Nguyễn Thế Anh
NCS của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(Quanlynhanuoc.vn) – Đối ngoại nhân dân là một bộ phận quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua bốn thập niên đổi mới, tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, từ chỗ là một kênh hỗ trợ đối ngoại trở thành một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Bài viết tập trung phân tích, đánh giá quá trình đổi mới tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến nay, làm rõ những nội dung cốt lõi của quá trình đổi mới; đồng thời, khẳng định vai trò, vị trí của đối ngoại nhân dân trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; đối ngoại nhân dân; đổi mới tư duy; ngoại giao toàn diện; hội nhập quốc tế.
1. Đặt vấn đề
Đối ngoại nhân dân là một bộ phận quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần trực tiếp vào việc bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động sâu sắc, tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Từ chỗ chủ yếu mang tính hỗ trợ, phong trào, đối ngoại nhân dân từng bước được xác định là một kênh quan trọng, gắn bó chặt chẽ với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, hình thành nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Việc nghiên cứu, làm rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến nay, vì vậy, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần khẳng định vai trò, vị trí của đối ngoại nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
2. Quá trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân từ thời kỳ đầu Đổi mới đến nay
Một là, đối ngoại nhân dân chuyển từ tư duy đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hòa bình; thêm bạn, bớt thù giai đoạn (1986 – 1991).
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước ngoặt đổi mới toàn diện đất nước, trong đó công tác đối ngoại được định hướng theo phương châm “lợi ích cao nhất của Đảng và Nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”1. Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân từng bước được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu mới. Bước đi đầu tiên trong sự điều chỉnh này là sự thay đổi cơ quan quản lý công tác đối ngoại nhân dân. Với mục đích thống nhất và tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân, ngày 01/10/1987, Bộ Chính trị (khóa VI) ra Quyết định số 34/QĐ-TW về đổi mới tổ chức, tăng cường chỉ đạo công tác đối ngoại nhân dân cho phù hợp với tình hình mới. Thực hiện chủ trương này, tháng 5/1989, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng ra quyết định đổi tên Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hữu nghị với Nhân dân các nước thành Liên hiệp Các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam.
Để tổ chức triển khai có hiệu quả của nguồn viện trợ và hợp tác chặt chẽ hơn với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, kể từ năm 1989, Liên hiệp Các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam được giao thêm nhiệm vụ vận động và điều phối viện trợ nhân dân, quản lý với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Đây là những chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng ta về hoạt động đối ngoại nhân dân. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn về kinh tế và đang bị bao vây, cô lập, những thay đổi về mặt tổ chức cũng như mở rộng nhiệm vụ cho Liên hiệp Các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam, cho phép tổ chức hoạt động đối ngoại nhân dân này phát huy được lợi thế của mình trong việc thực hiện chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”, quảng bá hình ảnh Việt Nam rộng rãi tới bạn bè quốc tế, trên cơ sở đó, góp phần phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch. Đây chính là cơ sở tư duy nền tảng để đối ngoại nhân dân từng bước chuyển từ hoạt động nặng về ý thức hệ sang mở rộng tiếp xúc, hòa giải và vận động dư luận quốc tế, trở thành kênh đi trước, mở đường, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn chịu tác động của tình trạng bao vây, cấm vận.
Hai là, mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước, giai đoạn (1991 – 2006).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Đảng chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”2. Về công tác đối ngoại nhân dân, Đảng nhấn mạnh: “mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân; quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của Nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển”3.
Để tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, kết hợp đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đối ngoại, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa VII) năm 1992 đã chỉ rõ: Phải mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chung của Nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đảng không chỉ định hướng, xác định mục tiêu mà còn rất coi trọng cơ cấu, thành phần, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng tham gia nhằm phát triển, hoàn thiện các hoạt động đối ngoại nhân dân. Theo Quyết định số 22/QĐ-TW ngày 10/01/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII), Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị với Nhân dân các nước của Việt Nam được tách ra khỏi Ban Đối ngoại Trung ương, trở thành một tổ chức chính trị – xã hội độc lập do Ban Bí thư chỉ đạo và Chính phủ quản lý4. Đây là một bước phát triển mới, đánh dấu một thời kỳ mới của hoạt động đối ngoại nhân dân trên các lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Ngày 08/9/1994, Chính phủ ra quyết định đổi tên Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam thành Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Tổ chức chuyên trách đối ngoại nhân dân trở thành một tổ chức độc lập chính là điều kiện cơ bản để đối ngoại nhân dân trở thành một nhân tố quan trọng tham gia thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước.
Trong giai đoạn này, tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân được thể chế hóa thông qua việc kiện toàn tổ chức Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ trong quan hệ với Nhân dân các nước và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài5. Theo đó, Liên hiệpCác tổ chức hữu nghị Việt Nam có nhiệm vụ: góp phần tích cực mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác và hữu nghị, sự giao lưu kinh tế, văn hóa và khoa học – kỹ thuật giữa Nhân dân ta với các nước trên thế giới; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của Nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của Nhân dân ta; bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vấn đề có tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường, phòng chống một số căn bệnh nguy hiểm; tiếp tục góp phần duy trì và đổi mới các tổ chức dân chủ quốc tế đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội phù hợp với tình hình mới của thế giới và điều kiện thực tế của nước ta; làm đầu mối vận động, điều phối viện trợ của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, các tổ chức nhân đạo, từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và cá nhân ở các nước trên thế giới nhằm góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Để thực hiện tốt chức năng, vai trò, vị trí của đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, ngày 20/9/1994, Ban Bí thư TW Đảng (khoá VII) ra Chỉ thị số 44-CT/TW về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân, yêu cầu hoạt động đối ngoại của các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị – xã hội, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ phải thể hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế một cách sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với khả năng từng tổ chức, đoàn thể của nước ta và đặc điểm từng đối tượng nước ngoài có quan hệ. Chỉ thị cũng nêu rõ, hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm: (1) Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ đất nước và con người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ thiện cảm, sự đồng tình ủng hộ của Nhân dân các nước đối với công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta; (2) Tăng cường tình hữu nghị, mở rộng quan hệ hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới, bày tỏ sự đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội và giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu như loại trừ vũ khí hạt nhân, phòng chống AIDS, bảo vệ môi trường, đấu tranh với những quan điểm ý đồ và hành động xấu của một số người và tổ chức nước ngoài; (3) Tranh thủ sự giúp đỡ của Nhân dân các nước trên thế giới về vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế và quản lý xã hội, đào tạo cán bộ.
Bên cạnh đó, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996) tiếp tục khẳng định: “nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…”6. Trong năm đầu tiên của thế kỷ XXI, khi tổng kết những thành tựu đã đạt được trong công tác đối ngoại nhân dân tại Đại hội IX, Đảng khẳng định: “Các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội, ủy ban hòa bình và các hội hữu nghị đẩy mạnh ngoại giao nhân dân cả về quy mô và địa bàn, góp phần tích cực vào thắng lợi của Đảng và Nhà nước trên mặt trận đối ngoại”7. Trên cơ sở đó, hướng chỉ đạo mới cho công tác đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỷ XXI là: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới…
Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân. Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp, thực hiện có kết quả nhiệm vụ công tác đối ngoại, làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và hợp tác ngày càng rộng rãi của thế giới”8. Đây là chủ trương có ý nghĩa định hướng rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, trước hết là những người làm công tác đối ngoại và đối ngoại nhân dân phải tập trung công sức, trí tuệ để quán triệt và thực hiện một cách đúng đắn và sáng tạo. Đồng thời, đội ngũ làm công tác đối ngoại nhân dân phải vững vàng về lập trường giai cấp, biết đặt lợi ích của dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; nâng cao cảnh giác, giữ gìn bí mật quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền, an ninh chính trị nội bộ, chống “diễn biến hòa bình” do các lực lượng thù địch lợi dụng đối ngoại nhân dân thực hiện.
Ba là, hoàn thiện tư duy về đối ngoại nhân dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng giai đoạn (2006 – 2020).
Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đại hội X của Đảng (tháng 4/2006) khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”9. Trong đó, đối ngoại nhân dân được xác định rõ: “phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả. Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới. Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội”10. Đó là những định hướng quan trọng của Đảng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đối ngoại nhân dân trong quá trình phối hợp với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, góp phần tạo nên những thành tựu tiếp theo của công cuộc đổi mới.
Quan điểm đối ngoại của Đại hội X được Đại hội XI kế thừa, bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”11. Nhiệm vụ đối ngoại cơ bản xuyên suốt thời kỳ đổi mới được tiếp tục khẳng định: “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”12.
Đối ngoại nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, tạo được môi trường hòa bình để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xuất phát từ lợi ích tối cao của dân tộc là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và phải tạo được các điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ cho lợi ích đó. Song, đặt cao lợi ích dân tộc không có nghĩa từ bỏ hoặc xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế chân chính mà là góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng trong điều kiện và khả năng thích hợp đối với các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới, đấu tranh vì những mục tiêu cao cả mang tính thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong đó, công tác đối ngoại nhân dân được Đại hội nhấn mạnh: “Coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác đối ngoại nhân dân… Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân”13 .
Triển khai tinh thần chỉ đạo của Đại hội XI, ngày 06/7/2011, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 04-CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới. Quan điểm, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ của Chỉ thị số 04-CT/TW: (1)Quan điểm: đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước ta. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn dân mà nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân; (2) Phương châm: chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, triển khai công tác đối ngoại nhân dân trên cơ sở thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại nhân dân với đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp của mặt trận đối ngoại.
Đối ngoại nhân dân theo tinh thần Đại hội XII được tiếp cận theo phương cách mới, trong đó, thuật ngữ “ngoại giao nhân dân” được chuyển thành “đối ngoại nhân dân”, phù hợp với các định hướng về hội nhập quốc tế và thực tiễn công tác đối ngoại trong bối cảnh mới. Các hoạt động đối ngoại nhân dân đã và đang ngày càng được mở rộng, chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động đối ngoại chung. Đối ngoại nhân dân bao hàm tất cả các hoạt động đối ngoại của các tổ chức chính trị – xã hội và các đoàn thể. Cách tiếp cận này cũng đề cao vai trò của đối ngoại nhân dân trong tổng thể các hoạt động đối ngoại của đất nước.
Bốn là, đối ngoại nhân dân – trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại theo tinh thần Đại hội XIII.
Nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước được tiếp tục khẳng định trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng (năm 2021): “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín đất nước”14. Cũng tại Đại hội XIII, lần đầu tiên chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân”15 chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội; đồng thời, nhấn mạnh “mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội”16. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu các bước phát triển lý luận trong tư duy về nền ngoại giao Việt Nam, trong đó các thành tố, bộ phận cấu thành cơ bản được xác định cụ thể, rõ ràng và được đặt trong cùng một chỉnh thể thống nhất, vừa bảo đảm được tính độc lập tương đối trong triển khai nhiệm vụ, vừa có mối quan hệ biện chứng bền chặt, tương hỗ lẫn nhau vì mục tiêu cao nhất là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”17.
Để triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan làm công tác đối ngoại luôn quan tâm đặc biệt đến việc nâng cao hiệu quả phối hợp giữa ba trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; trong đó, đối ngoại nhân dân đóng vai trò nòng cốt trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước, xây dựng nền tảng xã hội tích cực, thuận lợi cho quan hệ của Việt Nam với các nước và hỗ trợ tích cực đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước trên một số vấn đề, ở những địa bàn hoặc trong hoàn cảnh cụ thể phù hợp với thế mạnh của đối ngoại nhân dân.
Như vậy, đối ngoại nhân dân được xem là một trong ba chủ thể chính triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Vị trí, vai trò của đối ngoại Nhân dân trong nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại không tách rời mà được đặt trong một chỉnh thể chung, đồng bộ và thống nhất với hai trụ cột đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ đối ngoại chỉ rõ yêu cầu đối với hoạt động đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích dân tộc, tạo được môi trường hòa bình, ổn định phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị – xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội
Triển khai thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, vị thế và ảnh hưởng của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam ngày càng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
3. Đánh giá quá trình đổi mới tư duy về đối ngoại nhân dân của Đảng từ năm 1986 đến nay
Đổi mới tư duy của Đảng về đối ngoại nhân dân là một quá trình liên tục, có hệ thống và ngày càng hoàn thiện, thể hiện ở sự chuyển biến từ đối đầu sang hợp tác, từ phong trào sang chuyên nghiệp, từ hỗ trợ sang trụ cột, từ bị động sang chủ động hội nhập. Những đổi mới này đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực quốc tế và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Cụ thể:
Thứ nhất, tư duy về vị trí, vai trò của đối ngoại nhân dân được nâng tầm rõ rệt. Từ chỗ chủ yếu được nhìn nhận như hoạt động hỗ trợ, mang tính phong trào, đối ngoại nhân dân từng bước được xác định là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, cùng với đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước. Nhận thức này được khẳng định xuyên suốt từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, thể hiện bước chuyển căn bản trong tư duy đối ngoại của Đảng theo hướng toàn diện, hiện đại và hội nhập.
Thứ hai, mục tiêu đối ngoại nhân dân được mở rộng và định hình theo hướng chủ động hội nhập. Nếu giai đoạn đầu đổi mới, đối ngoại nhân dân chỉ tập trung chủ yếu vào việc phá thế bao vây, cấm vận, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế thì hiện nay, đối ngoại nhân dân được xác định là kênh quan trọng xây dựng lòng tin, tạo môi trường hòa bình, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; đồng thời, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng.
Thứ ba, tư duy về phương thức triển khai được đổi mới theo hướng linh hoạt, đa dạng, hiện đại. Đảng đã chuyển từ cách tiếp cận thiên về quan hệ song phương, tiếp xúc truyền thống sang kết hợp đa phương, đa tầng nấc, đa chủ thể, tận dụng mạnh mẽ vai trò của các tổ chức nhân dân, địa phương, doanh nghiệp, trí thức, kiều bào và thế hệ trẻ. Việc ứng dụng công nghệ số, truyền thông quốc tế và ngoại giao văn hóa ngày càng được coi trọng.
Thứ tư, sự gắn kết giữa đối ngoại nhân dân với nhiệm vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc ngày càng chặt chẽ. Đối ngoại nhân dân không chỉ phục vụ mục tiêu hòa bình, hữu nghị mà còn được lồng ghép hiệu quả với các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ chủ quyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần củng cố “thế trận lòng dân” trên không gian quốc tế.
4. Kết luận
Qua bốn mươi năm đổi mới, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân đã không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Từ chỗ là một kênh ngoại giao bổ trợ, đối ngoại nhân dân đã trở thành một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, tiếng nói và vai trò của hân dân ngày càng gia tăng trong đời sống quốc tế. Việc tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức và nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân có ý nghĩa chiến lược lâu dài, góp phần bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1988). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. H. NXB Sự thật, tr. 147, 42.
4. Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam (2013). Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam quá trình hình thành và phát triển. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 87.
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1993). Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 27/7/1993 về nhiệm vụ và tổ chức của Liên hiệp Các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 120.
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. H. NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr. 72, 72.
9, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 112, 113.
11, 12, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 83 – 84, 236, 238.
14, 15, 16, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 162, 162, 70, 13.



