TS. Nghiêm Minh Dũng
Học viện An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Với các bước tiến rõ rệt trong số hóa học liệu, triển khai LMS, tổ chức lớp học ảo, ứng dụng chữ ký số và cải tiến mô hình đào tạo theo hướng linh hoạt, có thể khẳng định, việc vận dụng lý luận đại học số đã đặt nền tảng quan trọng cho sự chuyển đổi của giáo dục Công an nhân dân. Tư duy “đại học số” – dựa trên ba trụ cột: chức năng số, nền tảng kỹ thuật số và bảo đảm an ninh thông tin được tiếp cận và áp dụng ngày càng sâu rộng hơn trong hệ thống các học viện, trường đại học Công an nhân dân. Ngoài ra, quá trình vận dụng lý luận đại học số tại các cơ sở giáo dục đã thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy phát triển mô hình đào tạo nói chung và Công an nhân dân nói riêng. Theo đó, yêu cầu tiếp tục đặt ra không chỉ là tiếp tục ứng dụng công nghệ mà phải phát triển một mô hình đại học số đặc thù, đáp ứng đồng thời yêu cầu đào tạo, yêu cầu quản trị và yêu cầu bảo mật của lực lượng vũ trang nhân dân.
Từ khóa: Vận dụng; lý luận đổi mới giáo dục; Công an nhân dân; yêu cầu; chuyển đổi số; quản lý nhà nước.
1. Đặt vấn đề
Thời gian qua, việc vận dụng lý luận đổi mới quản trị giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số tại các cơ sở đào tạo thuộc Công an nhân dân đã có những chuyển biến đáng kể, phản ánh sự dịch chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị đại học hiện đại dựa trên dữ liệu và nền tảng số. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của sự vận dụng lý luận quản trị đại học hiện đại là sự thay đổi trong tư duy điều hành.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trường Thọ (2024), bản chất của quản trị đại học thời đại số là dựa vào dữ liệu làm cơ sở ra quyết định, bảo đảm tính minh bạch, chính xác và hiệu quả. Tuy nhiên, sự chuyển đổi chưa thật sự đồng đều, nhận thức về quản trị số chỉ tập trung mạnh ở cấp lãnh đạo, trong khi ở cấp phòng, khoa hoặc bộ môn, một bộ phận vẫn xem số hóa là yêu cầu hành chính chứ chưa coi đó là nền tảng của mô hình quản trị mới cho thấy, lý luận đã được tiếp nhận nhưng chưa thấm sâu vào toàn bộ hệ thống.
Song song với sự thay đổi nhận thức là sự vận dụng lý luận vào việc triển khai các nền tảng công nghệ phục vụ quản trị đại học số. Kết quả khảo sát phản ánh mức độ triển khai khá tích cực với 82,5% cơ sở đào tạo đã có hệ thống quản lý học tập (LMS) và 76,1% đã áp dụng phần mềm quản trị đào tạo điện tử. Tuy nhiên, chỉ 36,7% có LMS tích hợp đầy đủ các phân hệ học vụ – học liệu – đánh giá và chỉ 18,4% đánh giá môi trường học tập số hiện tại đáp ứng tốt yêu cầu mô phỏng nghiệp vụ hoặc dạy học tương tác đa nền tảng. Điều này cho thấy, sự vận dụng lý luận đại học số mới ở mức “đặt nền móng”, chưa đạt đến mô hình tích hợp, liên thông dữ liệu như lý luận quản trị số đặt ra. Hệ thống hiện nay giống nhiều phần mềm ghép lại, chưa có kiến trúc nên dữ liệu còn phân mảnh, mỗi hệ thống chạy một kiểu. Các cơ sở giáo dục Công an nhân dân đang tồn tại song song hai loại dữ liệu: cơ sở dữ liệu mở có khả năng liên thông và cơ sở dữ liệu đóng không thể tích hợp, dẫn tới hạn chế lớn trong vận dụng lý luận quản trị dựa trên dữ liệu và kiến trúc số. Nhiều quy trình mới được “số hóa bề mặt”, tức là quy trình cũ được đưa lên phần mềm mà không được tái thiết kế theo chuẩn của lý luận quản trị số. Nhiều quy trình chỉ thay giấy bằng file, chứ không thay đổi logic quản trị. Điều này dẫn đến tình trạng mô hình quản trị số bị phân tán, thiếu liên thông và chưa phát huy được hiệu quả như lý luận đặt ra.
Việc tái cấu trúc quy trình quản trị là yêu cầu quan trọng của lý luận quản trị tinh gọn và quản trị theo quy trình đã được các cơ sở Công an nhân dân triển khai nhưng với mức độ khác nhau. Nhiều cơ sở đào tạo đã bước đầu hình thành các nền tảng dữ liệu phục vụ quản trị đại học. Một số trường đã xây dựng hồ dữ liệu (data lake) làm nơi tập trung dữ liệu thô và dữ liệu đã xử lý, thể hiện rõ việc vận dụng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, phần lớn dữ liệu vẫn ở “Mức số hóa 1 và 2”, tức là dữ liệu tồn tại dưới dạng file hoặc dữ liệu không cấu trúc. Mức số hóa 3, nơi dữ liệu có cấu trúc để máy hiểu và có thể phân tích, vẫn còn rất hạn chế. Điều này cho thấy, việc vận dụng lý luận quản trị đại học số tuy đã được triển khai nhưng chưa đạt đến mức trưởng thành cần thiết.
Một điểm đáng ghi nhận trong quá trình vận dụng lý luận quản trị số là sự xuất hiện ngày càng nhiều các chính sách nội bộ thúc đẩy số hóa. Nhiều trường đã ban hành quy định bắt buộc giảng viên sử dụng LMS, chuẩn hóa học liệu số, khuyến khích xây dựng bài giảng số, hoặc hỗ trợ kinh phí cho đổi mới phương pháp dạy học gắn với công nghệ. Các quy định này thể hiện nỗ lực “chuyển hóa lý luận thành thể chế nội bộ”, giúp số hóa không chỉ dừng lại ở mức kỹ thuật mà trở thành yêu cầu bắt buộc của hệ thống. Do đó, nếu không có chế tài và quy định rõ thì chuyển đổi số sẽ mãi là phong trào, không trở thành chuẩn mực.
Mặc dù đạt được nhiều tiến bộ, việc vận dụng lý luận đổi mới quản trị giáo dục đại học trong Công an nhân dân vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Các hạn chế này chủ yếu xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa nhận thức – hạ tầng – năng lực triển khai. Nhận thức của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chưa đồng đều; hạ tầng dữ liệu còn phân tán, thiếu tích hợp và năng lực số của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của quản trị hiện đại. Tuy nhiên, quá trình vận dụng lý luận đã đặt nền móng cho sự chuyển đổi từ giáo dục đại học truyền thống sang giáo dục đại học số, phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số và chiến lược hiện đại hóa lực lượng Công an nhân dân.
2. Vận dụng lý luận đại học số và chuyển đổi mô hình tổ chức đào tạo
Thực tế, hơn 80% giảng viên và cán bộ quản lý xác nhận môi trường đào tạo tại đơn vị mình đã có sự chuyển đổi đáng kể sang nền tảng số, thể hiện qua việc triển khai học liệu số, xây dựng kho dữ liệu đào tạo, sử dụng hệ thống quản lý học tập (LMS), tổ chức lớp học trực tuyến và kết hợp số hóa hồ sơ học viên. Những yếu tố này phản ánh việc vận dụng lý luận đại học số đã bước đầu đi vào thực tiễn và tạo ra thay đổi thực chất đối với cách thức dạy học truyền thống. Trước đây tài liệu chủ yếu lưu trong tủ sách hoặc USB cá nhân; nay 60-70% học liệu đã đưa lên nền tảng số giúp truy cập nhanh, cập nhật kịp thời và sử dụng rộng rãi hơn. Điều này cho thấy, lý luận về học liệu mở và học liệu số đã được tiếp nhận và vận dụng tương đối hiệu quả.
Bên cạnh kho học liệu số, hệ thống LMS đóng vai trò trung tâm trong mô hình đại học số cũng đã được triển khai rộng rãi. Nhiều trường không chỉ sử dụng LMS như một công cụ hỗ trợ dạy học mà còn vận dụng các nguyên lý của lý luận đại học số để tùy biến hệ thống, tích hợp đăng nhập tập trung, đồng bộ bài giảng, điểm danh, đánh giá và theo dõi tiến độ học tập của học viên. LMS không chỉ là nơi tải bài mà đã tích hợp các công cụ kiểm tra liêm chính học thuật, chấm điểm tự động, phân tích hành vi học tập… để phục vụ quản trị đào tạo thời gian thực7. Điều này cho thấy, mức độ vận dụng lý luận đại học số đã vượt ra ngoài mức “sử dụng phần mềm” và bắt đầu chuyển sang “xây dựng nền tảng lõi phục vụ quản trị đào tạo số”.
Tuy nhiên, thực tế cũng chỉ ra nhiều điểm nghẽn trong quá trình vận dụng lý luận về đại học số. Chỉ 36,7% cơ sở đào tạo có LMS tích hợp đầy đủ các phân hệ (học vụ – học liệu – đánh giá – tương tác), trong khi phần lớn các trường vẫn duy trì nhiều hệ thống riêng lẻ, không liên thông dữ liệu. Dữ liệu nằm rải rác khiến các quyết định vẫn phải dựa vào tổng hợp thủ công. Thực tế này cho thấy, các cơ sở đào tạo mới vận dụng được từng phần của lý luận đại học số chưa đạt đến mô hình “đại học số toàn diện” – nơi mọi thành phần đào tạo, nghiên cứu, quản trị, hỗ trợ học tập được kết nối trong một nền tảng dữ liệu thống nhất.
Việc vận dụng lý luận đại học số còn thể hiện rõ qua tổ chức lớp học ảo và lớp học kết hợp (blended learning). Kết quả khảo sát cho thấy, có hơn 70% giảng viên đã sử dụng hình thức dạy học trực tuyến hoặc kết hợp trong giảng dạy; tuy nhiên, hiệu quả của mô hình này còn phụ thuộc nhiều vào hạ tầng công nghệ và kỹ năng số của giảng viên. Dạy trực tuyến chỉ hiệu quả khi bài giảng được thiết kế theo chuẩn số; nếu chỉ chuyển bài giảng truyền thống lên Zoom thì không khác gì giảng “qua màn hình”. Điều này phản ánh đúng lý luận đại học số, chuyển đổi mô hình đào tạo không chỉ là số hóa hình thức mà phải đổi mới toàn diện phương pháp, học liệu, môi trường và trải nghiệm học tập.
Việc ứng dụng chữ ký số và số hóa hồ sơ đào tạo cũng là biểu hiện rõ nét của vận dụng lý luận đại học số. Nhiều học viện và trường Công an nhân dân đã thực hiện ký số trong phê duyệt kế hoạch đào tạo, điểm thi, văn bản điều hành và hồ sơ học vụ, cho thấy, nhận thức về quản trị số đã được chuyển hóa thành những quy trình vận hành có tính ràng buộc pháp lý. Tuy nhiên, theo kết quả phỏng vấn, mức độ số hóa hồ sơ còn chưa toàn diện, một phần do các yêu cầu đặc thù về bảo mật, một phần do hạ tầng số chưa đồng bộ giữa các phòng, khoa.
Một điểm quan trọng khác trong vận dụng lý luận đại học số là chuyển đổi mô hình tổ chức đào tạo theo hướng linh hoạt, phù hợp với môi trường số. Nhiều cơ sở đào tạo đã thay đổi cách thức xây dựng kế hoạch đào tạo, phân lớp, phân công giảng viên, bố trí thời khóa biểu theo hướng mở và linh hoạt hơn. Trong khi, trước đây mọi thứ cố định theo học kỳ thì hiện nay có thể triển khai lớp học vào bất kỳ thời điểm nào nếu hạ tầng trực tuyến và LMS đáp ứng. Điều này thể hiện rõ sự tiếp nhận lý luận “đại học linh hoạt” (flexible university), một thành tố quan trọng của đại học số. Tuy nhiên, quá trình vận dụng lý luận đại học số tại các cơ sở giáo dục Công an nhân dân vẫn chủ yếu dừng ở mức “ứng dụng công nghệ” và “từng phần của lý luận”, thay vì tái thiết kế toàn bộ mô hình tổ chức đào tạo theo chuẩn đại học số. Hệ sinh thái số chưa hình thành hoàn chỉnh; dữ liệu còn phân tán; hạ tầng chưa đồng bộ và năng lực số của đội ngũ còn chênh lệch. Điều này khiến mô hình đại học số trong Công an nhân dân mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu, chưa đạt mức trưởng thành theo kỳ vọng.
3. Vận dụng lý luận đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng số hóa
Trong những năm gần đây, việc vận dụng lý luận đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng số hóa tại các cơ sở giáo dục đại học trong Công an nhân dân đã trở thành một xu thế rõ rệt, phản ánh sự thích ứng ngày càng mạnh mẽ với bối cảnh chuyển đổi số. Các luận điểm của Trần Tuấn Tú (2024) về “mô hình dạy học đa chiều”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phương pháp truyền thụ đơn tuyến sang tổ chức hoạt động học tập tương tác, mô phỏng và phản hồi tức thời đã được nhiều trường Công an nhân dân tiếp cận và vận dụng trong thực tiễn. Điều này thể hiện sự chuyển biến tích cực trong tư duy sư phạm: từ việc giảng viên đóng vai trò trung tâm sang việc tổ chức không gian học tập mở, linh hoạt, kết hợp giữa trực tiếp – trực tuyến – thực tế ảo.
Thực tiễn khảo sát tại các cơ sở đào tạo Công an nhân dân cho thấy, mức độ vận dụng lý luận này tương đối rộng với trên 70% giảng viên cho biết đã sử dụng các công cụ số trong giảng dạy, bao gồm: bài giảng điện tử, lớp học trực tuyến (online classroom), video bài giảng, hệ thống LMS và các nền tảng tương tác học tập. Nếu như trước đây bài giảng chủ yếu là PowerPoint và giảng giải thì hiện nay các giảng viên phải thiết kế hoạt động học tập cho từng buổi, tích hợp câu hỏi tương tác, bài tập mô phỏng và học liệu đa phương tiện. Điều này cho thấy, lý luận về “thiết kế hoạt động học tập” đã bước đầu được thấm vào hoạt động dạy học của giảng viên Công an nhân dân.
Việc áp dụng mô hình dạy học kết hợp (blended learning) cũng cho thấy, sự vận dụng lý luận dạy học hiện đại một cách tương đối sâu. Theo khảo sát, hơn 60% giảng viên đã giảng dạy theo mô hình kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, sử dụng các nền tảng tương tác thời gian thực cũng như hệ thống quản lý học tập để giao nhiệm vụ, theo dõi tiến độ và đánh giá sinh viên. Blended learning giúp giảm tải phần giảng giải trên lớp để dành thời gian cho thảo luận, xử lý tình huống nghiệp vụ, đúng hướng mà lý luận hiện đại yêu cầu, cho thấy, xu hướng tiếp cận theo hướng “active learning” và “flipped classroom” đã được vận dụng tương đối phổ biến.
Ở mức độ cao hơn, nhiều cơ sở đào tạo Công an nhân dân đã tiến hành thử nghiệm các phương pháp dạy học dựa trên mô phỏng nghiệp vụ, không gian thực tế ảo (VR) và tình huống số hóa. Những mô tả trong tài liệu cho thấy, việc sử dụng các phòng mô phỏng tình huống an ninh, phòng thí nghiệm số hoặc thao trường mạng đã giúp học viên tiếp cận môi trường nghiệp vụ có tính thực tiễn và rủi ro cao nhưng được tái hiện bằng công nghệ an toàn. Khi cho học viên thực hành mô phỏng xử lý tình huống mạng, có thể tiếp cận tác chiến số mà không ảnh hưởng đến hệ thống thật. Đây là bước chuyển rất quan trọng. Sự vận dụng này cho thấy, lý luận về “experiential learning” và “simulation-based learning” đã bắt đầu được áp dụng giúp tăng cường năng lực nghề nghiệp trong môi trường số hóa.
Tuy nhiên, các kết quả khảo sát cũng chỉ ra những hạn chế đáng kể trong quá trình vận dụng lý luận đổi mới phương pháp dạy – học. Một trong những thách thức lớn nhất là năng lực số của giảng viên còn chưa đồng đều. Có giảng viên thành thạo công nghệ, có khả năng thiết kế bài giảng số hóa tương tác cao nhưng cũng có bộ phận giảng viên chỉ dừng lại ở mức “đưa tài liệu lên LMS”. Có khoảng 30 – 40% giảng viên mới chỉ sử dụng công nghệ ở mức cơ bản. Những phương pháp nâng cao như mô phỏng, thiết kế hoạt động học tập số hay đánh giá trực tuyến chưa được thực hiện nhiều, cho thấy, lý luận đổi mới phương pháp dạy học chưa được vận dụng toàn diện do hạn chế về năng lực công nghệ của đội ngũ.
Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng vận dụng. Mặc dù đa số trường đã đầu tư hệ thống LMS, nền tảng trực tuyến và phòng học thông minh vẫn còn khoảng 40% giảng viên phản ánh tốc độ mạng, máy chủ LMS hoặc thiết bị phòng học không đủ ổn định để triển khai các hình thức dạy học số phức tạp. Bài giảng số cần hệ thống mạng; nếu mạng chậm, mô phỏng không chạy được, lớp học số bị gián đoạn. Điều này cho thấy, lý luận về số hóa phương pháp dạy học chỉ có thể vận dụng hiệu quả khi có điều kiện hạ tầng tương thích. Ngoài ra, việc đánh giá người học trong môi trường số cũng là một thách thức. Thực tế, chỉ có 47% giảng viên cho rằng, công cụ đánh giá điện tử hiện tại “đáp ứng yêu cầu kiểm tra năng lực thực chất”; chủ yếu kiểm tra kiến thức, chưa đủ khả năng đánh giá kỹ năng xử lý tình huống hoặc năng lực số của học viên. Điều này cho thấy, lý luận về “assessment for learning” và “digital assessment” mới chỉ được vận dụng bước đầu, chưa đạt đến mức đánh giá toàn diện theo năng lực.
Mặc dù còn những hạn chế, nhưng các cơ sở giáo dục Công an nhân dân đã từng bước vận dụng được phần lớn các thành tố quan trọng của lý luận đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng số hóa. Từ việc ứng dụng LMS, học liệu số, mô phỏng nghiệp vụ, lớp học ảo, thực tế ảo đến thiết kế hoạt động học tập theo hướng tương tác – đa chiều, hệ thống dạy học trong Công an nhân dân đã có sự chuyển dịch rõ rệt sang hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu đào tạo cán bộ Công an trong thời kỳ chuyển đổi số. Trong giai đoạn tiếp theo, thách thức đặt ra là nâng cao năng lực số của giảng viên, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và tăng cường các mô hình dạy học mô phỏng – trải nghiệm để lý luận dạy học hiện đại thực sự trở thành “hệ chuẩn” trong các nhà trường Công an nhân dân.
4. Vận dụng lý luận xây dựng hệ sinh thái số trong nhà trường Công an nhân dân
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang định hình lại toàn bộ hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, tư duy xây dựng hệ sinh thái số trở thành một yêu cầu tất yếu đối với các trường trong Công an nhân dân. Lý luận về hệ sinh thái giáo dục số, theo quan điểm của Nguyễn Đình Nghĩa (2024), nhấn mạnh rằng, hệ sinh thái số không chỉ bao gồm các nền tảng công nghệ đơn lẻ mà là một “mạng lưới tích hợp” giữa học liệu số, hạ tầng kỹ thuật số, môi trường dạy – học trực tuyến và các quy trình quản trị – nghiên cứu – đánh giá được tổ chức thống nhất trên một cấu trúc số toàn diện. Đây là cách tiếp cận mang tính hệ chuẩn của các mô hình giáo dục đại học thế hệ mới, nơi mọi hoạt động được vận hành trong một không gian số hóa, liên thông và tự động hóa cao, hướng đến tối ưu hóa trải nghiệm học tập và nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường.
Trong thực tiễn triển khai tại các cơ sở giáo dục Công an nhân dân, tư duy xây dựng hệ sinh thái số đã được tiếp cận và vận dụng với nhiều mức độ khác nhau. Một trong những biểu hiện rõ nhất là sự phát triển mạnh mẽ của thư viện điện tử và kho học liệu số, vốn được xem là thành phần trung tâm của hệ sinh thái. Khoảng 65-70% giảng viên và học viên thường xuyên truy cập kho học liệu số để khai thác tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy. Kho học liệu số giúp không chỉ tiếp cận tài liệu nhanh hơn mà còn cập nhật kịp thời những văn bản, quy định và bài giảng mới nhất. Học liệu số đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình môi trường tri thức mở, vốn là đặc trưng của hệ sinh thái giáo dục số.
Song song với đó, phòng học thông minh và không gian học tập tương tác cũng trở thành những cấu phần quan trọng trong việc triển khai hệ sinh thái số. Nhiều trường đã vận dụng lý luận về môi trường học tập số để thiết kế các phòng học có tích hợp màn hình tương tác, camera nhận diện, thiết bị trình chiếu đa điểm, bảng số hóa và các nền tảng hỗ trợ thảo luận trực tuyến. Ở các phòng học được trang bị mô hình thông minh, việc thảo luận nhóm, phản hồi nhanh, làm bài tập số hay tra cứu tài liệu ngay tại lớp trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Điều này minh chứng cho việc lý luận về “không gian học tập mở” đã bước đầu được chuyển hóa thành thực tiễn.
Bên cạnh học liệu và phòng học thông minh, các cơ sở giáo dục Công an nhân dân còn bước đầu hình thành hệ thống phản hồi học tập trực tuyến và hệ thống hỗ trợ học viên 24/7 thông qua LMS, email nội bộ và các kênh tương tác tức thời. Theo phản ánh từ 54% học viên cho rằng, “khả năng tiếp cận phản hồi học tập” đã cải thiện đáng kể nhờ các nền tảng số. Điều này cho thấy, tính tương tác – một đặc trưng cốt lõi của hệ sinh thái số đang dần trở thành một phần của quá trình đào tạo.
Một điểm bổ sung quan trọng trong quá trình vận dụng lý luận hệ sinh thái số là sự kết nối giữa đào tạo – nghiên cứu – quản trị thông qua nền tảng số hóa. Một số cơ sở đào tạo đã triển khai các hệ thống liên thông dữ liệu như quản lý đề tài nghiên cứu khoa học, kết quả học tập, hoạt động ngoại khóa và đánh giá rèn luyện, giúp hình thành những “chuỗi dữ liệu” phục vụ phân tích học tập (learning analytics). Nhờ các hệ thống số liên thông, có thể theo dõi tiến bộ học tập, mức độ tham gia lớp và kết quả rèn luyện của học viên theo thời gian thực. Đây là điều trước đây rất khó thực hiện. Như vậy, tư duy “quản trị bằng dữ liệu” đã bước đầu lan tỏa, tạo nền tảng cho các hệ sinh thái giáo dục số trong Công an nhân dân.
Tuy vậy, quá trình vận dụng lý luận xây dựng hệ sinh thái số vẫn còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát, chỉ có khoảng 32% cán bộ và giảng viên cho rằng, hệ thống dữ liệu trong đơn vị “thật sự liên thông và tích hợp”. Các hệ thống hiện nay vẫn tồn tại ở trạng thái “nhiều mảnh ghép rời rạc”, chưa được tổ chức theo kiến trúc. Như vậy, mặc dù đã có thư viện điện tử, LMS, phần mềm quản lý đào tạo, quản lý nghiên cứu khoa học… nhưng phần lớn vẫn hoạt động độc lập, không kết nối dữ liệu với nhau. Điểm nghẽn này khiến hệ sinh thái số chưa phát huy được vai trò như một cấu trúc tích hợp, dẫn tới khó khăn trong phân tích dữ liệu tổng hợp, đánh giá chất lượng đào tạo hoặc cá thể hóa việc học.
Một nguyên nhân khác khiến hệ sinh thái số chưa hoàn chỉnh là năng lực vận hành hệ thống của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Một bộ phận cán bộ vẫn quen với mô hình vận hành truyền thống, chưa sẵn sàng chuyển sang mô hình “tương tác đa nền tảng”, trong khi một số giảng viên chưa thành thạo các công nghệ cần thiết để tích hợp bài giảng, học liệu và phản hồi học tập trong môi trường số. Công nghệ có nhưng nếu người vận hành không hiểu bản chất hệ sinh thái thì không kết nối được thành một mạng lưới. Điều này cho thấy, lý luận hệ sinh thái số chưa được thấm nhuần đầy đủ vào đội ngũ vận hành – một yếu tố then chốt để chuyển đổi số thực chất.
Như vậy, việc vận dụng lý luận xây dựng hệ sinh thái số trong các cơ sở giáo dục Công an nhân dân đã tạo ra những chuyển biến quan trọng về học liệu, hạ tầng học tập, không gian dạy – học, phản hồi học tập và liên thông giữa đào tạo – nghiên cứu – quản trị. Tuy nhiên, tính liên kết, tích hợp và đồng bộ của các thành phần hệ sinh thái vẫn còn hạn chế, khiến mô hình hệ sinh thái số ở nhiều cơ sở còn dừng ở mức hình thức, chưa đạt đến mức “một cấu trúc thống nhất – liên thông – thông minh” như lý luận đòi hỏi. Trong giai đoạn tiếp theo, thách thức đặt ra không chỉ là tiếp tục đầu tư công nghệ mà là hình thành kiến trúc hệ sinh thái số đặc thù cho Công an nhân dân với sự liên thông dữ liệu, năng lực số của đội ngũ và cơ chế vận hành dựa trên dữ liệu, điều kiện cốt lõi để hệ sinh thái số trở thành nền tảng của đổi mới giáo dục đại học trong lực lượng Công an nhân dân.
5. Vận dụng lý luận về an ninh phi truyền thống và tác chiến số trong đào tạo lực lượng Công an nhân dân
Trong bối cảnh an ninh phi truyền thống ngày càng trở thành thách thức trọng tâm đối với quốc gia, việc vận dụng lý luận về an ninh phi truyền thống và tác chiến số trong đào tạo lực lượng Công an nhân dân đã trở thành yêu cầu cấp thiết, đồng thời là một hướng đổi mới nổi bật trong các cơ sở giáo dục Công an nhân dân. Lý luận của Nguyễn Ngọc Cương (2024) và Trần Trọng Vinh (2024) nhấn mạnh rằng, công tác đào tạo trong Công an nhân dân không thể chỉ dừng ở trang bị kiến thức pháp luật, nghiệp vụ truyền thống mà phải tích hợp chặt chẽ các nội dung về an ninh mạng, phòng chống tội phạm công nghệ cao, phân tích dữ liệu số và ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống trên không gian mạng. Đây là sự mở rộng quan trọng của phương pháp đào tạo, phản ánh đặc trưng nghề nghiệp mới của lực lượng Công an nhân dân trong thời đại kỹ thuật số.
Thực tiễn cho thấy, việc vận dụng lý luận này đã bước đầu tạo ra sự chuyển biến đáng kể trong cấu trúc chương trình và phương pháp tổ chức giảng dạy. Nhiều cơ sở đào tạo đã xây dựng và vận hành thao trường mạng, nơi học viên được thực hành các kịch bản mô phỏng tấn công – phòng thủ mạng, phân tích mã độc, truy vết tấn công, phát hiện xâm nhập trái phép và xử lý sự cố an ninh mạng. Nếu trước đây môn học về công nghệ thông tin chỉ dừng ở dạy kỹ năng sử dụng máy tính thì nay học viên được tham gia mô phỏng tác chiến không gian mạng thật sự, với các bài tập tình huống sát nhiệm vụ chiến đấu. Điều này cho thấy, lý luận về tác chiến số đã bắt đầu được chuyển hóa thành thực tiễn học tập trải nghiệm.
Ngoài thao trường mạng, nhiều học viện đã đưa vào giảng dạy các chuyên đề và học phần mới liên quan đến an ninh phi truyền thống, như: an ninh dữ liệu, điều tra số, truy vết số, phòng chống tấn công mã độc, phân tích hệ thống, an ninh Internet vạn vật (IoT) và quản trị an ninh mạng trong tổ chức. Khoảng 50-60% học viên chuyên ngành công nghệ bắt buộc tham gia các mô-đun về tác chiến số, trong khi các chuyên ngành khác mới chỉ được trang bị kiến thức cơ bản. Điều này cho thấy, việc vận dụng lý luận đã mạnh ở các nhóm ngành chuyên sâu nhưng chưa lan tỏa đồng đều trong toàn bộ hệ thống đào tạo.
Kết quả khảo sát cũng phản ánh xu hướng tương tự khi chỉ 42% giảng viên các ngành không chuyên công nghệ cho rằng, nội dung về an ninh phi truyền thống được tích hợp vào bài giảng của họ một cách có hệ thống, cho thấy lý luận về an ninh phi truyền thống đã được tiếp nhận nhưng việc tích hợp vào đào tạo chưa trở thành yêu cầu bắt buộc hay chuẩn đầu ra chung cho toàn lực lượng.
Sự vận dụng lý luận về tác chiến số còn thể hiện qua việc đưa phân tích dữ liệu số và xử lý thông tin tình báo số vào đào tạo. Một số trường đã thử nghiệm đưa các công cụ phân tích dữ liệu lớn (big data), trực quan hóa dữ liệu (data visualization), mã hóa – giải mã, giám sát lưu lượng mạng hoặc phân tích nhật ký hệ thống vào các bài giảng thực hành. Năng lực phân tích dữ liệu trở thành kỹ năng trọng yếu trong điều tra số nhưng không phải tất cả học viên đều có cơ hội học sâu về nội dung này. Điều này cho thấy, sự vận dụng lý luận mới diễn ra mạnh ở các ngành liên quan đến kỹ thuật nghiệp vụ, còn các chuyên ngành xã hội – an ninh truyền thống chưa được tiếp cận đầy đủ.
Một điểm đáng chú ý trong quá trình vận dụng lý luận là mở rộng mô hình học tập trải nghiệm số (digital experiential learning). Một số trường đã xây dựng mô hình “phòng mô phỏng tác chiến đa tầng”, trong đó học viên được chia nhóm đóng vai các đội tấn công – phòng thủ, thực hiện các chiến thuật kiểm thử xâm nhập (penetration testing), phản ứng sự cố (incident respond) hoặc phòng vệ chủ động. Tuy nhiên, chỉ khoảng 28-30% học viên các ngành không chuyên được tiếp cận mô hình học tập này cho thấy quá trình vận dụng lý luận còn lệch pha giữa các lĩnh vực đào tạo khác nhau. Ngoài ra, việc thiếu đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu về tác chiến số cũng là trở ngại khiến một số nội dung chỉ được dạy ở mức lý thuyết hoặc nhập môn.
Như vậy, có thể nhận định rằng các cơ sở giáo dục Công an nhân dân đã vận dụng ngày càng mạnh mẽ lý luận về an ninh phi truyền thống và tác chiến số vào hoạt động đào tạo, đặc biệt ở các ngành công nghệ, an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao. Tuy nhiên, mức độ vận dụng chưa đồng đều, chủ yếu tập trung vào các ngành mũi nhọn, trong khi việc tích hợp lý luận này vào chương trình đào tạo đại trà còn hạn chế. Trong bối cảnh các nguy cơ phi truyền thống ngày càng lan tỏa sang mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thách thức đặt ra cho các nhà trường Công an nhân dân là phải đưa lý luận về an ninh phi truyền thống và tác chiến số trở thành thành tố xuyên suốt trong mọi chương trình đào tạo, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực nhận diện, ứng phó và xử lý hiệu quả các thách thức an ninh mới trong thời đại số.
6. Vận dụng lý luận phát triển năng lực số cho đội ngũ giảng viên và học viên
Phát triển năng lực số cho đội ngũ giảng viên và học viên được xem là một trong những nội dung trọng tâm và có tính quyết định đối với quá trình đổi mới giáo dục đại học trong Công an nhân dân. Lý luận về năng lực số, theo Nguyễn Viết Cường (2024) và Nguyễn Văn Thiết (2024), không chỉ dừng lại ở khả năng sử dụng công nghệ mà bao gồm toàn bộ năng lực thiết kế học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến, quản trị lớp học số, đánh giá học viên qua nền tảng số và vận hành các công cụ phân tích học tập trong môi trường chuyển đổi số. Do đó, các cơ sở đào tạo Công an nhân dân phải coi năng lực số là thành tố cốt lõi của chuẩn nghề nghiệp giảng viên và chuẩn đầu ra của học viên trong bối cảnh hiện nay.
Trong thời gian qua, việc vận dụng lý luận này được thể hiện trước hết ở sự thay đổi nhận thức của đội ngũ giảng viên về vai trò của công nghệ trong dạy học. Kết quả khảo sát cho thấy, hơn 70% giảng viên nhận định rằng, năng lực số là yêu cầu bắt buộc trong hoạt động dạy học hiện đại và gần 2/3 số người trả lời cho biết đã từng tham gia ít nhất một khóa bồi dưỡng về sử dụng hệ thống LMS hoặc thiết kế bài giảng điện tử. Giảng viên không thể dạy chỉ với giáo án truyền thống, buộc phải biết thiết kế bài giảng số, xây dựng ngân hàng câu hỏi trực tuyến và khai thác học liệu mở. Điều này cho thấy, lý luận về năng lực số đã bước đầu được tiếp nhận như một yêu cầu nghề nghiệp mới.
Bên cạnh nhận thức, các cơ sở giáo dục Công an nhân dân đã triển khai nhiều mô hình bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên. Nhiều trường đã tổ chức các khóa tập huấn về sử dụng LMS, thiết kế bài giảng tương tác, dạy học kết hợp, xây dựng học liệu số và an ninh mạng cơ bản. Thông thường mỗi giảng viên tham gia ít nhất một đến hai khóa bồi dưỡng công nghệ mỗi năm, tập trung vào các kỹ năng, như: chuyển đổi học liệu, dạy học trực tuyến và đánh giá số. Tuy nhiên, mức độ tham gia của giảng viên không đồng đều; các khóa bồi dưỡng có nội dung còn thiên về kỹ thuật và chưa gắn với yêu cầu đặc thù của từng môn học.
Một hạn chế rõ rệt trong vận dụng lý luận phát triển năng lực số là sự chênh lệch năng lực số giữa các nhóm giảng viên. Giảng viên trẻ thường có năng lực số tốt hơn, nhanh nhạy hơn trong sử dụng các phần mềm dạy học, thiết kế học liệu số hoặc triển khai giảng dạy qua mô phỏng. Trong khi đó, một bộ phận giảng viên lớn tuổi hoặc có chuyên môn truyền thống gặp khó khăn khi phải chuyển sang mô hình dạy học số. Điều này cho thấy, lý luận về năng lực số đã được vận dụng nhưng chưa tạo thành chuẩn chung cho toàn bộ đội ngũ.
Đối với học viên, năng lực số cũng được xem là điều kiện then chốt để đáp ứng yêu cầu tác nghiệp trong môi trường số hóa. Các học viện Công an nhân dân đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo về kỹ năng số, an ninh mạng cơ bản, khai thác học liệu số, kỹ năng tìm kiếm – xử lý thông tin và quản trị danh tính số. Kết quả khảo sát cho thấy, khoảng 65% học viên đánh giá việc học tập qua nền tảng số giúp họ “chủ động và linh hoạt hơn”, tuy nhiên cũng có hơn 30% cho rằng, họ gặp khó khăn trong việc sử dụng đầy đủ các công cụ học tập số do thiếu hướng dẫn hoặc thiếu trải nghiệm trước đó.
Vấn đề nổi cộm nhất là thiếu một bộ chuẩn năng lực số thống nhất cho đội ngũ giảng viên và học viên trong toàn hệ thống Công an nhân dân. Hiện nay, mỗi trường tự xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, chương trình đào tạo và tiêu chí đánh giá năng lực số theo cách riêng, dẫn đến sự phân mảnh và thiếu đồng bộ. Điều này cho thấy, lý luận về phát triển năng lực số mới được vận dụng ở mức tổ chức hoạt động, chưa đạt đến mức xây dựng chuẩn hóa và bảo đảm chất lượng.
Bên cạnh đó, cơ chế kiểm tra – đánh giá năng lực số cũng chưa được thiết lập một cách hệ thống. Nhiều giảng viên tham gia tập huấn chỉ để hoàn thành yêu cầu hành chính, không có bài kiểm tra đầu ra hoặc quy định bắt buộc về việc vận dụng công nghệ trong giảng dạy. Điều này cho thấy, khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn lớn. Như vậy, quá trình vận dụng lý luận phát triển năng lực số trong các cơ sở đào tạo Công an nhân dân đã tạo ra những thay đổi đáng kể về nhận thức, kỹ năng và phương pháp giảng dạy – học tập của đội ngũ. Tuy nhiên, sự chênh lệch năng lực số giữa các nhóm giảng viên, thiếu chuẩn năng lực số thống nhất, thiếu cơ chế đánh giá định kỳ và hạn chế về hạ tầng vẫn là những rào cản lớn. Trong thời gian tới, yêu cầu quan trọng đặt ra là xây dựng bộ chuẩn năng lực số cho giảng viên và học viên Công an nhân dân, hoàn thiện chương trình bồi dưỡng theo chuẩn hóa và kết hợp cơ chế kiểm tra – đánh giá năng lực số bắt buộc nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của đội ngũ trong bối cảnh giáo dục đại học số hóa..
7. Kết luận
Giáo dục đại học Công an nhân dân đã trải qua một hành trình phát triển đặc thù, vừa chịu tác động của các yêu cầu chính trị – an ninh, vừa vận động theo những xu thế đổi mới chung của giáo dục đại học Việt Nam và thế giới. Từ mô hình đào tạo chủ yếu theo chỉ huy – mệnh lệnh, giáo dục trong Công an nhân dân từng bước tiếp cận phương pháp quản trị đại học hiện đại, coi trọng chuẩn hóa, hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ, đặc biệt từ giai đoạn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đến thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.
Về lý luận, nhận thức của các cơ sở đào tạo Công an nhân dân về đổi mới giáo dục đại học trong thời kỳ chuyển đổi số đã có sự thay đổi căn bản. Các luận điểm về quản trị đại học số, mô hình đại học số, đổi mới dạy học dựa trên công nghệ, hệ sinh thái số và phát triển năng lực số bắt đầu được tiếp cận có hệ thống. Tuy nhiên, mức độ làm chủ lý luận vẫn chưa thực sự đồng đều; nhiều nội dung còn được hiểu theo cách tiếp cận công nghệ thuần túy, chưa đạt tới chiều sâu triết lý giáo dục số, quản trị số hay phát triển nguồn nhân lực số theo chuẩn quốc tế.
Về thực tiễn vận dụng, các nhà trường Công an nhân dân đã có những bước đi quan trọng nhưng chưa đồng bộ. Quản trị giáo dục đã bắt đầu chuyển từ mô hình hành chính sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu; hệ thống LMS, học liệu số, chữ ký số, phòng học thông minh và kho dữ liệu đào tạo được triển khai ngày càng rộng; nhiều mô hình lớp học ảo, lớp học kết hợp, mô phỏng nghiệp vụ và không gian học tập mở được áp dụng; bước đầu hình thành hệ sinh thái số với các thành phần như thư viện điện tử, phản hồi học tập trực tuyến và kết nối đào tạo – nghiên cứu – quản trị.
Đối với các lĩnh vực đặc thù của Công an nhân dân, lý luận về an ninh phi truyền thống và tác chiến số đã được vận dụng mạnh trong một số ngành trọng điểm như an ninh mạng, kỹ thuật nghiệp vụ và phòng chống tội phạm công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực tác chiến trong môi trường số cho học viên. Tuy nhiên, việc lan tỏa các nội dung này sang toàn bộ hệ thống đào tạo còn hạn chế. Tương tự, năng lực số của giảng viên và học viên tuy đã được nâng lên nhưng vẫn còn khoảng cách lớn giữa các nhóm, thiếu chuẩn năng lực số thống nhất và thiếu cơ chế kiểm tra, đánh giá định kỳ.
Đổi mới giáo dục đại học trong Công an nhân dân thời kỳ chuyển đổi số đã hình thành nền tảng nhưng chưa đạt đến mức độ hệ thống – tích hợp – đồng bộ như yêu cầu đặt ra. Tính phân mảnh của dữ liệu, sự thiếu ổn định của hạ tầng số, sự chênh lệch năng lực số giữa các nhóm giảng viên và sự thiếu vắng khung lý luận đặc thù cho giáo dục đại học Công an nhân dân trong bối cảnh số là những vấn đề nổi bật. Điều này cho thấy, cần tiếp tục phát triển và hoàn thiện lý luận, đồng thời tổ chức vận dụng một cách có cấu trúc và nhất quán hơn trong toàn hệ thống.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công an (2016). Tài liệu học tập lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên đề cho cán bộ quản lý giáo dục học viên các học viện, trường Vũ trang Nhân dân. Hà Nội.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2020). Cẩm nang chuyển đổi số. H. NXB Thông tin và Truyền thông.
3. Bùi Minh Giám (Chỉ đạo biên soạn) (2016). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn công tác giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. H. Nhà xuất bản Lao động.
4. Học viện An ninh nhân dân (2024). 55 năm đào tạo đại học của Học viện An ninh nhân dân – Thành tựu và bài học kinh nghiệm. Kỷ yếu 55 năm đào tạo Học viện An ninh nhân dân.
5. Nguyễn Viết Cường (2024). Giải pháp nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy chuyển đổi số cho cán bộ, giảng viên, học viên Học viện An ninh nhân dân. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
6. Nguyễn Ngọc Cương (2024). Bảo đảm an ninh mạng trong xây dựng nhà trường thông minh Công an nhân dân. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
7. Nguyễn Đình Nghĩa (2024). Phát triển hệ sinh thái số trong Học viện thông minh C500. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
8. Nguyễn Trường Thọ (2024). Đổi mới quản trị đại học đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong các trường Công an nhân dân. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
9. Trần Tuấn Tú (2024). Đổi mới sáng tạo trong phương pháp dạy học dựa trên công nghệ 4.0 tại Học viện An ninh nhân dân. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
10. Trần Trọng Vinh (2024). Giải pháp giám sát, kiểm soát an ninh tổng thể cho các trường Công an nhân dân. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.
11. Nguyễn Văn Thiết (2024). Giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số. Kỷ yếu “Chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh”.



