(Quanlynhanuoc.vn) – Chiều ngày 23/12/2025, tại Học viện Hành chính và Quản trị công, Ban Chủ nhiệm đề tài khoa học cấp Bộ: “Quản trị phát triển xã hội của Việt Nam trên nền tảng số” đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề: “Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số và giá trị tham khảo đối với Việt Nam”. GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Phó Chủ nhiệm đề tài chủ trì Tọa đàm.

Tham dự Tọa đàm, về phía đại biểu, khách mời có: TS. Lê Hồng Hạnh, Học viện Chính sách và phát triển; TS. Nguyễn Thị Hà, giảng viên Học viện Chính trị Khu vực 1. Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: PGS.TS. Hoàng Mai, Trưởng khoa Quản trị nhân lực; TS. Trương Quốc Việt, Phó Chánh Văn phòng Học viện; PGS.TS. Nguyễn Minh Phương, nguyên giảng viên cao cấp Học viện; PGS.TS. Nguyễn Nghị Thanh, giảng viên cao cấp Khoa Khoa học liên ngành – Ngoại ngữ – Tin học; cùng cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện tham dự Tọa đàm.

Phát biểu đề dẫn Tọa đàm, GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu nhấn mạnh, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ công mà còn đặt ra những yêu cầu mới đối với quản trị phát triển xã hội, đặc biệt trong việc bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng, bao trùm và tăng cường sự tham gia của người dân.
Thực tiễn cho thấy, nhiều quốc gia đã triển khai hiệu quả các mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số với vai trò kiến tạo, dẫn dắt của Nhà nước và việc ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và hệ thống thông tin tích hợp. Những mô hình này đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng ứng phó kịp thời với các vấn đề xã hội phát sinh. Ở Việt Nam, chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai quyết liệt, gắn với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Tuy nhiên, công tác quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số vẫn còn nhiều thách thức, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và mô hình quản trị xã hội theo hướng hiện đại.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Tọa đàm khoa học được tổ chức nhằm trao đổi, chia sẻ và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, mô hình và kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, qua đó rút ra các bài học và giá trị tham khảo phù hợp cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện thể chế, chính sách và mô hình quản trị xã hội hiện đại, góp phần thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Tham luận tại Tọa đàm, TS. Lê Hồng Hạnh, khẳng định, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào quản lý nhà nước mà còn là sự thay đổi căn bản phương thức tổ chức, vận hành và tương tác của xã hội, hướng tới xây dựng xã hội số với các trụ cột là công dân số và văn hóa số. TS. Lê Hồng Hạnh chỉ ra rằng, Việt Nam đã đạt một số thành tựu trong cải cách hành chính, phát triển dịch vụ công trực tuyến, y tế và giáo dục số cũng như quản trị dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch và tiết kiệm nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với thách thức về hạ tầng, thể chế, pháp lý, bản quyền dữ liệu, nguồn nhân lực và sự chênh lệch vùng miền. Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Lê Thị Hồng Hạnh cho rằng, việc chuyển đổi số trong quản trị phát triển xã hội ở Việt Nam phải thực hiện đồng bộ trên ba trụ cột: hạ tầng – thiết bị số; thể chế – pháp luật; nhân lực – văn hóa số, đồng thời xây dựng lộ trình chuyển đổi số linh hoạt, bền vững, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển xã hội.

Từ kinh nghiệm ứng dụng dữ liệu lớn trong quản lý đô thị thông minh ở Trung Quốc, TS. Dương Quốc Chính, cho biết, dữ liệu lớn không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là hạ tầng cốt lõi của quản trị đô thị hiện đại giúp chính quyền Trung Quốc nâng cao hiệu quả điều hành, dự báo và phối hợp liên ngành, cải thiện chất lượng sống và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, việc ứng dụng dữ liệu lớn cũng đặt ra thách thức về quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và kiểm soát quyền lực. Từ kinh nghiệm Trung Quốc, ông Chính đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong tiến trình xây dựng và quản trị đô thị thông minh, như: cần xây dựng hạ tầng dữ liệu đô thị thống nhất; nâng cao năng lực phân tích và dự báo chính sách; gắn công nghệ với cải cách thể chế; đồng thời, đặt người dân làm trung tâm để quản trị đô thị thông minh hiệu quả và nhân văn.

Chia sẻ kinh nghiệm từ Hàn Quốc, TS. Nguyễn Thị Hà nhấn mạnh, Chính phủ Hàn Quốc không chỉ đóng vai trò cung cấp dịch vụ công mà còn kiến tạo nền tảng số, xây dựng hệ thống dữ liệu mở và có trách nhiệm trong thiết lập khung thể chế đồng bộ. Chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội để cùng phát triển trong cung ứng các dịch vụ công hiệu quả, bảo đảm mọi chính sách và dịch vụ đều hướng đến nhu cầu thực tế của người dân, lấy người dân làm trung tâm. Từ kinh nghiệm của Chính phủ Hàn Quốc, Việt Nam có thể tham khảo một số bài học để xây dựng mô hình Chính phủ số phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, như: chuyển đổi số cần chú ý gắn với cải cách thể chế, bộ máy và nguồn nhân lực; tập trung tối ưu hóa giá trị quản trị và phục vụ, từ đó xây dựng Chính phủ số, Chính phủ phục vụ và hệ sinh thái đổi mới số bền vững.



Tọa đàm cũng nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ các chuyên gia và nhà khoa học, tập trung phân tích kinh nghiệm quản trị và phát triển xã hội dựa trên nền tảng số với những bài học tham chiếu từ các quốc gia tiên tiến, như: Nhật Bản, Singapore, Vương quốc Anh, Trung Quốc:
(1) Nhật Bản tập trung vào ba trụ cột chính: hạ tầng số hiện đại, thể chế pháp lý minh bạch và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhật Bản đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, áp dụng công nghệ thông tin trong y tế, giáo dục, giao thông và dịch vụ công, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí và cải thiện trải nghiệm người dân; đồng thời, chú trọng phát triển nhân lực số, nâng cao kỹ năng công chức và khuyến khích văn hóa số trong toàn xã hội, đồng thời bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân. Kinh nghiệm này mang giá trị tham khảo quan trọng cho Việt Nam, giúp định hướng hoàn thiện hạ tầng và dữ liệu số, xây dựng khung pháp lý, phát triển nhân lực và văn hóa số, bảo đảm công bằng xã hội và hiệu quả quản trị trong quá trình chuyển đổi số.
(2) Singapore triển khai chiến lược Smart Nation với tầm nhìn dài hạn, lấy dữ liệu, công nghệ số làm nền tảng và con người làm trung tâm. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo mạnh mẽ với khung thể chế linh hoạt, hạ tầng số đồng bộ cùng với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nâng cao hiệu quả quản trị, chất lượng dịch vụ công và mức sống người dân. Từ kinh nghiệm này của Singapore, Việt Nam có thể rút ra các bài học trong việc phát triển định danh số, bao trùm số, giáo dục kỹ năng số và xây dựng chính sách lấy con người làm trung tâm.
(3) Vương quốc Anh đã thực hiện nhiều biện pháp để xây dựng xã hội số bao trùm, bao gồm: xây dựng định danh số thống nhất (One Login) giúp người dân tiếp cận liền mạch dịch vụ công và tư, giảm chi phí giao dịch và nâng cao trải nghiệm; thúc đẩy hợp tác công – tư qua các chương trình, như: National Databank, cung cấp dữ liệu và thiết bị cho nhóm dễ bị tổn thương; đào tạo kỹ năng số cơ bản qua mạng lưới cộng đồng, thư viện, trung tâm xã hội, tập trung vào người cao tuổi và người thu nhập thấp; hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng và quyền riêng tư; đo lường tác động và điều chỉnh chính sách dựa trên bằng chứng; lấy con người làm trung tâm, kết hợp dịch vụ trực tuyến và hỗ trợ ngoại tuyến. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam nên xây dựng chiến lược bao trùm số quốc gia, phát triển VNeID làm “xương sống” xã hội số, huy động hợp tác công – tư, ưu tiên đào tạo kỹ năng số, hoàn thiện pháp lý, đo lường tác động và thiết kế dịch vụ kết hợp trực tuyến – ngoại tuyến, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
(4) Trung Quốc đã xây dựng và ứng dụng dữ liệu lớn trong quản lý dân cư và phúc lợi xã hội. Dữ liệu lớn giúp nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, tăng tính chính xác và công bằng trong phân bổ phúc lợi, đồng thời cải thiện năng lực dự báo và phòng ngừa rủi ro xã hội. Tuy nhiên, việc triển khai dữ liệu lớn cũng đặt ra những thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị dữ liệu và sự chênh lệch năng lực giữa các địa phương. Từ kinh nghiệm này của Trung Quốc, Việt Nam cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu dân cư, tích hợp dữ liệu với các hệ thống phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực phân tích và dự báo, xây dựng khung pháp lý và quản trị dữ liệu hiệu quả; đồng thời, cân bằng giữa nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi của người dân trong quá trình xây dựng Chính phủ số.

Phát biểu bế mạc Tọa đàm, GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu trân trọng cảm ơn các đại biểu và nhà khoa học đã quan tâm tham dự, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, giàu giá trị thực tiễn. Các tham luận và thảo luận tại Tọa đàm đã làm rõ vai trò của chuyển đổi số trong quản trị phát triển xã hội, cung cấp những kinh nghiệm quốc tế quý báu về xây dựng dữ liệu lớn, hạ tầng số, nhân lực và khung pháp lý, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lấy người dân làm trung tâm. Kết quả của Tọa đàm sẽ góp phần hoàn thiện mô hình quản trị xã hội hiện đại, nâng cao hiệu quả quản lý, thúc đẩy phát triển xã hội bền vững và xây dựng chính phủ số, xã hội số toàn diện.
Nguyễn Thùy – Đinh Hương



