Kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường của Singapore trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khuyến nghị cho Việt Nam

ThS. Lê Thanh Tùng
Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong những thập kỷ qua, biến đổi khí hậu đã vượt quá phạm vi của một vấn đề môi trường đơn thuần và đã trở thành thách thức lớn cho nhân loại. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, theo đó, chi phối cả việc xây dựng định hướng phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác quản lý nhà nước về môi trường đóng vai trò then chốt, bảo đảm phát triển hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững. Chính vì vậy, cần tăng cường việc tiếp thu, kế thừa những bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực môi trường từ các quốc gia có điều kiện địa lý, tự nhiên gần gũi với Việt Nam. Điển hình trong các quốc gia đó là Singapore.

Từ khoá: Biến đổi khí hậu, quản lý nhà nước về môi trường, bài học kinh nghiệm, Singapore.

1. Đặc điểm môi trường của Singapore

Cộng hòa Singapore bao gồm phần quốc đảo Singapore cùng khoảng 54 đảo nhỏ, với tổng diện tích đất khoảng 712,4 km2, quốc đảo này nằm ở kinh độ 103o50’ Đông và vĩ độ 1o17’ Bắc, tại cực nam của bán đảo Mã Lai, nối liền với Malaysia bằng cầu đường sắt – đường bộ cũ và một cây cầu mới bắc qua eo biển Tebrau. Singapore có khí hậu nhiệt đới ẩm, các mùa không có sự khác biệt rõ rệt, nhiệt độ trung bình khoảng 28oC, độ ẩm khoảng 70%, và lượng mưa trung bình năm ở mức 2.400 mm. Tổng thể bức tranh địa lý cho thấy, Cộng hòa Singapore sở hữu vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm trên các tuyến giao thương huyết mạch về hàng hải, hàng không, viễn thông và thương mại giữa châu Âu, khu vực Viễn Đông cũng như châu Đại Dương (Saw Swee-Hock, 2007)1.

Quốc đảo Singapore nằm tại trung tâm của kho tàng đa dạng sinh học, nơi hội tụ một loạt các hệ sinh thái nhiệt đới đặc sắc. Toàn bộ hòn đảo được che phủ bởi những mảng rừng mưa nhiệt đới, đầm lầy nước ngọt, rừng ngập mặn và các bãi triều (Ng,P & Corlett, 2011)2. Không chỉ có hệ sinh thái đa dạng trên cạn và ven bờ, vùng biển phía Nam của Singapore, nơi tập trung các hòn đảo nhỏ, sở hữu những rạn san hô phong phú, tạo nên một quần thể sinh cảnh biển đa dạng và có giá trị sinh thái đặc biệt lớn.

Mặc dù có những thuận lợi nhất định về vị trí địa lý và sự phong phú về đa dạng sinh học, tuy nhiên, đảo quốc này lại không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên. Singapore không có nguồn nước ngọt từ sông hồ tự nhiên (Đặng Thị Kim Chi, 2018)3, do địa hình thấp, diện tích hạn chế cùng các dòng chảy tự nhiên chỉ từ các con suối và kênh rạch không đủ khả năng cung cấp nước cho các hoạt động công nghiệp hay nhu cầu sinh hoạt, cùng với đó do mật độ đô thị hóa cao khiến quốc đảo này không có cơ sở hạ tầng tích trữ nước quy mô lớn. Phần lớn nguyên liệu thô phục vụ sản xuất được Singapore nhập khẩu từ các quốc gia, như: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc…

2. Quản lý nhà nước về môi trường tại Singapore

Hệ thống này bao gồm cơ cấu tổ chức, công cụ pháp lý, kinh tế, chính sách cùng cơ chế điều hành nhằm bảo đảm việc đưa ra quyết định, thực thi và giám sát các hoạt động liên quan đến môi trường diễn ra một cách nhanh chóng, hiệu quả, minh bạch, có trách nhiệm và có sự đồng hành, phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, khối tư nhân và người dân (UNEP, 2010)4.

Mặc dù không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và chịu ảnh hưởng lớn từ vị trí địa lý, địa hình và khí hậu nhưng Singapore lại được đánh giá là quốc gia có hệ thống quản lý nhà nước về môi trường hiệu quả, đồng bộ hàng đầu thế giới. Sau khi giành được độc lập vào năm 1965, tách khỏi Malaysia và trở thành quốc gia có chủ quyền, Singapore dần thay đổi mô hình quản lý môi trường từ mang tính kiểm soát ô nhiễm sang mô hình quản trị môi trường tích hợp, trong đó mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội đều gắn liền với các mục tiêu về môi trường. Có thể thấy rõ hiệu quả của mô hình quản lý này qua việc năm 2024 vừa qua, Singapore được xếp hạng thứ 2 châu Á, sau Hồng Kông (Trung Quốc) và đứng thứ 9 trên thế giới trong bảng xếp hạng các thành phố của Schroders5. Chính phủ Singapore áp dụng hệ thống công cụ quản lý nhà nước về môi trường một cách đa dạng và hài hòa, kết hợp giữa các bộ công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và công cụ kỹ thuật – công nghệ.

Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức và thể chế quản lý môi trường, Chính phủ Singapore thiết lập mô hình quản lý tập trung, thống nhất dưới sự quản lý, giám sát, điều hành của Bộ Phát triển Bền vững và Môi trường (Ministry of Sustainability and the Environment – MSE), đây là cơ quan cấp bộ có chức năng điều phối toàn diện lĩnh vực môi trường, khí hậu, tài nguyên nước và an ninh lương thực. MSE có 12 đơn vị cấp cục trực thuộc, các viện nghiên cứu và 3 cơ quan chuyên môn hoạt động theo mô hình bán tự chủ, chịu trách nhiệm triển khai các chính sách môi trường bao gồm Cơ quan Môi trường Quốc gia (National Environment Agency – NEA), Cơ quan Nước quốc gia Singapore (Singapore National Water Agency – PUB), Cơ quan Thực phẩm Singapore (Singapore Food Agency – SFA). Các cơ quan này phối hợp, vận hành khép kín qua mô hình ba trụ cột chính sách – vận hành – nghiên cứu (Policies Operations Research cycle). Công tác quản lý nhà nước về môi trường được vận hành đồng bộ giúp Singapore có thể đưa ra các cơ chế chính sách một cách nhanh chóng và chính xác, bám sát thực tiễn hiện trạng môi trường, dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập từ các trạm quan trắc được lắp đặt toàn thành phố cùng bộ số liệu từ các nghiên cứu khoa học. Đây là một trong những yếu tố căn bản giúp quốc đảo sư tử có thể đồng bộ hóa được tăng trưởng kinh tế cùng các mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ hai, về công cụ pháp lý, Singapore áp dụng bộ công cụ pháp lý về môi trường bao trùm các lĩnh vực như kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ không khí, đất, nước, quản lý chất thải, sử dụng hiệu quả năng lượng và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các văn bản luật do Quốc hội Singapore ban hành tiêu biểu có thể kể đến như: Đạo luật Sức khỏe Cộng đồng Môi trường (Environmental Public Health Act/ EPHA-1987); Đạo luật Bảo vệ và Quản lý Môi trường (Environmental Protection and Management Act/EPMA-1999); Đạo luật Bảo tồn năng lượng (Energy Conservation Act/ ECA-2012); Đạo luật về ô nhiễm khói mù xuyên biên giới (Transboundary Haze Pollution Act/ THPA-2014); Đạo luật Định giá các-bon (Carbon Pricing Act/ CPA-2018) và Đạo luật Bền vững tài nguyên (Resource Sustainability Act/ RSA-2019).

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường của Singapore mang tính kế thừa, kết nối và phát triển mở rộng tạo nên khung pháp lý tổng thể, đa lĩnh vực thống nhất: 1) EPHA-1987 là bước đệm ban đầu cho công tác quản lý vệ sinh công cộng và chất thải sinh hoạt; 2) EPMA-1999 đẩy mạnh các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, cấp phép cho môi trường công nghiệp; 3) ECA-2012 bổ sung công cụ quản lý lĩnh vực năng lượng; 4) THPA-2014 mở rộng khung pháp lý ra ngoài lãnh thổ biên giới, quan tâm đến công tác xử lý các nguồn ô nhiễm từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Thứ ba, về công cụ kinh tế, Singapore là quốc gia tiên phong áp dụng cơ chế thị trường trong công tác quản lý môi trường tại khu vực Đông Nam Á. Từ giai đoạn những năm 70 của thế kỷ XX, Singapore sớm nhận thấy sẽ rủi ro phát sinh nếu đẩy mạnh phát triển kinh tế mà không song hành cùng công tác bảo vệ môi trường có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng tới sức khỏe người dân và chất lượng cuộc sống tại đô thị. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Singapore đã áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (Polluter Pays Principle) (SINC, 2000)6. Các khu vực hoạt động công nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm và thanh toán chi phí cho việc xử lý ô nhiễm, xử lý nước thải, khí thải và quản lý chất thải rắn thay vì đẩy trách nhiệm xử lý môi trường sang cho các cơ quan quản lý nhà nước hay xã hội. Việc các cơ sở, doanh nghiệp không tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về môi trường sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, theo quy định tại EPMA-1999 cá nhân hay tổ chức xả thải hóa chất độc hại ra môi trường hoặc nguồn nước có thể bị phạt tới 50.000 đô-la Singapore (SGD) hoặc 12 tháng tù. Nhờ việc áp dụng đồng bộ cơ chế thu phí và xử phạt, mô hình quản lý môi trường dựa trên trách nhiệm tài chính và tuân thủ pháp lý đã buộc các chủ thể gây ô nhiễm, xả thải phải điều chỉnh hành vi, đầu tư vào công nghệ xử lý xanh hơn và sạch hơn, giúp Singapore có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng nhưng không phải đánh đổi quá lớn về môi trường.

Định hướng phát triển pháp luật môi trường của Singapore bước sang giai đoạn chuyển đổi xanh dựa được thể hiện khá rõ nét trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay, thông qua CPA-2018, văn bản pháp luật đầu tiên tại Đông Nam Á thiết lập công cụ tài chính định giá khí thải các-bon (AMRO, 2022)7, và nội luật hóa các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. CPA-2018 được Quốc hội Singapore thông qua vào tháng 3 năm 2018 và có hiệu lực từ tháng 01/2019, áp dụng thuế các-bon đối với các cơ sở phát thải khí nhà kính từ 25.000 tấn CO2 tương đương (tCO2tđ) trở lên mỗi năm. Mức thuế được áp dụng trong giai đoạn 2019-2023 là 5 SGD/tCO2tđ với lộ trình tăng dần lên 25 SGD/tCO2tđ cho giai đoạn 2024 – 2025, 45 SGD/tCO2tđ cho giai đoạn 2026 – 2027 và dự kiến đạt mức 50 – 80 SGD/tCO2tđ sau năm 2030. Cơ chế này bảo đảm việc đưa ra lộ trình rõ ràng cho các doanh nghiệp có thể chủ động trong sản xuất, đồng thời, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ hiện đại hơn để giảm phát thải khí nhà kính cũng như góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Singapore (Shabana, 2025)8.

Chính sách phát triển bền vững của Singapore được thể hiện qua khung pháp lý RSA-2019, hướng tới công tác thúc đẩy kinh tế tuần hoàn sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Văn bản pháp lý này xác định rõ các loại chất thải ưu tiên như chất thải thực phẩm, điện, điện tử và bao bì qua đó quy định trách nhiệm pháp lý đối với các nhà sản xuất, nhập khẩu và bán lẻ các sản phẩm có liên quan. Đồng thời, yêu cầu các doanh nghiệp báo cáo thông tin, dữ liệu và kế hoạch giảm, tái sử dụng, tái chế (3R)9 trong quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ.

Thứ tư, về công cụ công nghệ – kỹ thuật, Singapore là một trong số những quốc gia tiên phong trong khu vực ứng dụng khoa học, dữ liệu và áp dụng đổi mới công nghệ trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. Đây được coi là một trong số những trụ cột chính giúp cho quốc đảo này không chỉ khắc phục được những hạn chế về tài nguyên, tối ưu hóa hiệu quả trong công tác quản lý môi trường mà còn hỗ trợ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. Từ một quốc gia phải phụ thuộc vào nguồn nước mua từ vùng Johor, Malaysia, Chính phủ Singapore đã giới thiệu chương trình NEWater, do PUB triển khai từ giai đoạn năm 2003, sử dụng công nghệ lọc nước thải đã qua xử lý qua ba bước, bao gồm, vi lọc/siêu lọc (Microfiltration/Ultrafiltration); thẩm thấu ngược (Reverse Osmosis) và diệt khuẩn bằng tia UV (Ultraviolet Disinfection). Hệ thống này giúp tái chế nước thải đã qua xử lý thành loại nước siêu sạch, tiêu chuẩn cao có thể sử dụng cho nhu cầu công nghiệp hay thậm chí bổ sung cho hệ thống nước phục vụ sinh hoạt của thành phố. Chương trình này đã hỗ trợ đảo quốc sư tử bảo đảm an ninh nguồn nước và hướng tới mục tiêu quản lý nước tuần hoàn, biến nước thải trở thành một loại tài nguyên giá trị.

Ngoài ra, Singapore là quốc gia tiên phong trong khu vực đẩy mạnh áp dụng khoa học, công nghệ qua sáng kiến Quốc gia thông minh Singapore (Smart Nation Singapore) được giới thiệu năm 2014. Thông qua việc sử dụng các công nghệ tiên tiến, dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm cải thiện cuộc sống của người dân, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế. NEA và PUB đã phối hợp và phát triển các công cụ giám sát, theo dõi chất lượng không khí, nước và tiếng ồn theo thời gian thực nhằm phục vụ công tác quản lý và đưa ra những cảnh báo sớm cho người dân về chất lượng môi trường. Từ những số liệu mang tính chính xác gần như tuyệt đối thu thập từ những trạm quan trắc, các cơ quan quản lý có thể xây dựng và đưa ra những quyết định chính sách liên quan tới môi trường dựa trên phân tích dữ liệu. Với sự hỗ trợ của công nghệ kỹ thuật hiện đại, Singapore đã xây dựng được hệ sinh thái theo dõi, giám sát, đánh giá môi trường một cách tương đối toàn diện và có khả năng phản ứng nhanh, góp phần nâng cao khả năng thích ứng và chống chịu với biến đổi khí hậu.

Tổng thể bức tranh quản lý nhà nước về môi trường của Singapore cho thấy sự kế thừa có chủ đích với mục tiêu phát triển thống nhất, hiện đại, có khả năng thích ứng cao trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Sự kết hợp hài hòa giữa những yếu tố như cơ cấu tổ chức, công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và công cụ công nghệ – kỹ thuật đã tạo nên một bộ máy quản lý nhà nước về môi trường đồng bộ, khép kín và hoạt động hiệu quả. Ngoài việc kiểm soát các vấn đề ô nhiễm truyền thống, Singapore còn xây dựng nền móng chính sách tương đối vững chãi cho quá trình chuyển đổi xanh sang nền kinh tế các-bon thấp thông qua công cụ tài chính như thuế các-bon, thị trường các-bon, thúc đẩy tái sử dụng tài nguyên,  với mục đích nâng cao khả năng chống chịu với các rủi ro thiên tai, khí hậu và đảm bảo phát triển bền vững quốc gia.

3. Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong quản lý nhà nước về môi trường

Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác quản lý môi trường đặc biệt về các vấn đề như ô nhiễm không khí nặng nề tại các đô thị lớn, sức ép từ việc sử dụng lãng phí, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề về chất thải cùng một loại các yêu cầu về việc thực hiện giảm phát thải khí nhà kính nhằm thực hiện các cam kết quốc tế. Cùng với đó, bộ máy quản lý, công cụ giám sát môi trường tại Việt Nam chưa được đồng bộ hóa, cơ sở dữ liệu ngành chưa có sự thống nhất sẽ làm hạn chế phần nào hiệu quả quản lý và công tác dự báo môi trường. Từ kết quả quản lý nhà nước về môi trường của Singapore, có thể rút ra một số kinh nghiệm cùng các khuyến nghị về chính sách nhằm góp phần củng cố năng lực quản lý nhà nước về môi trường tại Việt Nam.

Thứ nhất, quản lý nhà nước về môi trường là một trong những nội dung cốt lõi trong quản lý công hiện đại với xu hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên sang các mô hình tăng trưởng bền vững, tái sử dụng hoặc sử dụng hiệu quả tài nguyên, đồng thời kết hợp đổi mới sáng tạo. Để thực hiện được mục tiêu này, cần hình thành hệ thống thể chế đồng bộ, bao gồm việc sắp xếp bộ máy tổ chức hợp lý, khung pháp lý rõ ràng, cùng các công cụ kinh tế phù hợp và cơ chế vận hành, quản lý một cách linh hoạt. Từ đó, tạo ra bước đệm cho công tác ứng phó với các thách thức về khí hậu và môi trường trong bối cảnh hiện nay.

Thứ hai, cần xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật quản lý môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây là vấn đề cấp bách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trước hết, cần rà soát, đánh giá, tổng kết các chính sách pháp luật hiện hành nhằm phân tích một cách đầy đủ các yếu tố tác động đến môi trường. Từ đó, xác định rõ những hạn chế và những nội dung cần được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới để đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

Thứ ba, cần đẩy mạnh, chú trọng đào tạo cán bộ chuyên môn, về lâu dài, giải pháp then chốt phải xuất phát từ công tác phát triển đội ngũ nhân sự có năng lực, trình độ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Trước mắt, cần có chương trình, kế hoạch tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho cán bộ thực hiện công việc chuyên môn, đặc biệt là các nội dung kỹ thuật như giám sát, đánh giá phát thải khí nhà kính, vận hành thị trường các-bon, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và ứng dụng công nghệ số trong quản lý cơ sở dữ liệu. Cùng với chương trình đào tạo trong nước, cần mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế, viện nghiên cứu và các trường đại học với mục tiêu triển khai các khóa bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. Việc xây dựng lộ trình chuẩn hóa năng lực cán bộ, gắn với tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cùng yêu cầu thực tiễn của từng vị trí, lĩnh vực sẽ góp phần đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ tư, cần đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường như việc sớm hoàn thiện, vận hành chính thức thị trường các-bon nhằm tạo ra một không gian thị trường mới, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất có thể kiểm soát được lượng khí thải trong quy trình sản xuất, đồng thời tối ưu hóa chi phí tuân thủ. Thị trường các-bon sẽ tạo động lực tài chính để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ giúp giảm phát thải một cách hiệu quả đồng thời có thể quyết định bán lại lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính hoặc tín chỉ các-bon dư thừa cho các doanh nghiệp khác có nhu cầu. Bên cạnh đó, việc triển khai đồng bộ các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp như tín dụng xanh, tài chính xanh, trái phiếu xanh, quỹ giảm phát thải và các cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Sự kết hợp hài hòa giữa thị trường các-bon và các công cụ kinh tế hỗ trợ  khác sẽ giúp tạo ra hệ sinh thái kinh tế xanh, tạo ra động lực dài hạn cho doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững và góp phần hỗ trợ mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050.

Thứ năm, cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiên tiến một cách đồng bộ. Thực tế cho thấy, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về môi trường hiện đang phân mảng về từng đơn vị cấp Bộ và địa phương. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ hiện nay là yếu tố quan trọng, đáp ứng được việc xây dựng cơ sở dữ liệu lớn cho lĩnh vực môi trường có khả năng kết nối với cơ sở dữ liệu liên ngành như tài nguyên nước, khoáng sản, năng lượng, giao thông, nông nghiệp…, hạ tầng dữ liệu này sẽ là những con số quan trọng, hữu ích cho cấp quản lý. Bên cạnh đó, cần áp dụng các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, mô hình dự báo và phân tích dữ liệu lớn để theo dõi, giám sát các vấn đề về môi trường theo thời gian thực. Những công nghệ này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách sớm phát hiện ra những vấn đề nổi cộm về môi trường, cải thiện công tác dự báo, từ đó có thể đưa ra các quyết sách phù hợp, cụ thể với từng vấn đề.

4. Kết luận

Sự thành công trong mô hình quản lý nhà nước về môi trường tại Singapore đến từ quá trình phối hợp hài hòa giữa cách thức tổ chức hệ thống bộ máy, áp dựng công cụ chính sách kết hợp với ứng dụng khoa học – công nghệ một cách thống nhất, toàn diện vào công tác quản lý. Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện những cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi mô hình sử dụng năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu, việc tham khảo và học hỏi mô hình quản lý nhà nước về môi trường của Singapore  trở nên thực sự cần thiết. Điều này không chỉ giúp Việt Nam định hình rõ phương hướng cải cách hệ thống quản lý nhà nước về môi trường mà còn xác định được những giải pháp phù hợp với điều kiện trong nước, hướng tới mục tiêu quản lý hiệu quả và bền vững.

Chú thích:
1. Saw, S.H. (2007). The population of Singapore (3rd Edition).
2. Ng, P. and Corlett, R. (2011). Biodiversity in Singapore: an overview, tr. 1.
3. Đặng Thị kim Anh (2018). Kinh nghiệm phát triển nhà ở tại Singapore và một vài suy nghĩ đối với thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí khoa học Đại học Văn Lang(số12, tháng 11/2018).
4. United Nation Environment Programme Report (2010). Environmental Governance. https://www.unep.org/resources/report/environmental-governance.
5. Chỉ số thành phố toàn cầu (Global Cities Index) là bảng xếp hạng và đánh giá về những thành phố hàng đầu thế giới qua các tiêu chí về kinh tế, môi trường và đổi mới sáng tạo.
6. SINC (2000). Singapore Initial National Communication. tr. 15.
7. AMRO (2022). Carbon Pricing in ASEAN+3 Economies: Progress and Challenges. tr. 10.
8. Shabana Begum (2025). Singapore releases new emissions targets for 2035, on track to reaching net zero by 2050.
9. Reduce – Reuse – Recycle mô hình 3 bước với mục tiêu giảm thiểu rác thải, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.