TS. Lê Thị Hằng, TS. Đào Lộc Bình
Học viện Chính trị khu vực IV
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng cơ chế, chính sách phát huy quyền làm chủ của Nhân dân với bảo đảm công bằng, an sinh, phúc lợi xã hội tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh thực hiện mục tiêu “độc lập, phồn vinh, hạnh phúc” qua gần 40 năm đổi mới với những thách thức chưa từng có tiền lệ từ biến đổi khí hậu, đến tái cấu trúc không gian hành chính, xây dựng bộ máy hệ thống trị và những bất cập nội tại trong cơ chế điều phối liên tỉnh; trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra những điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách cho vấn đề này.
Từ khóa: Quyền làm chủ của Nhân dân; an sinh xã hội; công bằng xã hội; cơ chế; chính sách.
1. Đặt vấn đề
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất chiến lược, không chỉ đóng vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản mà còn là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Với dân số 17.547.900 người1, sự ổn định, phát triển của vùng có ý nghĩa chiến lược then chốt đối với an ninh lương thực và ổn định chính trị – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đồng bằng sông Cửu Long hiện đang là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, tái cấu trúc không gian hành chính, xây dựng bộ máy hệ thống trị và những bất cập nội tại trong cơ chế điều phối liên tỉnh. Những thách thức này đang làm gia tăng khoảng cách phát triển và đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc củng cố nền tảng xã hội, cụ thể là phát huy quyền làm chủ, bảo đảm công bằng và an sinh cho người dân.
Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, nổi bật là Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/112017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu với tư duy “thuận thiên” chuyển từ “chống chọi” sang “chủ động thích ứng”, tôn trọng quy luật tự nhiên. Đặc biệt, Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Nghị quyết đã đặt ra định hướng chiến lược về phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và khẳng định vai trò trung tâm của con người trong quá trình phát triển. Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược này, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách không thể chỉ dừng lại ở các giải pháp kinh tế hay kỹ thuật mà phải tập trung vào các giải pháp thể chế, đặc biệt là cơ chế phát huy tối đa quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm mọi chính sách an sinh, phúc lợi đều được thực thi một cách công bằng, minh bạch.
2. Những yêu cầu cấp bách đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách
Sau bốn thập kỷ đổi mới, đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước, đạt được những thành tựu lịch sử trong chuyển đổi mô hình kinh tế, góp phần bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam lên vị thế cường quốc xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, chính những thành tựu này đang thôi thúc đặt ra yêu cầu mới, cao hơn và phức tạp hơn cho hệ thống chính trị và thực hiện chính sách xã hội hiện nay của vùng. Bối cảnh hiện tại, với thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và mô hình phát triển thuận thiên theo Nghị quyết số 13-NQ/TW đòi hỏi hệ thống thể chế và chính sách công phải được nâng cấp toàn diện để tương xứng với tầm vóc chiến lược, chuyển từ giai đoạn phát triển nhanh sang giai đoạn phát triển bền vững, bao trùm và hạnh phúc. Đây là cơ hội đột phá để đồng bằng sông Cửu Long tiên phong trong việc thiết lập một mô hình phát triển hài hòa, bền vững. Do đó, thực tiễn đặt ra cho vùng những yêu cầu chiến lược sau:
(1) Yêu cầu hoàn thiện thể chế quản trị vùng theo hướng tích hợp, có thẩm quyền thực chất. Mặc dù việc sáp nhập, hợp nhất từ 13 tỉnh thành 5 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long đã bước đầu giải quyết được vấn đề về mở rộng không gian phát triển cho các địa phương nhưng cơ chế hợp tác ở quy mô vùng vẫn còn hạn chế. Thách thức của đồng bằng sông Cửu Long không phải là thiếu hợp tác, mà là cần nâng tầm cơ chế hợp tác liên tỉnh lên thành cơ chế quản lý tích hợp, thống nhất về mặt thể chế. Điều này đòi hỏi phải vượt qua giới hạn của quản lý hành chính truyền thống, chuyển đổi Hội đồng Điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện tại được thành lập theo Quyết định số 974/QĐ-TTg ngày 19/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long thành một Cơ quan điều phối Vùng có vị trí pháp lý rõ ràng được trao đủ thẩm quyền với các quyết sách liên tỉnh có tính ràng buộc cao, đặc biệt là trong lĩnh vực quy hoạch tài nguyên nước, giao thông, bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu… Việc này không chỉ giải quyết được vấn đề phân tán nguồn lực mà còn tạo ra tính đồng bộ thể chế cần thiết để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư lớn theo tầm nhìn đến năm 2045, khẳng định vị thế tự chủ, năng lực quản trị và trách nhiệm giải trình của cơ quan này trong hệ thống chính trị vùng.
(2) Yêu cầu nâng cao chất lượng thực thi quyền làm chủ của Nhân dân. Quyền dân chủ đã được pháp luật bảo đảm nhưng yêu cầu hiện tại là phải làm cho quyền này trở nên thực chất hơn và có tính kiểm soát hệ thống hơn, đặc biệt trong các dự án phát triển thích ứng. Hoàn thiện chính sách phải tập trung vào việc thể chế hóa cơ chế phản biện chính sách công khai và minh bạch, cho phép người dân và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội tham gia ngay từ giai đoạn tiền khả thi của các quyết định quan trọng như chuyển đổi đất đai, tái định cư,… Điều này không nhằm mục đích kìm hãm mà là để tăng cường tính chính đáng và hiệu suất của chính sách, biến sự tham gia của người dân thành vốn xã hội và là công cụ hữu hiệu nhất để giám sát, bảo đảm tính liêm chính và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước, tạo ra sự đồng thuận tuyệt đối trong cộng đồng để cùng nhau vượt qua thách thức về phát triển bền vững mà vùng đang phải đối mặt.
(3) Yêu cầu chuyển đổi hệ thống an sinh xã hội sang mô hình an sinh thích ứng nhằm hiện thực hóa mục tiêu “hạnh phúc”. Những thành tựu về an sinh trong giai đoạn trước đã tạo nền tảng vững chắc, nhưng bối cảnh mới đòi hỏi cơ chế, chính sách phải có khả năng đáp ứng tốt hơn hiện tại. Điều này đồng nghĩa với việc hoàn thiện cơ chế phải hướng tới bảo đảm công bằng thích ứng, bằng cách thiết kế các gói bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, y tế…) tự nguyện linh hoạt về phí đóng để phù hợp với thu nhập không ổn định của nông dân, đồng thời tích hợp tiêu chí tổn thương do biến đổi khí hậu hoặc các biến cố trong tình trạng khẩn cấp vào các chương trình trợ giúp xã hội. Yêu cầu này cũng bao gồm việc thiết lập các quỹ an sinh của vùng hoặc cơ chế hỗ trợ nhanh chóng, giúp người dân bị ảnh hưởng có thể phục hồi rủi ro một cách kịp thời và bền vững. Thông qua việc bảo đảm khả năng chống chịu của con người, đồng bằng sông Cửu Long sẽ chuyển hóa rủi ro thành cơ hội để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khẳng định con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển phồn vinh.
3. Thực trạng và những điểm nghẽn trong cơ chế, chính sách
3.1. Thành tựu trong cơ chế, chính sách phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm công bằng, an sinh, phúc lợi xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều chỉnh chính sách của Nhà nước, đồng bằng sông Cửu Long đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi thích ứng. Về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đường lối của Đảng, khuôn khổ pháp lý về thực hiện dân chủ đã từng bước được hoàn thiện, thể hiện qua việc ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, sau đó được thể chế hóa bằng Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 và pháp điển hóa trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025). Những văn bản luật này đã từng bước mở rộng phạm vi và mức độ tham gia của người dân vào các vấn đề quan trọng của cộng đồng, cụ thể hóa các cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong việc giám sát thi công các dự án đầu tư công cấp xã, quản lý thu – chi ngân sách địa phương và minh bạch hóa các quyết định về đất đai. Việc này không chỉ củng cố niềm tin của Nhân dân mà còn tạo ra sự đồng thuận cần thiết, giúp các địa phương triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, như: xây dựng Nông thôn mới và chương trình giảm nghèo. Đặc biệt, Nghị quyết số 13-NQ/TW đã xác định rõ ràng yêu cầu “lấy con người là trung tâm”, tạo tiền đề chính trị pháp lý để các địa phương phải ưu tiên lắng nghe tiếng nói người dân trong quá trình lập quy hoạch vùng giai đoạn 2021 – 2030.
Về bảo đảm công bằng, an sinh và phúc lợi xã hội, hệ thống chính sách đã thể hiện tính ưu việt thông qua sự mở rộng diện bao phủ và tính can thiệp kịp thời. Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2025); Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Các chính sách về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đã đạt được những bước tiến quan trọng. Với sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và việc mở rộng bảo hiểm y tế hộ gia đình, tỷ lệ bao phủ an sinh cơ bản trong vùng đã tăng lên đáng kể, tạo ra một mạng lưới an toàn thiết yếu để bảo vệ người dân khỏi các rủi ro sức khỏe và tuổi già. Đây là cơ chế nền tảng giúp hàng triệu hộ nông dân và lao động phi chính thức ở đồng bằng sông Cửu Long có thêm một nguồn lực dự phòng bền vững, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách địa phương.
Chính sách trợ giúp xã hội được quy định cụ thể trong các nghị định: Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội; Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024) đã bảo đảm rằng các đối tượng dễ bị tổn thương nhất như người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật và các hộ nghèo luôn nhận được sự hỗ trợ tài chính thường xuyên, góp phần duy trì mức sống và sự ổn định xã hội.
Những thành tựu trong việc chuyển đổi sinh kế theo hướng thích ứng, dựa trên Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu và Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (đây là bản quy hoạch vùng tích hợp đầu tiên của cả nước) đã giúp hàng ngàn hộ dân thoát khỏi mô hình sản xuất cũ kém bền vững, tự tin chuyển đổi sang các mô hình mới hiệu quả hơn, như: lúa, tôm hay nông nghiệp hữu cơ, trực tiếp nâng cao thu nhập và phúc lợi cho người dân. Những kết quả này minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, luôn lấy con người là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình phát triển.
3.2. Một số hạn chế trong cơ chế, chính sách
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cơ chế và chính sách phát huy quyền làm chủ và bảo đảm an sinh xã hội tại vùng vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể, làm suy giảm hiệu quả chung của các chủ trương lớn. Hạn chế nổi bật nhất về quyền làm chủ là việc thực hiện cơ chế tham vấn và giám sát của Nhân dân vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực chất. Mặc dù Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, nhưng trên thực tế, việc triển khai cơ chế tham vấn cộng đồng trong các dự án quy hoạch lớn hoặc các quyết định thu hồi đất cho mục đích phát triển giao thông liên tỉnh vẫn thường được thực hiện cho đúng, cho đủ quy trình thủ tục hơn là theo tinh thần thực chất. Điều này dẫn đến tình trạng người dân không thực sự cảm thấy tiếng nói của mình có ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng, gây ra sự thiếu đồng thuận và kéo dài thời gian giải phóng mặt bằng và giải quyết các tranh chấp đất đai, cản trở tiến độ của các dự án chiến lược.
Về mặt an sinh, hạn chế lớn nhất nằm ở chỗ vẫn còn thiếu linh hoạt và cứng nhắc trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với đặc thù sản xuất của vùng. Mặc dù có sự hỗ trợ của Nhà nước, cơ chế này, theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, vẫn đòi hỏi người tham gia phải đóng góp theo các kỳ hạn và mức cố định (Điều 85, Điều 87), điều này không tương thích và chưa phù hợp với mô hình thu nhập không ổn định, theo mùa vụ và chịu rủi ro cao của nông dân và ngư dân.
Sự thiếu linh hoạt trong phương thức đóng này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội thấp tính đến hết năm 2023 tỷ lệ của vùng chỉ đạt 19,4% thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước (chỉ cao hơn khu vực Tây Nguyên 13,1%)2, cùng với đó là tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bỏ cuộc cao, làm giảm hiệu quả bao phủ của lưới an sinh và khiến một bộ phận lớn lao động phi chính thức vẫn nằm ngoài hệ thống bảo vệ chính thức, đối diện với nguy cơ tái nghèo khi gặp rủi ro sức khỏe hoặc mất khả năng lao động. Bên cạnh đó, việc xác định thu nhập thực tế để làm căn cứ đóng là cực kỳ khó khăn. Cơ chế kiểm soát chưa rõ ràng dễ dẫn đến việc trốn đóng hoặc đóng ở mức đối phó thấp nhất.
3.3. Những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách
Nút thắt lớn nhất chính là sự thiếu vắng một cơ quan điều phối vùng có đủ thẩm quyền pháp lý ràng buộc. Mặc dù đã có các cơ chế hợp tác được thành lập để triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW và Hội đồng Điều phối vùng được thành lập theo Quyết định số 974/QĐ-TTg ngày 19/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ và các quyết sách liên quan, tuy nhiên, cơ chế vẫn hoạt động chủ yếu dựa trên nguyên tắc hợp tác và đồng thuận giữa các tỉnh, Hội đồng điều phối vùng chỉ có chức năng điều phối các hoạt động, nghiên cứu và đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định các vấn đề nhằm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, nên thiếu khả năng ra quyết định hành chính có hiệu lực mang tính cưỡng chế để giải quyết các vấn đề liên ngành, liên tỉnh. Chính sự phân tán quyền lực quản trị này đã tạo ra sự chồng chéo trong sử dụng ngân sách, gây trì hoãn và giảm hiệu quả của các dự án trọng điểm như quản lý tài nguyên nước và phát triển hạ tầng kết nối, khiến chiến lược phát triển vùng thiếu tính đồng bộ và bị kéo dài3.
Điểm nghẽn thứ hai, mang tính xã hội và chính sách là khoảng trống trong việc thể chế hóa an sinh thích ứng. Chính sách trợ giúp xã hội, được quy định chủ yếu qua các nghị định hiện hành về trợ giúp xã hội, vẫn lấy tình trạng nghèo làm trọng tâm can thiệp, nhưng lại thiếu các tiêu chí và quy trình ứng phó nhanh, linh hoạt đối với tình trạng khẩn cấp, với ô nhiễm môi trường. Khi xảy ra thảm họa như sạt lở hoặc nhiễm mặn trên diện rộng, hệ thống hiện tại không thể nhanh chóng cung cấp các khoản hỗ trợ tiền mặt hoặc tài sản có quy mô lớn và linh hoạt để giúp người dân phục hồi sinh kế một cách kịp thời. Sự thiếu hụt cơ chế này tạo ra bất công bằng thích ứng, làm tăng chi phí xã hội và đẩy người dân vào vòng xoáy di cư nội vùng, gây áp lực lớn lên hệ thống an sinh của các đô thị lân cận. Việc giải quyết các điểm nghẽn này đòi hỏi một quyết tâm chính trị cao độ để thực hiện cải cách thể chế quản trị vùng và thiết kế lại chính sách an sinh theo hướng lấy khả năng chống chịu, thích nghi của con người làm mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
4. Giải pháp hoàn thiện
Để giải quyết các điểm nghẽn về cơ chế và thách thức về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm công bằng, an sinh, phúc lợi xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân phải được xem là động lực quan trọng và cơ chế kiểm soát cốt lõi, cần thực hiện tổng thể một số giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ sau:
Thứ nhất, cần nghiên cứu và sớm ban hành các văn bản pháp lý cao hơn (có thể là Nghị định của Chính phủ) để thiết lập cơ quan điều phối vùng có thẩm quyền thực chất, được ủy quyền quyết định một số vấn đề liên quan đến lợi ích chung của vùng, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò tham vấn. Cơ quan này phải có khả năng quyết định phân bổ và sử dụng tài nguyên nước giữa các tỉnh một cách khoa học, hài hòa lợi ích. Phê duyệt và giám sát các dự án hạ tầng lớn có tính liên kết vùng, bảo đảm tính đồng bộ, tránh đầu tư manh mún. Quản lý và sử dụng nguồn vốn thích ứng với thách thức chung của vùng một cách hiệu quả và minh bạch, với sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân các cấp và cộng đồng dân cư.
Thứ hai, phát huy quyền làm chủ và giám sát trực tiếp của Nhân dân. Việc phát huy quyền làm chủ phải được coi là một công cụ quản trị và kiểm soát quyền lực hiệu quả, thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở trong tất cả các khâu của dự án phát triển và quy hoạch, từ tham vấn, xây dựng đến giám sát và nghiệm thu. Đặc biệt, cần thiết lập các diễn đàn công khai và minh bạch cho phép người dân và các tổ chức xã hội tham gia phản biện công khai các quy hoạch vùng và các chính sách an sinh xã hội, chính sách môi trường lớn, đảm bảo tính khách quan và khoa học của các quyết định. Phát huy vai trò của tổ chức chính trị – xã hội, tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể trong việc đại diện tiếng nói, giám sát việc thực thi các chế độ, chính sách an sinh xã hội, bảo đảm chính sách đến được đúng đối tượng và không bị thất thoát, tiêu cực. Cần xây dựng các bộ công cụ giám sát đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện cho người dân địa phương. Nâng cao nhận thức và công nghệ như đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục về quyền làm chủ và cơ chế giám sát. Ứng dụng công nghệ thông tin như ứng dụng di động, cổng thông tin điện tử… để người dân dễ dàng theo dõi, góp ý và phản ánh về các dự án công và chất lượng dịch vụ công.
Thứ ba, phát triển an sinh phúc lợi xã hội đa tầng và thích ứng đặc thù. Để giải quyết tình trạng thiếu linh hoạt của hệ thống an sinh, cần phát triển các chính sách đặc thù cho đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng mô hình “bảo hiểm xã hội thích ứng” và mở rộng phạm vi bao phủ. Thiết kế các gói bảo hiểm xã hội tự nguyện phù hợp với thu nhập theo mùa vụ, theo sản lượng và có sự hỗ trợ đóng từ ngân sách nhà nước, đặc biệt cho các hộ nông dân chuyển đổi sinh kế và các hộ nghèo, cận nghèo… Thiết lập Quỹ An sinh thích ứng với những rủi ro đặc biệt nghiêm trọng trong tình trạng khẩn cấp. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng một Quỹ dự phòng an sinh đặc thù của vùng (từ ngân sách, huy động tư nhân, viện trợ quốc tế) để cung cấp trợ giúp khẩn cấp và hỗ trợ tái sinh kế cho người dân bị mất nhà, mất đất, mất mùa do thiên tai, sạt lở. Cơ chế này cần có tiêu chí trợ giúp linh hoạt, nhanh chóng, không chỉ dựa vào mức nghèo truyền thống mà còn dựa trên khả năng bị tổn thương do môi trường. Bảo đảm phúc lợi cho di dân nội vùng, phát triển chính sách hỗ trợ định cư và tái định cư đi kèm với bảo đảm việc làm mới và chuyển giao kỹ thuật tại nơi ở mới. Bảo đảm nhóm di dân này được ưu tiên tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế và nhà ở xã hội. Gắn phát triển bền vững với an sinh thông qua sinh kế xanh.
Chính sách cần ưu tiên hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho các hộ dân chuyển đổi sinh kế xanh, đảm bảo họ có thu nhập ổn định và có thể tự tham gia vào hệ thống an sinh. Chính sách đặc thù về nhà ở và hạ tầng: triển khai các chương trình nhà ở thích ứng biến đổi khí hậu (nhà vượt lũ, nhà chống sạt lở) với sự tham gia của người dân trong việc lựa chọn mô hình và giám sát thi công. Bảo đảm mọi dự án phát triển cơ sở hạ tầng đều phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và xã hội kỹ lưỡng, có cơ chế đối thoại công khai với cộng đồng.
Thứ tư, tăng cường nguồn lực và phối hợp liên ngành, liên tỉnh. Để bảo đảm hiệu quả chính sách, cần có sự phối hợp chặt chẽ và huy động đa dạng nguồn lực. Huy động nguồn lực đa chiều, tăng cường thu hút vốn đầu tư tư nhân, vốn quốc tế cho các dự án phát triển hạ tầng và an sinh xã hội. Nhà nước cần xây dựng cơ chế ưu đãi rõ ràng để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện, quỹ an sinh xã hội và các chương trình phúc lợi cho người lao động nông thôn. Phối hợp liên ngành và liên tổ chức để tăng cường phối hợp xây dựng các chính sách an sinh tích hợp (an sinh gắn với bảo vệ môi trường, an sinh gắn với chuyển đổi sinh kế). Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế để triển khai các chương trình giáo dục về quyền làm chủ và cung cấp dịch vụ phúc lợi cho các nhóm dễ bị tổn thương.
5. Kết luận
Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm công bằng, an sinh, phúc lợi xã hội không chỉ là một nhiệm vụ mang tính xã hội mà còn là một giải pháp thể chế chiến lược để đồng bằng sông Cửu Long tự cường và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Những điểm nghẽn căn bản về cơ chế điều phối yếu, sự chậm trễ trong mở rộng mạng lưới an sinh và khoảng cách trong việc thực thi dân chủ cơ sở phải được giải quyết triệt để thông qua các giải pháp đột phá, trong đó việc thể chế hóa cơ quan điều phối vùng có thẩm quyền thực chất và củng cố cơ chế để Nhân dân thực thi quyền giám sát, phản biện chính sách là hai yêu cầu ưu tiên hàng đầu. Chỉ khi người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long thực sự được làm chủ vận mệnh của mình, được bảo đảm an sinh toàn diện, họ mới có thể phát huy tối đa nội lực, tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi sản xuất “thuận thiên” và trở thành nhân tố quyết định đưa vùng vượt qua mọi thách thức.
Phát huy quyền làm chủ, bảo đảm công bằng và an sinh chính là nền tảng, là “kiềng ba chân” xây dựng đồng bằng sông Cửu Long thịnh vượng, thích ứng và bền vững. Sự thành công của chiến lược phát triển vùng đòi hỏi sự chung tay, đồng trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, từ Đảng, Nhà nước đến cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân. Chính sách phải luôn được định hướng “vì Nhân dân”, được xây dựng “do Nhân dân” và phải “do Nhân dân” kiểm soát, bảo đảm đúng tinh thần cốt lõi rằng mọi thành quả phát triển đều được phân phối một cách công bằng, minh bạch.
Chú thích:
1, 2. Cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê năm 2024. H. NXB Thống kê, tr. 104, 106.
3. Những điểm nghẽn trong liên kết vùng của đồng bằng sông Cửu Long. https://tienphong.vn/nhung-diem-nghen-trong-lien-ket-vung-cua-dong-bang-song-cuu-long-post1582015.tpo cập nhật 18:11 ngày 27/10/2023
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045.
2. Chính phủ (2017). Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.
3. Chính phủ (2021). Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024).
4. Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.
5. Cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê năm 2024. H. NXB Thống kê.
6. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2025).
7. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
9. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 974/QĐ-TTg ngày 19/8/2023 về việc thành lập Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long.
10. Nhận diện đồng bằng sông Cửu Long: Khuyến nghị chính sách cho vùng đất chín Rồng. https://diendandoanhnghiep.vn/nhan-dien-dong-bang-song-cuu-long-bai-cuoi-khuyen-nghi-chinh-sach-cho-vung-dat-chin-rong-10013880.html
11. 8 nhiệm vụ phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long. https://baochinhphu.vn/8-nhiem-vu-phat-trien-ben-vung-dong-bang-song-cuu-long-102234184.htm



