máy là “phần cứng” (cơ cấu, chức năng) và công tác cán bộ là “phần mềm” (con người vận hành). Sự đồng bộ giữa hai yếu tố này quyết định hiệu lực và hiệu quả của hệ thống. (1) Tối ưu hóa bố trí cán bộ (một bộ máy tinh gọn giúp xác định rõ các vị trí cần thiết, từ đó bố trí cán bộ đúng người, đúng việc). (2) Giảm áp lực nhân sự (việc sáp nhập các cơ quan có chức năng tương đồng giúp giảm số lượng cán bộ dư thừa, tạo cơ hội tập trung nguồn lực vào đào tạo và sử dụng nhân tài). (3) Thúc đẩy đổi mới tư duy cán bộ (một tổ chức hiện đại, tinh gọn đòi hỏi cán bộ phải thay đổi cách làm việc, từ quản lý hành chính sang quản lý chiến lược, từ thủ công sang ứng dụng công nghệ).
Như vậy, công tác cán bộ và đổi mới chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước đều hướng tới xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, tránh lãng phí, tăng tính chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Mối quan hệ giữa công tác cán bộ và đổi mới tổ chức bộ máy là một mối quan hệ hai chiều, trong đó cán bộ vừa là chủ thể thực hiện, vừa là đối tượng chịu tác động của quá trình cải cách. Sự gắn kết chặt chẽ giữa hai yếu tố này không chỉ bảo đảm hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.
3. Thực hiện công tác cán bộ trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị và sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Thứ nhất, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
(1) Tinh giản biên chế: Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm tinh giản bộ máy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống hành chính. Nghị định 154/2025/NĐ-CP (ban hành 15/6/2025, hiệu lực 16/6/2025) thay thế Nghị định 29/2023, quy định đối tượng, nguyên tắc và chính sách tinh giản biên chế; áp dụng cho cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể đến cấp xã. Nghị định cũng phân cấp cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc xác định đối tượng tinh giản, và yêu cầu thu hồi nếu thực hiện sai quy định2. Kết quả sau 1 tháng triển khai thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức nhà nước (từ ngày 01/7/2025 – 31/7/2025), cả nước đã sắp xếp, tinh gọn gần 90.000 cán bộ, công chức, viên chức (bao gồm tinh giản, sắp xếp lại, bố trí lại tổ chức)3.
Việc tinh gọn này được kỳ vọng tiết kiệm ngân sách đáng kể, trong khi vẫn bảo đảm đủ nhân lực hoạt động ở cơ sở, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tổ chức bộ máy. Ước tính giai đoạn 2026 – 2030, ngân sách sẽ tiết kiệm khoảng 190.500 tỷ đồng nhờ giảm biên chế và chi hành chính, thực hiện chế độ thôi việc, nghỉ hưu sớm, ngân sách chi khoảng 128.480 tỷ đồng trong giai đoạn 2025 – 20304. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức bị tinh giản vẫn còn nhiều bất cập. Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ đối với những cán bộ, công chức bị tinh giản như đào tạo lại, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc các chế độ bồi thường thỏa đáng còn triển khai thiếu đồng bộ và chưa hiệu quả, gây khó khăn cho công chức trong việc ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm mới. Tại phiên họp Chính phủ ngày 01/10/2025, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết vẫn còn 36.542 cán bộ nghỉ hưu sớm chưa được chi trả chế độ5.
(2) Sáp nhập tổ chức: trong giai đoạn 2022 – 2026, Bộ Nội vụ đã triển khai các giải pháp quan trọng nhằm tinh giản bộ máy hành chính và cải cách biên chế, với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Sau sắp xếp bộ máy từ ngày 01/07/2025, tổ chức bộ máy khối Chính phủ giảm 5 bộ, cơ quan ngang bộ (giảm 22,7%); giảm 3 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 37,5%); giảm 30/30 tổng cục, 1.025 vụ, cục, 4.413 chi cục và tương đương; giảm 205 đơn vị sự nghiệp công lập6. Việc sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp: cả nước giảm từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (giảm 29 tỉnh, tương ứng 46%); giảm 6.714 đơn vị hành chính cấp xã (từ 10.035 xuống còn 3.321, giảm 66,91%); kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện7.
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, sau 3 tháng sáp nhập, số lượng biên chế cấp tỉnh giảm khoảng 18.400 người, cấp xã giảm 110.700 người và 120.500 cán bộ không chuyên trách, toàn hệ thống còn gần 91.800 cán bộ cấp tỉnh và 199.000 biên chế cấp xã8. Tổng số công chức, viên chức của bộ, ngành, địa phương tinh giản theo các nghị định của Chính phủ đến hết tháng 10/2024 là 16.149 người, trong đó bộ, ngành giảm 217 người, địa phương giảm 15.932 người. Các bộ, ngành, địa phương “cơ bản sử dụng đúng biên chế được giao, không vượt quá số lượng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”9.
Thứ hai, đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Thực tiễn công tác cán bộ trong đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tập trung đột phá ở những khâu, những việc làm mới, khó khăn, phức tạp, trọng yếu… Đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới công tác tổ chức, chính sách, khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, sự bất hợp lý trong tổ chức bộ máy; đẩy mạnh tinh giản biên chế, tổ chức bộ máy gắn với các mặt, như:
(1) Đổi mới cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, công khai và minh bạch. Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp phải làm việc dựa trên chuẩn mực nghề nghiệp, có đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm và được đánh giá định kỳ theo hiệu quả công việc. Ở Việt Nam, những cải cách gần đây như công khai hóa hồ sơ quy hoạch cán bộ, đổi mới quy trình tuyển chọn qua thi tuyển cạnh tranh, và áp dụng công nghệ thông tin trong đánh giá cán bộ bước đầu thể hiện quyết tâm hiện thực hóa lý tưởng chuyên nghiệp – minh bạch. Tuy nhiên, chuẩn mực của một nền hành chính hiện đại, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn hóa cán bộ, chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ và thiết lập cơ chế giám sát độc lập và thường xuyên.
(2) Trọng dụng người tài, cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong tuyển chọn và sử dụng cán bộ chính là phương thức hữu hiệu để bảo đảm nguyên tắc “chọn đúng người, đúng việc, đúng thời điểm”. Mô hình thi tuyển cạnh tranh vào vị trí lãnh đạo, vốn phổ biến ở nhiều nước phát triển, đang từng bước được áp dụng tại Việt Nam trong những năm gần đây, cho phép loại bỏ dần tình trạng “cả nể, nể nang, chạy chọt” vốn tồn tại trong công tác cán bộ truyền thống.
Trong môi trường công vụ hiện đại, người tài không chỉ được đánh giá qua bằng cấp hay hồ sơ cá nhân, mà phải qua năng lực thực tiễn, kết quả đầu ra của công việc, khả năng tạo đổi mới và đóng góp cho tổ chức. Việc thực hiện các nguyên tắc trọng dụng người tài cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đã được nêu rõ trong Kết luận số 14-KL/TW ngày22/9/2021 của Bộ Chính trị.
(3) Đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính. Việt Nam, nhiều văn kiện Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu “tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy chức, chạy quyền” theo chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) ngày 21/05/2018, gồm: (1) Có cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ hiệu quả (như kiểm tra tài sản, thu nhập; giám sát đạo đức công vụ); (2) Tăng cường giám sát xã hội, đặc biệt từ người dân và báo chí; (3) Tạo dựng môi trường hành chính minh bạch và công bằng, đạo đức không chỉ là yêu cầu mà còn là một năng lực cốt lõi của cán bộ.
(4) Ứng dụng công nghệ số trong quản lý cán bộ. Việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý cán bộ trở thành yêu cầu tất yếu. Việt Nam hiện đang xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức theo chỉ đạo tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ và các chiến lược chuyển đổi số quốc gia cần hướng tới: (1) Tích hợp các hệ thống thông tin cán bộ từ trung ương đến địa phương; (2) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) vào đánh giá cán bộ theo năng lực và hiệu quả; (3) Tăng cường minh bạch hóa thông tin cán bộ, nhất là trong công tác bổ nhiệm và quy hoạch.
Thứ ba, một số hạn chế công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy nhà nước trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị.
(1) Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh. Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trịvẫn chưa thực sự quyết liệt, đồng bộ và tổng thể. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn nhiều tầng nấc, đầu mối; phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vẫn còn trùng lắp, chồng chéo; phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; việc sắp xếp chưa thực sự gắn với xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Hạn chế, bất cập đó đã kìm hãm sự phát triển, giảm tính chủ động, sáng tạo, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của đất nước.
(2) Chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ. Tinh gọn bộ máy đồng nghĩa với việc cắt giảm biên chế và sắp xếp lại đội ngũ nhân sự. Đây là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp, tác động đến công việc, tâm lý và quyền lợi của cán bộ, công chức. Các chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức bị tinh giản còn nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho việc ổn định cuộc sống và tìm kiếm việc làm mới. Nếu không có cơ chế, chính sách hợp lý, giải quyết thỏa đáng, việc tinh gọn nhân sự có thể dẫn đến tình trạng bất mãn, mất niềm tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, gây khó khăn lớn trong quá trình thực hiện cuộc cải cách toàn diện bộ máy của hệ thống chính trị.
(3) Tâm lý e ngại trong đội ngũ cán bộ. Quá trình tinh gọn bộ máy có thể dẫn đến tâm lý lo ngại, thiếu động lực làm việc, chọn phương án “an toàn” hoặc có biểu hiện ngầm chống đối trong một số cán bộ, công chức. Tâm lý e ngại thay đổi, tư duy “an phận”, sợ khó, tìm cách vụ lợi, né tránh trách nhiệm, thiếu tinh thần đổi mới, sáng tạo vẫn còn là một hiện tượng phổ biến, đặc biệt trong các cơ quan bộ máy vốn có tính ổn định cao. Sự thay đổi đồng nghĩa với việc phá bỏ những “lối mòn”, đòi hỏi sự thích ứng với môi trường làm việc mới, áp lực công việc lớn hơn và yêu cầu về năng lực cao hơn.
Như vậy, tinh gọn bộ máy không chỉ đòi hỏi phải thay đổi về cơ cấu tổ chức, mà còn là cuộc cách mạng về tư duy, nhận thức quản lý, từ chỗ coi trọng số lượng sang tập trung vào chất lượng và hiệu quả công việc. Do đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy cho cán bộ, công chức, đồng thời kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, cản trở quá trình tinh gọn bộ máy.
4. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý về tinh giản, sắp xếp bộ máy.
Đánh giá tổng thể chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm loại bỏ tình trạng chồng chéo, trùng lặp và phân bổ lại nhiệm vụ một cách khoa học. Cần xác định rõ chức năng của từng cấp, từng ngành, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng đảm nhiệm một nhiệm vụ hoặc bỏ sót nhiệm vụ quan trọng. Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đối với các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng bởi quá trình tinh gọn, bao gồm các chính sách tái đào tạo, chuyển đổi vị trí việc làm và bảo đảm quyền lợi chính đáng của cán bộ, công chức. Việc cải cách thể chế cần được thực hiện một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành để tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.
Xây dựng bộ tiêu chuẩn cán bộ theo hướng cụ thể hóa các giá trị chuyên nghiệp, liêm chính, đổi mới sáng tạo và tinh thần phục vụ. Trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị theo hướng hiện đại, minh bạch và phục vụ, bộ tiêu chuẩn cán bộ cần được thiết kế lại theo hướng cụ thể hóa những giá trị nền tảng gắn với mô hình hành chính công mới. Đó là: tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ; liêm chính trong đạo đức và hành vi công vụ; đổi mới sáng tạo trong tư duy và hành động và tinh thần phục vụ trong thái độ và trách nhiệm đối với người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy,nhất là thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.
Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Bảo đảm công tác cán bộ đúng quy trình, quy định, công tâm, khách quan, thận trọng, chặt chẽ. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ thực chất. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Hoàn thành rà soát, sắp xếp chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý; xây dựng, ban hành bảng lương chức vụ bảo đảm đồng bộ, thống nhất với danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
Ba là, đẩy mạnh cải cách công tác tuyển chọn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh.
Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu về công khai, minh bạch và năng lực thực tiễn ngày càng được đề cao, việc cải cách các khâu này cần chuyển mạnh từ tiếp cận hành chính – mệnh lệnh sang tiếp cận dựa trên năng lực, kết quả đầu ra và cạnh tranh lành mạnh. Cần từng bước thể chế hóa cơ chế thi tuyển cạnh tranh vào các vị trí lãnh đạo, quản lý thay cho bổ nhiệm theo cảm tính hoặc quy trình khép kín. Hình thức thi tuyển không chỉ giúp đánh giá chính xác hơn về trình độ, tư duy và năng lực thực tiễn của ứng viên, mà còn tạo môi trường cạnh tranh công bằng, khích lệ đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng đầu vào đội ngũ cán bộ. Đặc biệt, các vị trí có tính chất chuyên môn sâu hoặc yêu cầu đổi mới quản trị.
Bốn là, ứng dụng công nghệ số toàn diện trong quản lý cán bộ nhằm minh bạch hóa và hiện đại hóa công tác cán bộ.
Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc đối với công tác cán bộ nếu muốn đạt được các mục tiêu hiện đại hóa hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý và tạo lập niềm tin công. Đối với Việt Nam, cần sớm hoàn thiện và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm liên thông từ trung ương đến địa phương, tích hợp các thông tin về hồ sơ, năng lực, đánh giá, kỷ luật và kết quả thực thi công vụ. Trên nền tảng đó, có thể phát triển các hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch, đào tạo và luân chuyển cán bộ một cách khách quan, hạn chế sự can thiệp cảm tính hoặc tư lợi.
Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền.
Nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy cho cán bộ, công chức về mục tiêu, ý nghĩa của việc tinh gọn bộ máy, tạo sự đồng thuận và ủng hộ trong quá trình triển khai. Việc minh bạch thông tin, công khai kết quả thực hiện tinh gọn là yếu tố quan trọng giúp tạo niềm tin cho người dân và cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế tiếp nhận và giải quyết kịp thời những phản hồi, ý kiến đóng góp của người dân, đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các cán bộ, công chức bị ảnh hưởng trong quá trình tinh gọn. Sự đồng thuận từ xã hội, hệ thống chính trị sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để quá trình tinh gọn bộ máy diễn ra thuận lợi, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
5. Kết luận
Đổi mới công tác cán bộ không chỉ là điều kiện tiên quyết mà còn là động lực để sắp xếp, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam trở nên tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới các mục tiêu phát triển dài hạn, việc xây dựng một đội ngũ cán bộ chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ với cải cách tổ chức là nhiệm vụ cấp bách. Thành công của quá trình này đòi hỏi sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Việc tinh giản bộ máy và công tác cán bộ đang được triển khai một cách quyết liệt trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu bộ máy “tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả”, cần sự đồng bộ trong hoàn thiện chính sách, bảo đảm quyền lợi người lao động và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng (2021). Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 96.
2. Chính Phủ (2025). Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/06/2025 quy định về tinh giản biên chế.
3, 4, 5. Chính phủ yêu cầu tinh gọn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, cho nghỉ người không đáp ứng nhiệm vụ. https://doanhnghiepkinhtexanh.vn/chinh-phu-yeu-cau-tinh-gon-doi-ngu-can-bo-cong-chuc-cap-xa-cho-nghi-nguoi-khong-dap-ung-nhiem-vu, ngày 08/10/2025.
6, 7, 8. Cả nước sắp xếp, tinh giản gần 90.000 cán bộ, công chức, viên chức. https://vietnamnet.vn/ca-nuoc-sap-xep-tinh-gian-gan-90-000-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-, ngày 08/8/2025.
9. 100.000 người bị ảnh hưởng khi tinh gọn bộ máy. https://vnexpress.net/100-000-nguoi-bi-anh-huong-khi-tinh-gon-bo-may, ngày 21/12/2024.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2017). Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
3. Chính phủ (2019). Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về phát triển Chính phủ điện tử đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.



