Khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ dưới góc độ tiếp cận từ ba lý thuyết hợp tác quốc tế

ThS. Nguyễn Quang Sáng
Học viện Chính trị khu vực II

(Quanlynhanuoc.vn) – Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là mối quan hệ đặc biệt, có chiều sâu lịch sử, chính trị và ngoại giao phức tạp. Từ khi hai nước thiết lập khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện (tháng 9/2023), quan hệ song phương bước sang giai đoạn phát triển mới, phản ánh nhu cầu hợp tác và đan xen lợi ích ngày càng lớn. Trên cơ sở tiếp cận ba lý thuyết hợp tác chủ yếu trong quan hệ quốc tế (hiện thực, thể chế và kiến tạo), bài viết phân tích bản chất, động lực và giới hạn của khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay; đồng thời, nhận diện những cơ hội và thách thức chiến lược trong tiến trình phát triển quan hệ song phương. Trên cơ sở đó, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của mô hình “đối tác chiến lược toàn diện” đối với chính sách đối ngoại Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn hiện nay.

Từ khóa: Đối tác chiến lược toàn diện; hợp tác; lý thuyết hợp tác; quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

1. Đặt vấn đề

Trên thế giới hiện nay, các quốc gia có chủ quyền với tư cách là những chủ thể quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế có chế độ chính trị và thể chế kinh tế khác nhau nhưng đều có chung mục tiêu là duy trì và phát triển bằng sức mạnh tổng hợp mà quốc gia đó có được. Đó có thể là sức mạnh tổng hợp trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ, như: Hoa Kỳ, Trung Quốc hoặc các quốc gia có sức mạnh về kinh tế, như: Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhưng cho dù các quốc gia đó là cường quốc, cường quốc tầm trung, thậm chí là nước nhỏ đang phát triển thì đều có nhu cầu hợp tác. Sự đan xen lợi ích là yếu tố quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại. Điều này góp phần giải thích vì sao một nước lớn có sức mạnh tổng hợp, có sức ảnh hưởng toàn cầu như Hoa Kỳ lại trở thành đối tác chiến lược với Việt Nam. Việc phân tích, đánh giá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ theo khung phân tích các lý thuyết, như:thuyết hiện thực, thuyết thể chế và thuyết kiến tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ song phương nói riêng, từ đó, có cơ sở kiểm chứng lý thuyết trong quan hệ thực tế hai nước hiện nay.

2. Các lý thuyết về hợp tác

2.1. Thuyết hiện thực 

Thuyết hiện thực (realism) được nhiều học giả hiện nay đề cập đến khái niệm gọi là “anarchy” (vô chính phủ, tức không có chính phủ toàn cầu). Nhận định này có cơ sở vì trong đời sống quan hệ quốc tế hiện nay không có cái gọi là chính phủ toàn cầu cho mọi quốc gia. Bởi vì có cái gọi là “vô chính phủ” như vậy cho nên nguy cơ đe dọa đến các vấn đề, như: an ninh quốc gia, nguy cơ chiến tranh và xung đột luôn hiện hữu phải liên kết và hợp tác với nhau để hình thành sức mạnh chung, vì lợi ích chung1. Các quốc gia vận hành trong hệ thống quốc tế theo những nguyên tắc nhất định cùng với sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau tác động đến nhận thức và quan điểm hợp tác của các quốc gia với nhau. 

Tiếp cận thuyết hiện thực khi phân tích quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay có thể nhận thấy, Hoa Kỳ là cường quốc có sức mạnh tổng hợp trên tất cả các phương diện và là đại diện tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa tư bản hiện đại khi quan hệ với Việt Nam, một nước theo con đường chủ nghĩa xã hội. Hoa Kỳ vận dụng chính sách đối ngoại nhằm kiềm chế, phong tỏa Việt Nam theo ảnh hưởng của Hoa Kỳnhưng đồng thời cũng lôi kéo Việt Nam thay vì để Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Mặt khác, thuyết hiện thực còn được học giả Kenneth Waltz cho rằng, việc lôi kéo, hợp tác giữa các nước còn thể hiện cho sự cân bằng lực lượng và tương quan so sánh lực lượng hiện nay2 của các quốc gia, nhất là các cường quốc. Điều này có nghĩa là, bản chất của hợp tác được hiểu theo hai hướng: nhấn mạnh yếu tố lợi ích để đạt được sự thỏa thuận về khả năng gia tăng ảnh hưởng trước các nguy cơ đe dọa hiện hữu và thông qua hợp tác làm tăng cường sức mạnh trong tương quan so sánh lực lượng. Như vậy, có thể nhận định rằng, xét trên phương diện nào thì yếu tố lợi ích, trong đó lợi ích cốt lõi hay lợi ích chiến lược tùy theo cách gọi của các bên mới là yếu tố quyết định vấn đề hợp tác. Khi các yếu tố này không còn thì quá trình hợp tác sẽ chấm dứt và các bên tìm kiếm sự hợp tác từ các đối tác khác. Theo cách tiếp cận như vậy, có thể thấy: “thuyết hiện thực không loại trừ khả năng các nước hợp tác với nhau” và “hợp tác giữa các nước không có tính chất lâu dài, vì khả năng chuyển hóa bạn – thù là thường xuyên”3

2.2. Thuyết thể chế 

Thuyết thể chế không phủ nhận vai trò của thuyết hiện thực về hợp tác, vẫn xem “vô chính phủ” tồn tại là khách quan nhưng khác biệt căn bản của thuyết thể chế ở sự ghi nhận của các thể chế quốc tế và các tổ chức quốc tế nhiều hơn trong vai trò điều phối, hỗ trợ, thậm chí là dẫn dắt các quốc gia. Điển hình cho trường phái này là học giả Stephan Krasner với lập luận về vai trò của các tổ chức trung gian quốc tế4. Thuyết thể chế cho rằng, các quốc gia hợp tác với nhau để làm giảm mức độ căng thẳng, nghi ngờ nhau thì cần thiết, nhất là thông qua các tổ chức quốc tế, các thể chế quốc tế, như: Liên Hợp quốc (UN) hoặc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ giúp các nước có thể hợp tác dễ dàng hơn thay vì cạnh tranh với nhau. Robert Keohane cũng cho rằng, xu hướng bá quyền – nước lớn là không thể tránh khỏi, cho dù các quốc gia có thông qua các tổ chức quốc tế hay không thì các tổ chức quốc tế này luôn chịu sự chi phối của các nước lớn. Do vậy, quan điểm của thuyết thể chế là chưa đủ mạnh để giải thích cho hành vi của các nước lớn đối với các nước nhỏ, như: hành vi của Hoa Kỳ đơn phương triển khai quân đội chiếm đánh Iraq, Afghanistan, Kosovo…; đơn phương rút khỏi các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Công ước Paris về chống biến đổi khí hậu hoặc gần đây nhất là hành vi đơn phương áp thuế đối ứng toàn cầu vì điều này đi ngược lại các quy tắc của WTO. Như vậy, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ mặc dù có những điểm song trùng lợi ích trên một số lĩnh vực, như: kinh tế, thương mại nhưng lại có sự đan xen lợi ích trên lĩnh vực khác, như: an ninh, an toàn hàng hải, biển Đông, thậm chí có lĩnh vực còn đấu tranh lâu dài, như: dân chủ, nhân quyền. 

2.3. Thuyết kiến tạo 

Thuyết kiến tạo là lý thuyết mới so với các lý thuyết khác và quan điểm của thuyết kiến tạo về hợp tác có những giá trị nhất định. Những giá trị mà những người theo thuyết này gọi đó là “bản sắc” (identity). Theo quan điểm của học giả Nguyễn Vũ Tùng dẫn chứng giả thuyết nghiên cứu của học giả Alexander Wendt cho thấy, bản sắc là những nét tương đồng mang tính xã hội và các quốc gia khi hợp tác với nhau đều thừa nhận những giá trị chung và phát triển chúng thành những ý tưởng để thống nhất hành động5. Trong quan hệ quốc tế ngày nay, đó là các cộng đồng, các quốc gia có cùng những nét tương đồng về văn hóa, chính trị hoặc lịch sử đều rất dễ hình thành các giá trị và ý tưởng chung, trường hợp điển hình là Liên minh châu Âu (EU) hay Cộng đồng ASEAN. Tuy nhiên, thuyết kiến tạo tuy có nhấn mạnh tính bản sắc trong hợp tác nhưng vẫn thừa nhận những giá trị chung trong hợp tác, đó là những giá trị, chuẩn mực, hành vi của nhân loại, sự tiến bộ chung của loài người được thế giới thừa nhận và khuyến khích phát huy. Như vậy, đây là một luận điểm quan trọng khi đánh giá quan hệ hợp tác giữa các bên trong bối cảnh mới hiện nay, các bên hoàn toàn có thể vượt qua được sự khác biệt trong nhận thức chính trị và văn hóa để hướng đến xây dựng những chuẩn mực chung, tiến bộ, phù hợp với những xu thế mới của thời đại, đó là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển. 

3. Kiểm chứng ba lý thuyết về hợp tác trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay

Một là, xét theo thuyết kiến tạo. Kiến tạo chính là kiến tạo hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng. Đây là mục tiêu cao nhất trong quan hệ hợp tác của Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới. Phân tích thuyết kiến tạo trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cho thấy, những giá trị của người Việt trong mắt người Mỹ là những nét rất riêng của Việt Nam mà những nhà cầm quyền ở Washington không thể nào hiểu được về con người và văn hóa Việt Nam. Trong quan hệ đối ngoại qua các đời Tổng thống Hoa Kỳ khi đến thăm chính thức Việt Nam đều để lại ấn tượng sâu sắc trong mắt họ về đất nước và con người Việt Nam văn minh, thân thiện và đường phố an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay trong quan hệ hai nước theo phân tích từ thuyết kiến tạo, đó là Hoa Kỳ thường viện dẫn những “giá trị kép” cho Việt Nam, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền và quy chế kinh tế thị trường tự do. Chính những giá trị trước nay vốn được xem là phổ quát, là thành tựu của nhân loại, như: dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị trường lại được người Mỹ đưa ra mặc cả trong đàm phán ngoại giao đối với các nước. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đã rất cố gắng bằng nhiều kênh ngoại giao linh hoạt, phù hợp với lợi ích đất nước đã giúp hai nước ngày càng hiểu rõ hơn và có thiện chí hợp tác hơn.

Hai là, xét theo thuyết hiện thực. Hoa Kỳ là cường quốc trên hầu hết các lĩnh vực, quan hệ với Hoa Kỳ là quan hệ với nước lớn thì các yếu tố về lợi ích kinh tế và quân sự là có lợi cho Việt Nam; đồng thời, có lợi cho Hoa Kỳ trong bối cảnh cạnh tranh với Trung Quốc ở khía cạnh địa kinh tế và địa chính trị khi Việt Nam có vị trí láng giềng với Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ sau bình thường hóa năm 1995 đến nay có sự tiến triển trên hai cấp độ hợp tác quan trọng là cấp độ đối tác toàn diện (tháng 7/2013) và cấp độ đối tác chiến lược toàn diện (tháng 9/2023). Nếu như trong tuyên bố chung năm 2013, mục tiêu trong khuôn khổ này là: “quan hệ đối tác toàn diện nhằm góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước trong khu vực và trên toàn thế giới”6 thì sang tuyên bố chung năm 2023, mục tiêu mới trong khuôn khổ này là: “Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm lợi ích của Nhân dân hai nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới”7. Như vậy, nhận thức mới đó là hai nước đã xác định rõ hơn kết quả hợp tác trong khuôn khổ hợp tác để “phục vụ và bảo đảm lợi ích của Nhân dân hai nước”. Nhân dân hai nước sẽ là chủ thể cần hướng đến của Chính phủ hai nước. Mục tiêu này được lãnh đạo cao nhất của hai quốc gia thống nhất rất cao. Mặt khác, điều này cũng thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và quan điểm của Việt Nam khi xác định Nhân dân là chủ thể cao nhất mà Nhà nước phục vụ. 

Trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay, nếu Việt Nam xác định lợi ích quốc gia – dân tộc là cao nhất thì Hoa Kỳ xác định khẩu hiệu “America First” – một dạng lợi ích chiến lược theo cách gọi của họ8. Bên cạnh đó, lợi ích chiến lược mà Hoa Kỳ nhắm đến là Trung Quốc và hiện quan hệ hai nước căng thẳng hơn bao giờ hết, đặc biệt là sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump áp thuế đối ứng lên toàn cầu với 180 quốc gia chịu sự ảnh hưởng. Nếu xét ở khía cạnh hợp tác, Trung Quốc và Hoa Kỳ đều là đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, trong trường hợp này, Việt Nam đã và đang ở trong tình thế cạnh tranh chiến lược nước lớn hết sức phức tạp vì nếu không khôn khéo trong chính sách đối ngoại, Việt Nam rất dễ rơi vào tình thế gọi là “chọn bên”, do đó, sẽ đi ngược lại chính sách đối ngoại mà Việt Nam đang theo đuổi, đó là lợi ích cao nhất là lợi ích quốc gia – dân tộc.

Ba là, xét theo thuyết thể chế. Theo quan điểm của thuyết thể chế thì quan hệ hệ với Hoa Kỳ là rất thuận lợi cho Việt Nam khi tham gia vào đàm phán tại các cơ chế đa phương. Do đó, nếu chỉ xem xét thể chế khuôn khổ hợp tác chỉ là “toàn diện” sẽ khó thấy mối quan hệ nhân quả trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ là bước phát triển mới, cao hơn tất cả các quan hệ hợp tác thông thường khác ở chỗ “chiến lược toàn diện”.

Trong khuôn khổ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện chính là triển khai hợp tác về chiều sâu và thực chất của quan hệ hợp tác song phương. Xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn quan hệ hai nước trong suốt thời qua (kể từ năm 2013) thì lòng tin chính trị hay lòng tin chiến lược chưa thật sự được khẳng định. Để minh chứng cho nhận định này, trong Tuyên bố chung tháng 9/2023 nhấn mạnh một số nội dung hợp tác mang tầm chiến lược toàn diện mới mà Tuyên bố chung năm 2013 chưa đề cập đó là: (1) Đầu tư trong khuôn khổ hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư; (2) Hợp tác số và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác số, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; khí hậu và năng lượng trong khuôn khổ hợp tác về khí hậu, năng lượng, môi trường và y tế; (3) Giao lưu Nhân dân trong khuôn khổ hợp tác về văn hóa – giao lưu nhân dân – thể thao – du lịch… Đây là các nội dung mới trong thực tiễn quan hệ song phương hai nước từ tháng 9/2023 đến nay nhưng có ý nghĩa về mặt lý luận sâu sắc, đó là khẳng định tính bền vững và cam kết sự hiện diện lâu dài. 

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ còn tồn tại nhiều điểm nghẽn cần tiếp tục trao đổi và tăng cường thúc đẩy với sự tin cậy cao nhất. Đến thời điểm hiện tại Hoa Kỳ vẫn chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, dù hình thức và nội dung hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những cơ chế nhất định về mặt khuôn khổ hợp tác nhưng lòng tin chiến lược vẫn chưa được xác định và củng cố9. Do đó, đây được xem là sự hạn chế nhất về mức độ thực chất trong hợp tác, tức nội dung hợp tác chưa đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả. Quá trình đẩy mạnh hợp tác song phương Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới hiện nay cho thấy, thuyết thể chế đã chỉ ra luận điểm quan trọng là xây dựng các quy chế hợp tác giữa các bên (tuyên bố chung, bản ghi nhớ, thỏa thuận, điều ước quốc tế…). Thuyết thể chế đã lý giải sự cần thiết khi xây dựng những quy chế trong quan hệ hợp tác, nhất là các quy chế, quy định nhằm thúc đẩy tự do thương mại, tự do kinh tế và góp phần làm sâu sắc thêm quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ. Tuy nhiên, thuyết thể chế cũng cho rằng, nhiều hành động đơn phương của Hoa Kỳ, như: áp thuế đối ứng toàn cầu hoặc rút khỏi các cơ chế đa phương mà Hoa Kỳ và Việt Nam đều là thành viên dường như đã vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến quy chế hợp tác hiện có. Nhìn chung, lý thuyết thể chế vẫn có giá trị tham chiếu quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay khi mà cả hai nước đều thừa nhận những nguyên tắc chung nhất định của luật pháp quốc tế, nhất là những quy tắc chung của Liên Hợp quốc trong đối thoại chính sách quốc gia giữa hai nước.

4. Một số khuyến nghị 

Thứ nhất, sự hợp tác của Hoa Kỳ đối với Việt Nam về bản chất vẫn nhằm kiềm chế Việt Nam trong vòng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Điều này là dễ hiểu vì dù muốn hay không thì sự chi phối giữa một cường quốc đến một nước ở vị thế yếu hơn trong quan hệ quốc tế. Do đó, trước xu thế “bá quyền – nước lớn” của Hoa Kỳ, Việt Nam cần hết sức tỉnh táo trước các hành vi áp đặt đơn phương trong quan hệ giữa hai quốc gia. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ lâu được nhiều nhà phân tích chính trị xem là có xu hướng ngày càng mở rộng “sức mạnh Mỹ” đến các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có vị trí chiến lược quan trọng như Việt Nam.

Thứ hai, hiện nay, trong quan hệ quốc tế, các quốc gia có xu hướng điều hòa lợi ích, các bên tham gia hợp tác vì lợi ích giống nhau thì có mối quan hệ với nhau, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến kinh tế vì mang tính toàn cầu. Do đó, Việt Nam cần nhấn mạnh đến nhân tố kinh tế trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ. Trong hầu hết các phát biểu của lãnh đạo cấp cao, hai nước đều nhấn mạnh tính tất yếu khách quan của mối quan hệ hai nước hiện nay là “Hoa Kỳ cần Việt Nam, Việt Nam cần Hoa Kỳ”. Thực tiễn 30 năm qua cho thấy, quan hệ hai nước, nhất là về kinh tế ngày càng đi vào chiều sâu và ngày càng trở nên hiểu biết nhau nhiều hơn trên nhiều lĩnh vực vốn trước đây được xem là nhạy cảm, như: chính trị, an ninh, nhân quyền…

Thứ ba, quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ được đặt trong mối tương quan, so sánh lực lượng. Trong bối cảnh mới, các nước lớn hiện nay có xu hướng vừa đối đầu, vừa hợp tác, điển hình cho sự cạnh tranh này biểu hiện trên thực tiễn rất phức tạp mà trường hợp điển hình là cạnh tranh chiến lược Hoa Kỳ – Trung Quốc đang căng thẳng hơn bao giờ hết. Do đó, Việt Nam luôn phải khéo léo, bảo đảm tốt nguyên tắc “bốn không” và không bao giờ được “chọn bên” trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, sự hiện diện của Hoa Kỳ với tư cách là bên đối tác quan trọng của ASEAN mà Việt Nam đang là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong ASEAN cũng là một nội dung quan trọng cần lưu ý trong quan hệ hai nước hiện nay. 

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cho thấy, mặc dù có nhiều khác biệt về quan điểm chính trị nhưng đã có những thành công nhất định trên một số lĩnh vực, nhất là kinh tế. So với khuôn khổ đối tác toàn diện hai nước ký kết tháng 7/2013, thì khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện từ tháng 9/2023 không chỉ khẳng định vị thế mới của Việt Nam đối với Hoa Kỳ mà còn cho thấy sự ghi nhận của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam và đã chứng minh cho sự thay đổi về nhận thức cơ bản của hai nước trên tất cả các phương diện trong quan hệ song phương hiện nay.

5. Kết luận

Từ việc tiếp cận và vận dụng ba lý thuyết hợp tác chủ yếu trong quan hệ quốc tế, bài viết đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của khuôn khổ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ. Kết quả phân tích cho thấy, bản chất của quan hệ hợp tác này vừa mang tính lợi ích theo hướng tiếp cận hiện thực, vừa chịu sự điều tiết của các thể chế đa phương; đồng thời, thể hiện quá trình kiến tạo những giá trị, chuẩn mực chung hướng đến hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Mặc dù còn tồn tại một số “điểm nghẽn” về lòng tin chiến lược và khác biệt nhận thức, song khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước là bước phát triển có ý nghĩa chiến lược, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong cấu trúc khu vực và toàn cầu. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động tận dụng các cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ phát triển thực chất, hiệu quả và vì lợi ích của Nhân dân hai nước.

Chú thích:

1. Hans Morgenthau (1985). Politics Among Nations: The Struggle for Power and Peace. NXB McGraw Hill, Hoa Kỳ, tr. 200 – 202.

2. Kenneth Waltz (1990). Realist Thought and Neorealist Theory. Journal of International Affairs, No.44, tr. 21 – 37.

3, 5. Nguyễn Vũ Tùng, Hoàng Anh Tuấn (2006). Quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế: Từ lý thuyết đến thực tiễn. Học viện Quan hệ quốc tế, tr. 19, 25. 

4. Stephan Krasner (1983). International Regimes. NXB Đại học Cornell, Hoa Kỳ, tr. 335.

6. Bộ Ngoại giao (2013). Tuyên bố chung Việt Nam – Hoa KỳNhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, tháng 7/2013.

7. Bộ Ngoại giao (2023). Tuyên bố chung Việt Nam – Hoa Kỳ: Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, tháng 9/2023.

8. Nguyễn Vũ Tùng (2007). Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam. Học viện Quan hệ quốc tế, tr. 36.

9. Tại sao Mỹ tiếp tục không công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường? https://vsforum.org/article/tai-sao-my-tiep-tuc-khong-cong-nhan-viet-nam-la-nen-kinh-te-thi-truong, truy cập ngày 07/8/2024.