Phát triển chương trình đào tạo ngành Luật tại Học viện Hành chính và Quản trị công góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật

TS. Lê Thị Hoa
TS. Nguyễn Thu An
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – “Nâng cao chất lượng đào tạo luật, phát triển các cơ sở đào tạo luật trọng điểm có uy tín” là một trong những nhiệm vụ và giải pháp được đặt ra trong Nghị quyết số 66/NQ-TW của Bộ Chính trị. Học viện Hành chính và Quản trị công với sứ mệnh là trung tâm quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bồi dưỡng, phát triển năng lực về hành chính, lãnh đạo, quản lý cho nền công vụ Việt Nam đã thực hiện chương trình đào tạo ngành luật trong nhiều năm. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển chương trình đào tạo ngành Luật tại Học viện, từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển chương trình đào tạo ngành Luật góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Ngành Luật, chương trình đào tạo, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Học viện Hành chính và Quản trị công.

1. Đặt vấn đề

Công tác xây dựng và thi hành pháp luật tại Việt Nam đã được Bộ Chính trị xác định là “đột phá của đột phá” nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, theo tinh thần Nghị quyết số 66/NQ-TW ngày 30/4/2025. Nghị quyết này không chỉ là một văn bản chỉ đạo về hoạt động lập pháp và hành pháp mà còn là kim chỉ nam cho sự chuyển đổi tư duy cốt lõi trong xây dựng pháp luật, từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” để chuyển sang định hướng khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực. Mục tiêu chiến lược của Nghị quyết số 66-NQ/TW là xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm trong thiết kế chính sách, bảo đảm chi phí tuân thủ pháp luật thấp và đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết số 66-NQ/TW đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ pháp luật mới, không chỉ am hiểu luật pháp mà còn có năng lực kiến tạo, tư duy phản biện và khả năng nghiên cứu chiến lược, chính sách từ sớm.

Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Học viện) với sứ mệnh là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về quản lý công, chính sách công và pháp luật phục vụ hệ thống chính trị, việc phát triển chương trình đào tạo ngành Luật phải được nâng tầm chiến lược. Chương trình đào tạo cần tạo ra nguồn nhân lực pháp lý có năng lực chuyên sâu về luật công, quản trị công, có khả năng: (1) Phân tích và phản biện chính sách pháp luật để bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và không “đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp”. (2) Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tập trung, chuyên nghiệp và thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng. (3) Thực hành liêm chính và thượng tôn pháp luật để kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Chương trình đào tạo ngành Luật năm 2025 của Học viện đã có những tiến bộ rõ rệt, như: tuân thủ các quy định pháp lý (Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) với tổng khối lượng 127 tín chỉ; chuyển dịch mạnh mẽ theo định hướng giáo dục dựa trên kết quả đầu ra (OBE); và tăng cường đáng kể khối lượng thực hành/trải nghiệm (14 tín chỉ, vượt chuẩn tối thiểu 7 tín chỉ). Tuy nhiên, do giới hạn bởi yêu cầu cấu trúc bắt buộc của chuẩn quốc gia đối với lĩnh vực Pháp luật, chương trình chưa thực sự làm nổi bật lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Học viện trong lĩnh vực hành chính công và quản trị công.

Vì vậy, phát triển chương trình đào tạo cần phải theo hướng tích hợp năng lực xuyên môn, nhằm khẳng định Học viện là trung tâm trọng điểm đào tạo nguồn nhân lực pháp lý chuyên sâu về công vụ, quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, kỹ năng số và năng lực làm việc trong môi trường công vụ hiện đại theo Nghị quyết số 66-NQ/TW.

2. Về Chương trình đào tạo và phát triển Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là khái niệm đa chiều, được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Từ góc độ cấu trúc nội dung, chương trình đào tạo được hiểu là “bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục” bao gồm mục tiêu, nội dung, quy trình triển khai và phương thức đánh giá. Từ góc độ pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018, quy định: “Chương trình đào tạo bao gồm mục tiêu, khối lượng kiến thức, cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá đối với môn học, ngành học, trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam”.

Phát triển chương trình đào tạo trình độ đại học, theo quan điểm tiếp cận hệ thống, chính là quá trình rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện các thành tố cấu thành của chương trình đào tạo theo lộ trình xác định nhằm đáp ứng tốt hơn chuẩn đầu ra của chương trình, hoặc để phù hợp với yêu cầu phát triển mới của đất nước, sứ mệnh, tầm nhìn và triết lý giáo dục của cơ sở giáo dục trong từng thời kỳ. Đối với ngành Luật tại Học viện Hành chính và Quản trị công, quá trình này là nhằm bảo đảm người học có được kiến thức và kỹ năng pháp lý chuyên sâu, đặc biệt trong lĩnh vực hành chính và quản trị công.

Hiện nay xu hướng phát triển chương trình đào tạo hiện đại tập trung vào phương thức giáo dục dựa trên kết quả đầu ra (Outcome-Based Education – OBE). Khác với cách tiếp cận truyền thống (tập trung vào nội dung và truyền thụ kiến thức), OBE chuyển trọng tâm từ người dạy sang người học. Chương trình đào tạo theo định hướng này được xây dựng trên cơ sở chuẩn đầu ra, là bản thiết kế tổng thể để thực thi chuẩn đầu ra, nhấn mạnh khả năng vận dụng tri thức, giải quyết các tình huống thực tiễn và phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.

Các mô hình cụ thể theo định hướng chuẩn đầu ra bao gồm: định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE), tập trung vào năng lực cần thiết của thị trường lao động và sự tham gia bắt buộc của thế giới nghề nghiệp và CDIO (ý tưởng – thiết kế – triển khai – vận hành), cung cấp khung chuẩn chặt chẽ cho việc tự đánh giá và bảo đảm chất lượng toàn diện. Chương trình đào tạo ngành Luật tại Học viện giai đoạn 2019 – 2025 đã áp dụng triệt để định hướng chuẩn đầu ra, thể hiện qua việc khảo sát ý kiến các bên liên quan như người sử dụng lao động, cựu sinh viên, chuyên gia để xây dựng chuẩn đầu ra và ma trận học phần.

Việc phát triển chương trình đào tạo ngành Luật phải tuân thủ nguyên tắc cốt lõi:

Một là, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính thống nhất chính trị trong quản lý nhà nước. Các văn bản pháp luật về giáo dục, bao gồm: Luật Giáo dục đại học và các văn bản hướng dẫn đều xuất phát từ và thể chế hóa các nghị quyết của Đảng. Chương trình đào tạo phải hướng đến đào tạo con người có tri thức, kỹ năng, đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, phục vụ sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đặc biệt, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã định vị lại hệ thống giáo dục Việt Nam, yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo chuyển đổi về chất và gắn các chỉ tiêu phát triển giáo dục với các bảng xếp hạng quốc tế.

Hai là, tuân thủ quy định của pháp luật, là nguyên tắc bắt buộc nhằm bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất về cấu trúc chương trình đào tạo trong toàn hệ thống, tạo điều kiện cho liên thông, chuyển đổi tín chỉ và là điều kiện tiên quyết cho hoạt động kiểm định chất lượng.

Ba là, đáp ứng yêu cầu trong thực tiễn phát triển của đất nước. Mục tiêu cốt lõi của giáo dục đại học là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội và thúc đẩy phát triển. Chương trình đào tạo phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu sử dụng lao động của thị trường thông qua việc xác định chuẩn đầu ra.

Bốn là, phù hợp với sứ mệnh, tầm nhìn và triết lý giáo dục của cơ sở giáo dục, bảo đảm chương trình đào tạo phản ánh được giá trị cốt lõi, tính đặc thù và lợi thế so sánh của Học viện trong lĩnh vực hành chính và quản trị công.

3. Thực trạng phát triển chương trình đào tạo ngành Luật của Học viện

Giai đoạn 2019 – 2025 đánh dấu nhiều biến động về địa vị pháp lý của Học viện. Những thay đổi này đồng thời đi kèm với sự điều chỉnh chiến lược, hướng Học viện trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng về hành chính, quản lý, quản trị và chính sách khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Việc phát triển chương trình đào tạo ngành Luật trong giai đoạn này là nhiệm vụ thường xuyên được thực hiện theo quy trình chuẩn hóa, bao gồm: khảo sát ý kiến các bên liên quan, sửa đổi mục tiêu/chuẩn đầu ra, dự thảo, thẩm định và ban hành. Điều này được minh chứng qua các lần điều chỉnh chương trình vào các năm 2019, 2021, 2023 và 2025, đặc biệt là việc rà soát cấp bách sau khi Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT được ban hành.

Chương trình đào tạo ngành Luật năm 2025 thể hiện sự chuyển đổi rõ rệt theo định hướng OBE và tuân thủ pháp luật, đạt được các kết quả nổi bật, như:

(1) Tuân thủ khung pháp lý và vượt chuẩn tối thiểu: chương trình đào tạo được thiết kế với tổng khối lượng 127 tín chỉ (không kể giáo dục thể chất/quốc phòng – an ninh), vượt mức tối thiểu 120 tín chỉ theo yêu cầu của Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT.

(2) Định hướng ứng dụng và thực hành sâu: chương trình dành tỷ trọng lớn cho khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (104 tín chỉ) và đặc biệt là khối kiến thức trải nghiệm, thực tập chiếm 14 tín chỉ. Mức 14 tín chỉ này cao hơn đáng kể so với mức tối thiểu 7 tín chỉ quy định tại Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT, khẳng định sự chú trọng vào phát triển năng lực thực hành nghề luật và đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nhân lực pháp luật của Nghị quyết số 66-NQ/TW. Các học phần mô phỏng thực tế như phiên tòa giả định, chính quyền địa phương giả định, Quốc hội giả định là điểm nhấn.

(3) Cập nhật chuẩn đầu ra được cấu trúc chi tiết theo ba nhóm: kiến thức (PLO-K), kỹ năng (PLO-S), năng lực tự chủ và trách nhiệm (PLO-A). Chuẩn đầu ra đã được cập nhật để tích hợp các năng lực mới của kỷ nguyên số, bao gồm yêu cầu về ứng dụng hiệu quả kỹ năng số và công cụ trí tuệ nhân tạo trong công việc chuyên môn (PLO-S5) và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa.

(4) Hiện đại hóa nội dung. Danh mục học phần tự chọn đã được bổ sung để đón đầu xu hướng phát triển pháp luật mới (pháp luật về tài sản số và công nghệ chuỗi khối, pháp luật về chính quyền số và phát triển địa phương, pháp luật về đầu tư bền vững và tài chính xanh, khởi nghiệp trong nghề Luật).

Chương trình đào tạo ngành Luật đã áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, phù hợp với triết lý giáo dục “Kiến tạo tri thức, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm quốc gia”. Sự chuyển dịch từ giảng viên làm trung tâm sang người học làm trung tâm được thực hiện thông qua việc sử dụng linh hoạt các phương pháp tích cực như nghiên cứu tình huống pháp lý, tranh biện, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm. Các học phần có tính ứng dụng cao, như: Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự và các học phần kỹ năng chuyên biệt, đặc biệt chú trọng phương pháp dạy học thực hành tình huống, giúp sinh viên rèn luyện tư duy pháp lý, kỹ năng phân tích, tổng hợp và áp dụng pháp luật.

Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng, chương trình đào tạo ngành Luật năm 2025 vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục, đó là:

Một là, áp lực thời gian đào tạo và chất lượng chuyên sâu. Việc rút ngắn thời gian đào tạo xuống 3,5 năm để tích lũy 127 tín chỉ đặt ra áp lực học tập rất lớn (trung bình 18-21 tín chỉ/học kỳ). Điều này tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu chuyên sâu, tự học và rèn luyện kỹ năng mềm ngoài giờ của sinh viên, làm giảm chất lượng đầu ra, đặc biệt khi yêu cầu nhân lực pháp luật chất lượng cao theo Nghị quyết số 66-NQ/TW đòi hỏi khả năng tư duy phản biện và sáng tạo sâu sắc.

Hai là, hạn chế trong khẳng định tính đặc thù. Hạn chế lớn nhất là chương trình chưa làm nổi bật được lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Học viện trong lĩnh vực luật công và quản trị công. Do Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT quy định danh mục chi tiết các khối kiến thức bắt buộc phải trang bị, chương trình đào tạo ngành Luật của Học viện phải phân bổ tín chỉ dàn đều cho tất cả các lĩnh vực pháp luật, khiến các nội dung đặc thù về hành chính công và quản trị công (ví dụ: Luật Hành chính và Tố tụng Hành chính 5 tín chỉ) không được đầu tư đủ chiều sâu.

Ba là, rủi ro về cấu trúc học phần cốt lõi theo quy định của Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT. Mặc dù tuân thủ về tổng khối lượng, việc tích hợp một số nội dung bắt buộc có tính chuyên biệt vào các học phần lớn hơn tạo ra rủi ro về chiều sâu.

Bốn là, nghề luật và đạo đức nghề luật. Nội dung này là kiến thức bắt buộc thuộc cơ sở ngành theo Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT. Tuy nhiên, chương trình đào tạo 2025 không có học phần độc lập mà tích hợp vào học phần “Lý luận về Nhà nước và pháp luật”. Việc tích hợp này có nguy cơ không bảo đảm được độ sâu cần thiết để hình thành phẩm chất liêm chính và đạo đức công vụ (PLO-A1).

Năm là, pháp luật về quyền con người. Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT liệt kê “luật hiến pháp, quyền con người” là kiến thức nền tảng bắt buộc. Tuy nhiên, học phần chuyên biệt “Pháp luật về quyền con người và công bằng xã hội” (3 tín chỉ) lại được xếp vào nhóm tự chọn. Điều này không bảo đảm 100% sinh viên tốt nghiệp được trang bị kiến thức nền tảng về quyền con người, một nội dung cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

4. Giải pháp phát triển chương trình đào tạo ngành Luật giai đoạn 2025 – 2030

Để chương trình đào tạo ngành Luật của Học viện trở thành mô hình tiên phong, cung ứng nguồn nhân lực pháp luật kiến tạo, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, xem xét lại thời gian đào tạo. Trong điều kiện thực tế, kiến nghị Học viện cân nhắc triển khai chương trình đào tạo 127 tín chỉ trong thời gian 4 năm (8 học kỳ) thay vì 3,5 năm. Việc kéo dài thời gian sẽ giảm áp lực học tập (xuống mức trung bình 15-17 tín chỉ/học kỳ), tạo không gian cần thiết cho sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, các hoạt động ngoại khóa và rèn luyện kỹ năng chuyên sâu, qua đó bảo đảm chất lượng chiều sâu, vốn là yêu cầu cốt lõi của nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết số 66-NQ/TW.

Thứ hai, cần tập trung vào lợi thế cạnh tranh. Định vị chính xác chiến lược phát triển chương trình đào tạo ngành Luật gắn với sứ mệnh của Học viện là đào tạo chuyên sâu về Luật công và Chính sách công. Việc phát triển chương trình đào tạo theo hướng chuyên sâu này là công cụ chiến lược để Học viện thực hiện sứ mệnh của mình một cách toàn diện và khẳng định lợi thế cạnh tranh bền vững trong cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền công vụ quốc gia. Vì vậy, trong chương trình đào tạo cần đưa học phần “Pháp luật về chính quyền số và phát triển địa phương” (3 tín chỉ) từ nhóm tự chọn lên nhóm bắt buộc/chuyên ngành sâu. Nội dung này phản ánh trực tiếp sứ mệnh của Học viện trong bối cảnh chính phủ số, tạo nên sự khác biệt và lợi thế rõ nét của chương trình đào tạo ngành Luật so với các cơ sở đào tạo luật truyền thống khác.

Thứ ba, định hướng phát triển chương trình đào tạo theo mô hình tích hợp năng lực. Việc phát triển chương trình đào tạo theo định hướng chuẩn đầu ra đòi hỏi chuyển dịch từ cách tiếp cận truyền thống (từng học phần độc lập) sang mô hình tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration). Mô hình này bảo đảm người học được hình thành năng lực nghề nghiệp (kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ) gắn liền với hồ sơ công việc thực tế, trực tiếp phục vụ yêu cầu của thị trường lao động. Thiết kế lại các module cốt lõi ngành Luật Hành chính – Quản trị công theo hướng tích hợp kiến thức của nhiều học phần đơn lẻ vào các học phần giải quyết vấn đề thực tiễn. Ví dụ, thay vì chỉ giảng dạy Luật Hành chính thuần túy, Học viện nên phát triển các học phần như nghiệp vụ tham mưu chính sách và xây dựng văn bản pháp quy (tích hợp kiến thức luật hành chính, luật hiến pháp, kỹ năng lập luận và kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật.

Thứ tư, về cấu trúc học phần và chuẩn đầu ra. Để khắc phục các tồn tại về cấu trúc và tăng cường tính đặc thù công vụ trong khi vẫn tuân thủ Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT cần thực hiện các điều chỉnh bổ sung học phần bắt buộc để tuân thủ Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT. Xây dựng học phần bắt buộc “Nghề luật và Đạo đức nghề luật” (2-3 tín chỉ) và đặt vào khối kiến thức cơ sở ngành. Việc này loại bỏ hoàn toàn rủi ro tích hợp, bảo đảm sinh viên được đào tạo chuyên sâu về đạo đức liêm chính công vụ, tuân thủ yêu cầu bắt buộc của Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT. Chuyển học phần “Pháp luật về Quyền con người và Công bằng xã hội” (3 tín chỉ) từ nhóm tự chọn 1 sang nhóm bắt buộc trong khối kiến thức cốt lõi ngành. Điều này bảo đảm tất cả sinh viên luật tốt nghiệp tại Học viện có nền tảng vững chắc về Luật công và quyền con người, phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền. Bổ sung học phần “Xây dựng văn bản pháp luật” (3 tín chỉ) vào khối kiến thức cốt lõi bắt buộc. Nội dung này là yêu cầu bắt buộc về kiến thức và kỹ năng theo Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT, trực tiếp phục vụ nhu cầu tham mưu chính sách tại các cơ quan hành chính.

Thứ năm, hoàn thiện chuẩn đầu ra. Cần bổ sung giải thích rõ ràng về khung năng lực được áp dụng (ví dụ: mức 3, mức 4 tương ứng với cấp độ nào trong thang đo nhận thức Bloom) để tăng tính nhất quán và khả năng đo lường chuẩn đầu ra của giảng viên. Trong các lần rà soát định kỳ (ít nhất 7 năm/lần theo Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 20/5/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo), Học viện nên xem xét nâng mức độ tư duy đối với các PLO-K (kiến thức) từ “áp dụng” lên “phân tích”, “đánh giá” và “đề xuất giải pháp sáng tạo” trong các lĩnh vực pháp luật phức tạp.

Đối với PLO-S (kỹ năng), nâng mức độ thành thạo về kỹ năng số, ngoại ngữ, và soạn thảo văn bản từ mức 3 lên mức 4 (mức dẫn dắt chuyên môn). Sự nâng cấp này sẽ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Nghị quyết số 66-NQ/TW về nhân lực pháp luật có năng lực lãnh đạo và quản lý và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị, nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo để tạo ra sự chuyển đổi về chất cho nguồn nhân lực quốc gia.

5. Kết luận

Nghị quyết số 66-NQ/TW đã tạo ra một bối cảnh chiến lược mới, đòi hỏi sự “đột phá của đột phá” trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Để đáp ứng yêu cầu này, việc đào tạo nguồn nhân lực pháp luật tại Học viện cần phải chuyển sang một giai đoạn phát triển cao hơn, nơi Luật công, Quản trị công và năng lực kiến tạo chính sách được đặt làm trọng tâm. Thông qua việc tái cấu trúc chương trình, bổ sung các học phần cốt lõi, đồng thời nâng cấp chuẩn đầu ra và phương pháp dạy học theo hướng phân tích, phản biện và đề xuất sáng tạo, Học viện sẽ không chỉ tuân thủ các chuẩn mực pháp lý quốc gia mà còn khẳng định vị thế tiên phong của mình: trở thành trung tâm đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, có khả năng trực tiếp giải quyết các “điểm nghẽn” thể chế và góp phần đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TWW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2025 về việc ban hành chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Pháp luật trình độ đại học.
4. Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Quyết định số 3091-QĐ/HVHC&QTC ngày 25/9/2025 ban hành 22 chương trình đào tạo trình độ đại học hình thức chính quy năm 2025.
5. Quốc hội (2018). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018.
6. Chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, hướng tới nền hành chính hiện đại. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/26/chuyen-doi-so-trong-dao-tao-boi-duong-cong-chuc-huong-toi-nen-hanh-chinh-hien-dai.