Phân loại các hình thức triển khai của đối ngoại công chúng: bản chất, mối quan hệ và đề xuất cho Việt Nam

TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Với vai trò là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại toàn diện, hiện đại, đối ngoại công chúng ngày càng khẳng định vị thế chiến lược trong việc nâng cao sức mạnh mềm, quảng bá hình ảnh và bảo vệ lợi ích quốc gia. Bài viết tập trung phân tích bốn phương thức triển khai cốt lõi của đối ngoại công chúng, từ đó, luận giải những mâu thuẫn nội tại về bản chất, mục tiêu và cơ sở tín nhiệm giữa các trụ cột này; đồng thời, rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc xây dựng một cấu trúc thể chế thực thi đối ngoại công chúng hiệu quả.

Từ khóa: Đối ngoại công chúng, phương thức triển khai, mô hình hoạt động.

1. Đặt vấn đề

Trong các nghiên cứu về đối ngoại ở Việt Nam thường tiếp cận dưới góc độ chủ thể thực hiện (còn gọi là kênh đối ngoại), gồm: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân hoặc lĩnh vực hoạt động (ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa). Đối ngoại công chúng là một khái niệm tổng hợp, đa lĩnh vực. Về bản chất, “Đối ngoại công chúng là cách thức một quốc gia, tổ chức hay cá nhân giao tiếp và tương tác với nhân dân, công chúng và các chủ thể phi nhà nước của các nước khác với mục đích là nhằm hình thành nhận thức về giá trị, tư tưởng, văn hóa, thể chế, mục tiêu phát triển và các chính sách hiện thời của quốc gia đó trong các đối tượng này, từ đó tạo ra ảnh hưởng đến những quyết định chính trị của họ. Đối ngoại công chúng, với tư cách là một bộ phận cấu thành của chính sách đối ngoại, mang tính chủ động, tích cực cao và có tầm chiến lược dài hạn”1.

Một trong những khái niệm cần phân biệt với đối ngoại công chúng là “ngoại giao công chúng”. Đây là thuật ngữ thường dùng để chỉ “hoạt động ngoại giao của một chính phủ hướng tới công chúng nước ngoài để làm cho họ hiểu được tư tưởng và quan điểm, thể chế và văn hoá cũng như các mục tiêu quốc gia và các chính sách hiện hành của mình”. Cũng có thể hiểu, đối ngoại công chúng “bao gồm các hoạt động không những của chính phủ mà còn của các tổ chức khác, phi chính phủ, thậm chí là hoạt động do các cá nhân tiến hành. Việc triển khai đối ngoại công chúng không thể chỉ dừng lại ở các hoạt động riêng lẻ mà đòi hỏi một tư duy chiến lược, một cấu trúc thể chế khoa học và đồng bộ”2.

Ngoại giao công chúng có 4 phương thức chính có liên hệ mật thiết với nhau: (1) Quản lý thông tin; (2) Truyền thông chiến lược; (3) Hoạt động hợp tác, trao đổi, giao lưu trực tiếp; (4) Xây dựng lòng tin, kết nối và mở rộng mạng lưới quan hệ với các cá nhân có ảnh hưởng”3.

Từ các khái niệm nêu trên, theo tác giả, đối ngoại công chúng dựa trên phương thức triển khai có thể chia thành các hình thức như sau:

(1) Quản lý thông tin: là hoạt động tập trung vào việc thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin về ý kiến công chúng, nhằm hiểu rõ cảm nhận của dư luận quốc tế đối với các vấn đề trong nước và quốc tế.

(2) Vận động chính sách: gồm các chiến dịch, hoạt động, sự kiện hay dự án nhằm củng cố thông điệp về đường lối, chính sách phát triển và quan điểm của một quốc gia với các vấn đề trong nước cũng như quốc tế.

(3) Ngoại giao văn hóa: các chiến lược và phương thức triển khai đối ngoại công chúng, trong đó sử dụng văn hóa như một công cụ để xây dựng mối quan hệ và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia.

(4) Ngoại giao trao đổi: là các chiến lược và cách thức triển khai nhằm tạo ra các kênh giao tiếp và hợp tác thông qua các chương trình trao đổi, hội thảo và các hoạt động giao lưu, và rộng hơn là xây dựng lòng tin, kết nối và mở rộng mạng lưới quan hệ với các cá nhân có tầm ảnh hưởng.

Thông qua việc làm rõ những xung đột và mối tương quan giữa các hình thức này, bài viết hướng đến việc trả lời câu hỏi: Việt Nam cần một cấu trúc thể chế các cơ quan đối ngoại công chúng như thế nào để vừa phát huy được sức mạnh tổng hợp, vừa tránh được những xung đột giữa các phương thức triển khai; từ đó, vận dụng và phát huy hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

2. Các hình thức triển khai hoạt động đối ngoại công chúng

2.1. Quản lý thông tin

Đối ngoại công chúng thường được hình dung như một hoạt động hướng ngoại, một nỗ lực của quốc gia nhằm “nói” với thế giới về bản thân mình thông qua các kênh văn hóa, giáo dục và truyền thông. Tuy nhiên, việc tập trung quá mức vào hành động “nói” đã vô tình làm lu mờ đi một trụ cột nền tảng, một hoạt động có trước và mang tính chiến lược hơn tất cả là “lắng nghe”. Hoạt động lắng nghe có hệ thống, hay có thể được khái niệm hóa thành “Quản lý thông tin”, chính là nỗ lực quản lý môi trường quốc tế bằng cách thu thập, phân tích và tổng hợp dữ liệu về dư luận quốc tế vào chính quá trình hoạch định chính sách.

Tuy được thừa nhận rộng rãi về mặt lý thuyết, hoạt động quản lý thông tin, phân tích dư luận lại thường bị xem nhẹ trong thực tiễn và trở thành trụ cột chiến lược dễ bị lãng quên của đối ngoại công chúng. Đối ngoại công chúng khi tham gia vào quá trình triển khai của chính sách. Đây là vai trò lý tưởng của việc phân tích thông tin trong đối ngoại công chúng, khi một chính sách được hình thành, các nhà hoạch định chính sách có thể thăm dò phản ứng quốc tế và sáng suốt hơn trong quá trình ra quyết định.

Đối ngoại công chúng cũng dự báo trước được chính sách có thể được đón nhận như thế nào, đâu là những điểm nhạy cảm, đâu là những nhóm công chúng sẽ ủng hộ hoặc phản đối. Để tránh những sai lầm chiến lược, ngăn chặn việc đưa ra những chính sách hoặc thông điệp có thể gây xúc phạm văn hóa hoặc đi ngược lại những giá trị sâu sắc của công chúng mục tiêu do thiếu hiểu biết.

Việc điều chỉnh chính sách bằng cách đưa ra các khía cạnh của chính sách một cách khéo léo để nó trở nên dễ chấp nhận hơn hoặc giảm thiểu các tác động tiêu cực không mong muốn. Đồng thời, xây dựng chiến lược truyền thông chủ động qua việc thiết kế các thông điệp và kênh truyền thông phù hợp nhất để giải thích cho chính sách, thay vì phải bị động đối phó với những diễn giải sai lệch.

Như vậy, quản lý thông tin dư luận giúp chính sách đối ngoại trở nên hiệu quả hơn, nhạy bén hơn và có khả năng thành công cao hơn. Đó không phải là việc bị động đưa ra chính sách do phản ứng của công chúng mà là xác định những điểm mà dư luận nước ngoài và bộ phận chính sách của quốc gia có điểm khác biệt và nỗ lực thu hẹp khoảng cách hoặc giải thích sự khác biệt đó4.

2.2. Vận động chính sách

Vận động chính sách là phương thức triển khai quan trọng của đối ngoại công chúng. Đây được xem là hoạt động của một quốc gia nhằm quản lý môi trường quốc tế thông qua các hoạt động truyền thông có chủ đích, nhằm quảng bá một chính sách, một ý tưởng cụ thể, hoặc các lợi ích quốc gia cho công chúng nước ngoài. Trong lịch sử, đây là hình thái nguyên thủy và trực diện nhất của đối ngoại công chúng, nơi sức mạnh của lời nói được sử dụng để định hình hành vi của các chủ thể khác. Tuy nhiên, trong bối cảnh thông tin toàn cầu bị phân tán, chia rẽ, mô hình vận động chính sách truyền thống, vốn lấy nhà nước làm trung tâm, đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng về tính hiệu quả và sự tín nhiệm.

Chiến lược vận động chính sách kiểu mới không còn đặt nhà nước vào trung tâm mà đặt ý tưởng vào trung tâm, bao gồm ba trụ cột chính: (1) Tạo ra các “meme” có sức lan tỏa; (2) Lựa chọn người đưa tin đáng tin cậy; (3) Xây dựng một hệ sinh thái thông tin thuận lợi. Thuật ngữ “meme”, do nhà sinh vật học Richard Dawkins đặt ra, chỉ một đơn vị thông tin văn hóa (một ý tưởng, hành vi, hoặc phong cách) có khả năng tự sao chép và lan truyền từ người này sang người khác5. Trong đối ngoại công chúng, chiến lược vận động chính sách dựa trên “meme” là việc định hình một ý tưởng hoặc một lập luận để trở nên hấp dẫn, đơn giản, dễ nhớ hơn và sự lan truyền thông qua các mạng lưới (chủ yếu là mạng xã hội).

Phương thức mới của vận động chính sách đòi hỏi mỗi chủ thể thực thi hoạt động đối ngoại công chúng phải là những “người làm vườn”, vun trồng một hệ sinh thái thông tin toàn cầu cởi mở và lành mạnh, nơi những ý tưởng tốt đẹp có thể bén rễ và lan tỏa. Đây là một sự chuyển dịch từ quyền lực áp đặt sang quyền lực hấp dẫn, từ độc thoại sang đối thoại và đó chính là bản chất của nghệ thuật vận động chính sách trong thế kỷ XXI.

2.3. Ngoại giao văn hóa

Ngoại giao văn hóa là một lĩnh vực quan trọng trong ngoại giao nhà nước, trong đó nhà nước hay chính phủ mỗi quốc gia tác động tới môi trường quốc tế thông qua việc quảng bá các nguồn lực và thành tựu văn hóa ra nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho sự truyền tải văn hóa xuyên biên giới. Đây là nghệ thuật “chiến thắng trái tim và khối óc” không phải bằng vũ lực hay tiền bạc mà bằng sức hấp dẫn của ngôn ngữ, nghệ thuật, tư tưởng và các giá trị. Tuy nhiên, trong một thế giới siêu kết nối, mô hình ngoại giao văn hóa truyền thống vốn tập trung vào việc “xuất khẩu” các sản phẩm văn hóa tinh hoa do nhà nước bảo trợ đang dần bộc lộ những giới hạn do tính tiếp cận đại chúng đôi khi không thực sự gần gũi.

Do đó, ngoại giao văn hóa hiện nay đang chuyển từ việc chỉ đơn thuần trình diễn văn hóa sang việc tạo điều kiện cho các kết nối văn hóa. Chiến lược này cho thấy, sức mạnh lan tỏa văn hóa đích thực trong thế kỷ XXI không nằm ở các buổi triển lãm hay hòa nhạc được dàn dựng công phu mà nằm ở mạng lưới những cộng đồng người nhập cư, những blogger nổi tiếng có thời gian trải nghiệm ở nước sở tại và cả những công dân toàn cầu. Thông qua các blogger về du lịch, trải nghiệm nổi tiếng, như “The Blonde Abroad” hay “Nomadic Matt”, người theo dõi họ có thể khám phá và hiểu biết hơn về các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.

Pháp là nước dẫn đầu trong việc thể chế hóa ngoại giao văn hóa qua mạng lưới trường học quốc tế và viện văn hóa nhằm duy trì ngôn ngữ và văn hóa Pháp toàn cầu. Các tổ chức như Hội đồng Anh và Viện Goethe cũng quảng bá ngôn ngữ và nghệ thuật tương tự. Một số nước, có thể kể đến Hàn Quốc đã chú trọng việc xây dựng trung tâm văn hóa và các hoạt động địa phương, như: workshop làm kim chi hay thành lập các viện độc lập Sejong Culture Academy để người dân tự khám phá văn hóa Hàn, phản ánh tư duy ngoại giao hiện đại và hiệu quả.

Ngoại giao văn hóa muốn thực hiện một cách hiệu quả nhất phải ở hình thức “quan hệ văn hóa”, bởi văn hóa là một dòng chảy có nhiều sáng tạo, được tái tạo mỗi ngày trong các cuộc gặp gỡ giữa người dân các nước trên thế giới.

2.4. Ngoại giao trao đổi

Trong các trụ cột của đối ngoại công chúng, nếu vận động chính sách là “mũi nhọn” tấn công trực diện và ngoại giao văn hóa là công cụ tạo ra nhiều sức hấp dẫn thì ngoại giao trao đổi có thể coi là nền móng sâu sắc và bền vững nhất.

Ngoại giao trao đổi được xây dựng bởi các nguyên tắc tâm lý học xã hội. Các chương trình trao đổi học thuật và chuyên môn chính là một phòng thí nghiệm thực tế cho nhận định trên. Ví dụ điển hình cho ngoại giao trao đổi, chính là các chương trình học bổng của chính phủ các nước trên thế giới được vận hành qua nhiều năm, tính ưu việt trong việc tạo ra các cá nhân có sức ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, chính trị và xã hội ở các nước qua nhiều thế hệ.

Ở Việt Nam, tiêu biểu là các chương trình học bổng của Chính phủ Liên bang Nga, học bổng Fullbright của Hoa Kỳ, Eiffel của Pháp, Chevening của Chính phủ Anh hay Ausaid của Chính phủ Australia… đã tạo ra một mạng lưới liên kết các cựu du học sinh xuất sắc, có nhiều ảnh hưởng đến cộng đồng sau khi được tu nghiệp và trở về làm việc, cống hiến cho đất nước.

Trong quá trình đó, những định kiến và khuôn mẫu về đất nước khác được xây dựng từ truyền thông hoặc chính trị dần tan biến, thay thế bằng những mối quan hệ cá nhân phức tạp và đa chiều. Kinh nghiệm này mang tính biến đổi bởi nó không chỉ thay đổi cách một người nhìn nhận về quốc gia sở tại mà còn thay đổi cách họ nhìn nhận về chính bản thân và đất nước ở nhiều khía cạnh khác nhau. Vì vậy, trên phương diện này, ngoại giao trao đổi chính là kênh truyền tải trực tiếp và chân thực nhất cả ba yếu tố trên, tạo ra sức hấp dẫn thông qua trải nghiệm cá nhân thay vì tuyên bố của chính phủ6.

3. Mâu thuẫn về cấu trúc thể chế và kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự khác biệt về bản chất giữa các chức năng trụ cột của đối ngoại công chúng đặt ra một câu hỏi về cấu trúc thể chế ở Việt Nam, nếu tất cả các hoạt động đối ngoại công chúng có nên được hợp nhất dưới một cơ quan duy nhất hay nên được phân bổ cho các tổ chức khác nhau với mức độ tự chủ riêng biệt? Để trả lời câu hỏi này cần phân tích sự khác biệt về cấu trúc giữa các thành tố của đối ngoại công chúng được tóm tắt như sau.

Phân loại chức năng và cơ sở tín nhiệm trong đối ngoại công chúng

Hình thứcThời hạnDòng thông tinCơ sở hạ tầng điển hình sở tín nhiệmMối quan hệ với chính phủ
Quản lý thông tin/ Phân tích dư luậnNgắn và dàiHướng nộiĐơn vị nghiên cứu, phân tíchTính chính xác của phương phápCần thiết để ảnh hưởng chính sách
Vận động chính sáchNgắn hạnHướng ngoạiVăn phòng báo chí, phát ngôn viênSự gần gũi và thẩm quyền từ chính phủCần thiết (là tiếng nói của chính phủ)
Ngoại giao Văn hóaDài hạnHướng ngoạiTrung tâm văn hóa, viện ngôn ngữ, các hình thức giao lưu văn hóa – nghệ thuật – thể dục thể thaoSự xuất sắc và tính chân thực của nghệ thuậtCần sự tách biệt để tránh bị coi là tuyên truyền
Ngoại giao Trao đổiRất dài hạnHai chiềuCơ sở giáo dục, quỹ học bổng,Sự tương hỗ và trải nghiệm cá nhânCần sự tách biệt để bảo đảm tính học thuật
Nguồn: tác giả tổng hợp năm 2025.

Phân tích bảng trên cho thấy, có những mâu thuẫn cơ bản không thể hòa giải nếu tất cả các phương thức trụ cột này của đối ngoại công chúng bị đặt chung dưới một cơ quan quản lý duy nhất. Mâu thuẫn này nằm ở nguồn gốc của sự tín nhiệm hay cơ sở của lòng tin vì những lý do sau:

Thứ nhất, xung đột giữa tiếng nói chính phủtính chân thực”. Trong khi ngoại giao vận động chính sách chỉ có thể thành công khi được công nhận là tiếng nói chính thức, có thẩm quyền của chính phủ và sự tin cậy đến từ chính mối quan hệ mật thiết này thì ngược lại, ngoại giao văn hóa và ngoại giao trao đổi lại lấy được sự tín nhiệm từ chính sự tách biệt khỏi chính phủ. Một chương trình trao đổi học thuật hay một buổi biểu diễn nghệ thuật sẽ mất đi giá trị và bị coi là “tuyên truyền” nếu nó bị xem là công cụ trực tiếp của chính phủ. Tính chân thực của nghệ thuật và tính khách quan của học thuật là nền tảng tín nhiệm không thể thay thế.

Thứ hai, xung đột giữa hướng ngoạihướng nội”. Ba trong bốn trụ cột của đối ngoại công chúng (vận động chính sách, văn hóa, trao đổi) có bản chất là hướng ngoại (tức là truyền tải thông điệp, hình ảnh và xây dựng quan hệ với công chúng nước ngoài). Trong khi đó, phân tích dư luận lại có chức năng cốt lõi là hướng nội – tức là lắng nghe, phân tích và thấu hiểu dư luận nước ngoài để cung cấp thông tin đầu vào cho quá trình hoạch định chính sách trong nước. Một cơ quan được thiết kế để “nói” sẽ khó có thể thực hiện tốt chức năng “lắng nghe” một cách khách quan.

Thứ ba, xung đột giữa ngắn hạndài hạnkhi ngoại giao vận động chính sách thường hoạt động theo chu kỳ tin tức ngắn hạn, phản ứng nhanh với các sự kiện, trong khi đó, ngoại giao văn hóa và đặc biệt là ngoại giao trao đổi là những khoản đầu tư rất dài hạn, có thể mất hàng thập kỷ để thấy được kết quả thông qua việc xây dựng các mối quan hệ con người bền chặt. Khi đặt chung dưới một cơ quan áp lực của các nhiệm vụ ngắn hạn, cấp bách sẽ luôn có xu hướng lấn át và làm suy giảm nguồn lực dành cho các mục tiêu dài hạn.

Vì những mâu thuẫn về bản chất này, việc hợp nhất tất cả các chức năng đối ngoại công chúng vào một cơ quan duy nhất không những không hiệu quả mà còn có thể gây ra phản tác dụng. Một cấu trúc với cơ quan duy nhất làm công tác đối ngoại công chúng có nguy cơ làm xói mòn cơ sở tin cậy của các hoạt động ngoại giao văn hóa và trao đổi, biến chúng thành công cụ tuyên truyền và làm suy yếu quyền lực mềm của quốc gia.

4. Đề xuất cho Việt Nam

Một là, tránh mô hình “một cơ quan duy nhất”. Mô hình tập quyền – nơi tập hợp mọi chức năng đối ngoại công chúng vào một cơ quan đơn nhất – tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Nghiên cứu thực tiễn quốc tế chỉ ra việc hợp nhất này có thể biến các hoạt động văn hóa và trao đổi thành công cụ tuyên truyền đơn phương, làm suy giảm tính xác thực vốn là nền tảng của quyền lực mềm. Hiện tượng này xuất phát từ sự mâu thuẫn nội tại giữa logic chính trị (định hướng kết quả ngắn hạn) và logic văn hóa (đòi hỏi quá trình dài hạn để xây dựng niềm tin).

Hai là, cần kết hợp nguyên tắc phân quyền có kiểm soát, trong đó Bộ Ngoại giao đóng vai trò trung tâm điều phối chiến lược, tập trung vào quản lý thông tin, phân tích dư luận quốc tế và vận động chính sách đối ngoại. Các tổ chức phục vụ đối ngoại công chúng, ngoại giao trao đổi như trung tâm văn hóa, quỹ giao lưu giáo dục cần có cơ chế hành chính đặc thù công – tư kết hợp để vừa giữ vững được truyền thống và định hướng tư tưởng, vừa tận dụng được sức mạnh từ phía các chủ thể khác nhiều tiềm năng về năng lực và kinh nghiệm khác trong các cơ quan, doanh nghiệp, người dân trong cả nước để phát huy tối đa sức ảnh hưởng. Kinh nghiệm từ Hội đồng Anh hay Viện Goethe cho thấy, mô hình này duy trì được tính độc lập về chuyên môn, đồng thời tạo không gian sáng tạo cho các dự án văn hóa phi chính trị hóa. Cơ chế phối hợp liên ngành đòi hỏi sự tham gia của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong xây dựng chính sách văn hóa đối ngoại, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong quản lý trao đổi học thuật và Bộ Khoa học và Công nghệ trong thúc đẩy hợp tác nghiên cứu.

Ba là, cần thành lập một cơ quan có chức năng điều phối hoạt động đối ngoại công chúng quốc gia có nhiệm vụ xây dựng khung chính sách tổng thể, thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu liên bộ và giám sát đánh giá tác động tổng hợp của các sáng kiến. Mô hình này cho phép duy trì tính đa dạng trong triển khai nhưng vẫn bảo đảm sự đồng bộ về mục tiêu chiến lược dài hạn.

5. Kết luận

Đối ngoại công chúng là một mặt trận đối ngoại phức tạp đòi hỏi một cách tiếp cận mang cả tính khoa học và thực tiễn. Việc nhận diện rõ bản chất, mục tiêu và cơ sở tín nhiệm khác biệt của bốn trụ cột trong đối ngoại công chúng là yêu cầu tiên quyết để xây dựng một chiến lược hiệu quả. Những mâu thuẫn nội tại giữa các trụ cột này cho thấy một mô hình tổ chức tập trung, duy nhất là không phù hợp. Đối với Việt Nam, việc xây dựng một cấu trúc thể chế đối ngoại công chúng theo mô hình mạng lưới, có sự phân công rõ ràng nhưng phối hợp chặt chẽ, tôn trọng tính tự chủ tương đối của các hoạt động văn hóa và giáo dục sẽ giúp phát huy tối đa sức mạnh của từng trụ cột. Chỉ khi đó, công tác đối ngoại công chúng mới thực sự trở thành một động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại toàn diện, hiện đại, nâng cao sức mạnh mềm và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chú thích:
1, 2. Phạm Minh Sơn (2016). Đối ngoại công chúng: Mô hình hoạt động ở một số nước trên thế giới và đề xuất đối với Việt Nam. H. NXB Lý luận chính trị, tr. 33, 34.
3. Ngoại giao công chúng trong triển khai một nền ngoại giao Việt Nam toàn diện. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/-oi-ngoai2/-/2018/812605/ngoai-giao-cong-chung-trong-trien-khai-mot-nen-ngoai-giao-viet-nam-toan-dien.aspx
4. Melissen, Jan (Ed.). (2005). The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations. Palgrave Macmillan. Xem thêm: Zaharna, R. S. (2001). “Dialogue and Strategic Public Diplomacy: A Communication-Based Approach”. American Communication Journal, 4(3).
5. Dawkins, Richard. (1976). The Selfish Gene. Oxford University Press.
6. Nye, Joseph S. Jr. (2004). Soft Power: The Means to Success in World Politics. PublicAffairs.