Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội

PGS.TS. Phạm Văn Hiếu
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
ThS. Phạm Thành Công
Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

(Quanlynhanuoc.vn) – Dựa trên Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp, bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội dựa trên kết quả khảo sát và mô hình định lượng. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy các yếu tố, như: (1) Nhu cầu đi mi; (2) Tiềm lực bên trong; (3) Đặc tính của doanh nghiệp; (4) Th chế pháp lý; (5) Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động tích cực tới đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội.

Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng; đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hà Nội.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội là để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược và tận dụng tối đa các cơ chế, chính sách đột phá nhằm phát triển kinh tế tư nhân và đưa khu vực này thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Cả hai Nghị quyết đều xác định rõ đổi mới sáng tạo là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng năng suất và phát triển bền vững, đặc biệt là đối với khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 68-NQ/TW (về phát triển kinh tế tư nhân) đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hà Nội là được coi là trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu của cả nước và là hạt nhân thúc đẩy đổi mới sáng tạo cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa nhờ vào các lý do cốt lõi sau: (1) Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII): Hà Nội đã nhiều năm dẫn đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII), thể hiện vai trò là đầu tàu trong việc phát triển kinh tế-xã hội dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; (2) Số lượng doanh nghiệp khoa học – công nghệ và startup: thành phố đứng đầu toàn quốc về số lượng doanh nghiệp khoa học – công nghệ (chiếm khoảng 21% cả nước) và có hơn 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (chiếm hơn 26% cả nước)1. Đây là cộng đồng hạt nhân sẵn sàng hợp tác và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; (3) Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam. Điều này tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào, là cơ sở để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tuyển dụng, hợp tác R&D và chuyển giao công nghệ; (4) Thành phố đang nỗ lực tạo môi trường để ý tưởng mới được nuôi dưỡng và lan tỏa, từ giảng đường, phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp, thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Nghiên cứu của (Drucker, 1985)2 cho rằng, một công ty có thể đổi mới sáng tạo liên tục nhờ khuyến khích một văn hóa thay đổi, xây dựng tri thức từ các trải nghiệm và củng cố môi trường trật tự, giàu tính hỗ trợ. Các yếu tố trong các nghiên cứu này được chia thành hai yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Yếu tố bên trong là: khả năng hấp thụ; khả năng sao chép; khả năng tạo dựng quan hệ. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm: khung pháp lý và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, độ mở về dữ liệu quốc gia, tính cạnh tranh của thị trường,… Trong khi đó, (Kurakto, 1990)3 đưa ra bốn yếu tố quan trọng cho phép đổi mới sáng tạo, đó là: sự hỗ trợ từ các nhà quản lý hàng đầu, cấu trúc doanh nghiệp, nguồn lực và phần thưởng xứng đáng. Theo (Kuratko, 20074; Morris, 19985), đổi mới sáng tạo cũng có thể bắt nguồn từ các ý tưởng mới và tìm đúng chiến lược, xuất phát từ sự chủ động, chấp nhận mạo hiểm và tìm kiếm sự cải tiến liên tục đối với sáng phẩm thông qua liên tục đổi mới. Các nghiên cứu của (Alvaro, 20116; Bayacelik, Tasel và Apak, 20147) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: nguồn lực nhân sự, tài chính,… Ngoài ra, nghiên cứu của (Zakic N., Jovanovic A. & Stamatovic M, 2008)8 lại nhấn mạnh liên hệ giữa các yếu tố bên trong và các đặc trưng đổi mới sáng tạo, đồng thời nêu ra thể chế pháp lý cũng ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo.

Một số tác giả tại Việt Nam cũng thực hiện nghiên cứu trên đối tượng doanh nghiệp để nghiên cứu về yếu tố hoặc nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu của (Trần Thị Hồng Việt, 2015)9 cho thấy, các nhân tố chủ yếu tác động, bao gồm: nhân sự, mối quan hệ liên kết, các phương tiện hỗ trợ và khung thể chế của chính phủ hay (Lê Thị Mỹ Linh, 2016)10 cho thấy nhân tố có tác động mạnh đến năng lực đổi mới sáng tạo là lãnh đạo ủng hộ, nghiên cứu thị trường, đầu tư công nghệ và liên kết mạng lưới. Các nghiên cứu của (Dương Văn Hùng, 201911; Phan Thị Cẩm Lai, 202412) thì chỉ nêu lên thực trạng mà chưa chỉ ra các nhân tố nào ảnh hưởng tới đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Nghiên cứu của (Đỗ Thị Ý Nhi và Khương Thị Huế, 202313; Dương Thị Tân, 202314) cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng tới đổi mới sáng tạo của ngành dệt may là quản lý; thể chế, marketing; chính sách. Nghiên cứu của (Trịnh Thị Nhuần và Trần Văn Trang, 2024)15 cho thấy, đổi mới sáng tạo mở từ ngoài vào trong có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và kết quả đổi mới sáng tạo.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên đề xuất của Hình 1 thì các giả thuyết nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 1 dưới đây:

Bảng 1: Giả thuyết nghiên cứu

Thứ tựNội dung giả thuyếtCác nghiên cứu có liên quanKỳ vọng
Giả thuyết H1Nhu cầu đổi mới của Ban lãnh đạo tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Kuratko(2007);Morris (1998)+
Giả thuyết H2Tiềm lực bên trong của doanh nghiệp  tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Alvaro(2011);Bayacelik, Tasel và Apak (2014)+
Giả thuyết H3Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Alvaro(2011);Bayacelik, Tasel và Apak (2014)+
Giả thuyết H4Đặc tính của doanh nghiệp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Drucker (1985); Morris (1998); Kuratko (2007)+
Giả thuyết H5Quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Drucker (1985); Morris (1998); Kuratko (2007)+
Giả thuyết H6Thu hút các nguồn lực bên ngoài tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Drucker (1985); Morris (1998); Kuratko (2007)+
Giả thuyết H7Môi trường kinh doanh tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Drucker (1985);  Morris (1998); Kuratko (2007)+
Giả thuyết H8Thể chế/Khung pháp lý tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.Zakic N., Jovanovic A. và Stamatovic M (2008); Trịnh Thị Nhuần và Trần Văn Trang (2024)+
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả, 2025.

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

Bảng hỏi được xây dựng dựa trên các thang đo cùng với các biến quan sát đã đề xuất ở mô hình nghiên cứu. Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu là thang do Likert. Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996). Từ đó cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là: 50 +8*8 = 114. Do vậy, để bảo đảm cỡ mẫu mang tính chính xác, nghiên cứu phát ra 200 phiếu khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hình thức trực tuyến (google form). Kết quả thu về 175 phiếu hợp lệ. Thời gian khảo sát từ tháng 7/2025 – 10/2025. Kết quả khảo sát được thể hiện ở Bảng 2.

Bảng 2: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Tiêu chí phân loạiTổng số phát raTổng số thu vềTỷ lệ
Loại hình doanh nghiệpDN tư nhân1009252,6%
Công ty TNHH1008347,4%
Quy mô doanh nghiệpQuy mô nhỏ1009051,4%
 Quy mô trung bình1008548,6%
Loại hình doanh nghiệpCông nghiệp – Xây dựng1007845,14%
Thương mại – Dịch vụ1009754,86%
Giới tính người điều hànhNam1009654,85%
 Nữ1007945,15%
Nguồn: Khảo sát của nhóm tác giả

3.3. Các bước nghiên cứu cụ th

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội. Các bước thực hiện, bao gồm: (1) Ma trận xoay nhân tố; (2) Kiểm định R2 và Durbin-Watson; (3) Kiểm định mô hình hồi quy theo ANOVA; (4) Kết quả mô hình hồi quy.

4. Kết quả thực hiện

4.1. Kết quả ma trận xoay nhân tố Varimax

 Thực hiện xoay nhân tố bằng phép xoay (Varimax), nghiên cứu đã xác định được 6 yếu tố có ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo: (1) Nhu cầu đổi mới của ban lãnh đạo (B); (2) Tiềm lực của doanh nghiệp (C); (3) Hiệu quả hoạt động (E); (4) Đặc tính của doanh nghiệp (F); (5) Thu hút nguồn lực bên ngoài (G); (6) Yếu tố thể chế pháp lý (H).

Bảng 3: Ma trận xoay nhân tố Varimax

Ma trận xoay nhân tố Nội dung biến
 Component 
1234 56
H30,824      Các cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, hướng dẫn, tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp.
H50,811      Thái độ ứng xử của các cơ quan quản lý Nhà nước được cải thiện
H40,784      Thủ tục hành chính công tại các cơ quan quản lý được công bố công khai
H10,765      Các văn bản pháp quy về hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp
H20,735      Doanh nghiệp tiếp cận được với các thông tin kinh doanh cần thiết khi xuất hiện các quy định mới
H60,667      Các quy định pháp luật về bản quyền, phát minh sáng chế của Nhà nước có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
B1 0,837     Nhân viên luôn tự tin khi đề xuất các sáng kiến đổi mới
B2 0,754     Đổi mới làm tăng hiệu quả làm việc của nhân viên
B3 0,718     Các lãnh đạo doanh nghiệp có tư duy sáng tạo, đổi mới trong công việc
B5 0,657     Lãnh đạo luôn quan tâm và tạo điều kiện cho các ý tưởng mới
C3  0,676    Doanh nghiệp có cơ chế thù lao khen thưởng tạo động lực cho nhân viên phát huy sáng kiến
C6  0,613    Doanh nghiệp có đủ tài chính để thực hiện các chiến lược của mình.
C4  0,565    Doanh nghiệp có qui trình chỉ dẫn và tiêu chí chi tiết để ánh giá và lựa chọn ý tưởng/ dự án đổi mới
C5  0,537    Bố trí công việc và thu nhập của nhân viên trong doanh nghiệp dựa chủ yếu vào năng suất lao động
C2  0,511    Doanh nghiệp dành mức chi hợp lý cho hoạt động nghiên cứu phát triển
Q3   0,824   Lãnh đạo doanh nghiệp được đào tạo đúng ngành nghề kinh doanh chính hoặc lĩnh vực phụ trách
Q2   0,786   Lãnh đạo doanh nghiệp có thâm niên trong lĩnh vực phụ trách
Q1   0,587   Chiến lược kinh doanh có đề ra mục tiêu doanh thu từ sản phẩm mới và thị trường mới
G6    0,879 Doanh nghiệp đã biết và tiếp cận với các Quỹ hỗ trợ đổi mới khoa học – công nghệ của Nhà nước tại địa phương
G7    0,819 Doanh nghiệp đã từng tiếp nhận sự hỗ trợ từ các Quỹ hỗ trợ đổi mới khoa học – công nghệ của Nhà nước tại địa phương với các điều kiện thuận lợi và bước đầu hoặc đang thành công trong đổi mới
G5    0,568 Doanh nghiệp chú trọng phát triển và duy trì tốt, thường xuyên quan hệ với các trường đại học, viện nghiên cứu
F5     0,746Đối thủ cạnh tranh chính của doanh nghiệp thường xuyên giới thiệu các sản phẩm/ dịch vụ mới
F2     0,674Nhiều nhân viên của doanh nghiệp bày tỏ công khai mong muốn thay đổi quy trình hiện tại
F6     0,586Việc tìm kiếm các sản phẩm/ dịch vụ thay thế cho sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp khá dễ dàng
F1     0,535Doanh nghiệp có chiến lược thiết lập hoặc mở rộng kinh doanh với đối tác nước ngoài
Phương pháp rút trích nhân tố: PCA Phương pháp xoay nhân tố: Varimax với phân phối Kaiser a
Phép xoay thực hiện trong 6 tương tác
Chỉ số KMO, Bartlett’s của nhóm biến độc lậpKMO = 0,917, Chi-Square = 4,680, df =3,  Sig = 0,000. Tổng phương sai trích = 66,08%
Chỉ số KMO, Bartlett’s của nhóm biến phụ thuộcKMO = 0,714, Chi-Square = 735,18, df = 3,  Sig = 0,000. Tổng phương sai trích = 83,86%
Nguồn: Tính toán nhóm của tác giả, 2025

4.2. Một số kiểm định

(1) Kiểm định theo R2 và Durbin-Watson với R2=0,804 lớn hơn 0,5 cho thấy mô hình phù hợp
Bảng 3: Kiểm định R2 – Durbin Watson

Tóm tắt mô hình

ModelRHệ số R2 R2 hiệu chỉnhSai số của ước lượngDurbin-Watson
10,815a0,6520,6350,518761,765
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả, 2025.
  1. Biến dự đoán: (Hệ số chặn), Phapli, NhucauDM, Tiemluc, Hieuqua, ThuhutNL, Dactinh
  2. Biến phụ thuộc: Y (Năng lực đổi mới sáng tạo)

(2) Kiểm định theo ANOVA với mức ý nghĩa Sig=0,000 cũng cho thấy mô hình rất phù hợp.

Bảng 4: Kiểm định mô hình hồi quy theo ANOVA

  ANOVAa   
Model Tổng bình phươngDfBình phương trung bìnhFSig.
1Hồi quy180,950631,258121,4350,000b
Phần dư99,2161670,173  
Tổng 280,166175   
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
  • Biến phụ thuộc: Y (Năng lực đổi mới sáng tạo)
  • Biến dự đoán: (Hệ số chặn), Phapli, NhucauDM, Tiemluc, Hieuqua, ThuhutNL, Dactinh

4.3. Kết quả mô hình hồi quy

Bảng 5: Kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo

Hệ số chưa chuẩn hóa Mô hình                   B          Sai sốHệ số chuẩn hóa ΒThống kê tSig.Kiểm định đa cộng tuyến Tolerance    VIF
1(Hằng số)-0,0280,166 -0,2230,833  
 Phapli0,1240,0440,1133,1240,0040,5871,635
NhucauDM0,5650,0470,42510,3640,0000,5381,790
Tiemluc0,2940,0550,2645,1350,0000,4242,537
Hieuqua0,1170,0420,1182,7310,0060,5031,587
ThuhutNL-0,1080,034-0,136-3,5870,0020,5941,567
Dactinh0,1950,0430,1554,4330,0000,7371,385
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả, 2025.

Kết quả Bảng 5 cho thấy, mức độ ảnh hưởng tích cực của các yếu tố đến đổi mới sáng tạo, gồm: (1) Nhu cầu đổi mới (0,565); (2) Tiềm lực bên trong (0,294); (3) Đặc tính của doanh nghiệp (0,195); (4) Thể chế pháp lý (0,124) và (5) Hiệu quả hoạt động (0,117). Còn lại, yếu tố “Thu hút nguồn lực bên ngoài” (-0,108) có ảnh hưởng tiêu cực đến đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp. Kết quả thu được đáng tin cậy và có thể biểu diễn các hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa dưới dạng phương trình như sau:

Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp = 0,565

* Nhu cầu đổi mới +  0,294

* Tiềm lực bên trong + 0,124

* Khung pháp lý +0,195

* Đặc tính doanh nghiệp + 0,117

* Hiệu quả hoạt động – 0,108

* Thu hút nguồn lực bên ngoài – 0,028.

Từ các kết quả phân tích mô hình thì Bảng 6 đưa ra kết quả của giả thuyết nghiên cứu, đó là:

Bảng 6: Kết quả của giả thuyết nghiên cứu

Thứ tựNội dung giả thuyếtKỳ vọngKết quả
Giả thuyết H1Nhu cầu đổi mới của Ban lãnh đạo tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Chấp nhận
Giả thuyết H2Tiềm lực bên trong của doanh nghiệp  tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Chấp nhận
Giả thuyết H3Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Chấp nhận
Giả thuyết H4Đặc tính của doanh nghiệp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Chấp nhận
Giả thuyết H5Quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Không có ý nghĩa thống kê
Giả thuyết H6Thu hút các nguồn lực bên ngoài tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Bác bỏ
Giả thuyết H7Môi trường kinh doanh tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Không có ý nghĩa thống kê
Giả thuyết H8Thể chế/Khung pháp lý tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.+Chấp nhận
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả, 2025.

5. Hàm ý chính sách

Một là, nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp.

Nhu cầu đổi mới phải được khởi xướng từ người đứng đầu, đó là tập huấn chuyên sâu về tư duy đổi mới. Do vậy, Hà Nội cần tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, chất lượng cao, tập trung cho CEO và cấp quản lý chủ chốt của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, thành phố có thể hỗ trợ kinh phí tham gia các khóa huấn luyện chuyên sâu ngắn hạn ở nước ngoài hoặc do chuyên gia quốc tế giảng dạy (theo Đề án hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của Hà Nội). Kết nối các CEO của doanh nghiệp này với các lãnh đạo thành công từ các Tập đoàn lớn (Vingroup, FPT, Viettel,…) hoặc các Startup tại Hà Nội. Người cố vấn sẽ giúp truyền cảm hứng, chia sẻ kinh nghiệm về thất bại được chấp nhận (Fail Fast, Learn Faster) và cách đổi mới sáng tạo không cần nguồn lực khổng lồ.

Hai là, tiềm lực bên trong của doanh nghiệp.

Hà Nội cần tài trợ hoặc hỗ trợ chi phí các chương trình đào tạo ngắn hạn, chuyên sâu về các kỹ năng công nghệ mới (AI, Data Science, Blockchain, IoT) dành cho nhân viên kỹ thuật hiện tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc đào tạo này phải mang tính thực chiến, tập trung vào ứng dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề cụ thể của doanh nghiệp. Thiết lập cơ chế “Thực tập sinh đổi mới sáng tạo”: kết nối sinh viên giỏi từ các trường đại học hàng đầu (Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc dân) với các doanh nghiệp này để làm các dự án đổi mới sáng tạo có thời hạn và thành phố hỗ trợ một phần chi phí sinh hoạt cho sinh viên. Tổ chức các khóa huấn luyện về kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và đàm phán chuyển giao công nghệ từ các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần biết cách lựa chọn công nghệ phù hợp với năng lực tài chính và quy mô hiện tại. Đồng thời, cung cấp gói tư vấn kỹ thuật chuyên sâu về đánh giá tính khả thi và rủi ro khi áp dụng công nghệ mới.

Ba là, khung pháp lý.

Để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội, việc hoàn thiện khung pháp lý không chỉ dừng lại ở các quy định chung mà cần có các cơ chế, chính sách đặc thù và đột phá, như: (1) Cụ thể hóa và đơn giản hóa thủ tục để các doanh nghiệp này dễ dàng tính chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Quốc hội, đặc biệt là các chi phí liên quan đến chuyển đổi số và đổi mới công nghệ; (2)  Xây dựng khung pháp lý minh bạch cho các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố, tập trung ưu tiên vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các dự án đổi mới sáng tạo; (3) Hà Nội cần có cơ chế pháp lý để đơn giản hóa điều kiện tiếp cận tín dụng (đặc biệt là tín chấp) và bảo lãnh tín dụng cho các dự án đổi mới sáng tạo, coi tài sản trí tuệ là một loại tài sản có thể thế chấp.

Bốn là, đặc tính của doanh nghiệp.

Nhà nước nên tập trung vào “Đổi mới sáng tạo tăng tốc”, như: hỗ trợ chi phí tư vấn chuyên sâu và thuê, mua giải pháp phần mềm chuyển đổi số (ERP, CRM, E-commerce, AI Marketing) ở mức ưu đãi hợp lý (theo các Đề án của thành phố). Đặc biệt, tập trung vào các gói chuyển đổi số phù hợp với quy mô siêu nhỏ và nhỏ. Ngoài ra, Hà Nội cần có cơ chế chứng nhận xanh riêng, đơn giản hóa cho các doanh nghiệp này. Hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp tiếp cận công nghệ tự động hóa, IoT từ các trường đại học, viện nghiên cứu (như: Đại học Bách Khoa, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ). Đồng thời, hỗ trợ chi phí kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Năm là, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hà Nội cần tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình, áp dụng công nghệ số hóa quản trị, và xây dựng cơ cấu tổ chức linh hoạt, như triển khai gói hỗ trợ “Quản trị số hóa tối thiểu”. Thành phố hỗ trợ chi phí tư vấn và triển khai các hệ thống quản trị cơ bản, phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, như: phần mềm quản lý quan hệ khách hàng đơn giản, phần mềm kế toán tự động, và công cụ quản lý dự án và tập trung vào các giải pháp “Phần mềm dạng dịch vụ” chi phí thấp hoặc miễn phí ban đầu, do các Startup công nghệ của Hà Nội cung cấp, để doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận mà không cần đầu tư lớn vào hạ tầng. Tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về “Làm chủ quy trình quản lý tinh gọn” và “Quản lý chất lượng cơ bản” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp số hóa và chuẩn hóa các quy trình cốt lõi (bán hàng, sản xuất, kế toán) để giải phóng thời gian của lãnh đạo cho các hoạt động đổi mới sáng tạo.

Chú thích:
1. Hà Nội phấn đấu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo. https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/ha-noi-phan-dau-tro-thanh-trung-tam-doi-moi-sang-tao-798837
2. Drucker (1985). Innovation and Entrepreneurship: Practices and Principles. Harper & Row, New York.
3. Kuratko (1990). Human Resource Management in Small Business: Critical Issues for the 1990s. Journal of Small Business Management, vol 28.
4. Kuratko (2007). Entrepreneurial leadership in the 21st century: Guest editor’s perspective. Journal of Leadership & Organizational Studies, 13(4), pp 1–11.
5. Morris (1998) Entrepreneurial Intensity: Sustainable Advantages for Individuals, Organisations and Societies. Quorum, Westport.
6. Alvaro (2011). A Study on the Factors That Influence Innovation Activities of Spanish Big Firms. Technology and Investment, vol 02(01), pp 8-19.
7. Bayacelik, Tasel và Apak (2014). A research on Determining Innovation Factors for SMEs. Procedia – Social and Behavioral Sciences, 150, pp. 202-211.
8. Zakic N., Jovanovic A. và Stamatovic M (2008). The analysis of the factors that influence product and business processes innovation, Ekonomika, vol 54, pp. 117 – 132.
9. Trần Thị Hồng Việt (2015), Nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp cơ điện tử Hà Nội. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 12, tr. 99 -108.
10. Lê Thị Mỹ Linh (2016). Nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 233(2), tr. 43 – 50.
11. Đổi mới sáng tạo và các nhân tố ảnh hưởng trong tổ chức. https://tapchicongthuong.vn/doi-moi-sang-tao-va-cac-nhan-to-anh-huong-trong-to-chuc-63534.htm
12. Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/06/13/doi-moi-sang-tao-trong-doanh-nghiep-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap
13. Đỗ Thị Ý Nhi và Khương Thị Huế (2023). Các yếu tố tác động đến hoạt động đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc vùng Đông Nam Bộ. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Thành Đô, 2 (4), tr. 26 – 37.
14. Dương Thị Tân (2023). Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp may ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông.
15. Trịnh Thị Nhuần và Trần Văn Trang (2024). Tác động của đổi mới sáng tạo mở đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp công nghệ thông tin: vai trò trung gian của năng lực hấp thụ. Tạp chí Khoa học Thương mại, số 194, tr. 38 – 56.