ThS. Đào Bích Hạnh
Trường Đại học Quy Nhơn
Nguyễn Thị Mỹ Quyên
Sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn
(Quanlynhanuoc.vn) – Khánh Hòa là địa phương có kho tàng văn hóa dân tộc phong phú, nổi bật với giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai trên địa bàn miền núi phía Tây. Tuy nhiên, sự thay đổi nhận thức về giá trị văn hóa trong thời kỳ hội nhập đang đặt ra những thách thức trong bảo tồn và phát huy di sản. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai có tác động tích cực đến sự phát triển văn hóa và du lịch nhưng vẫn không tránh khỏi một số hạn chế cần được khắc phục thông qua các hoạt động quản lý nhà nước.
Từ khóa: Bảo tồn và phát huy; truyền dạy; nhạc cụ dân tộc Raglai; miền núi phía Tây tỉnh Khánh Hòa.
1. Đặt vấn đề
Nhạc cụ là những phương tiện tạo âm thanh hình thành và phát triển trong đời sống văn hóa và sinh hoạt nghệ thuật, phản ánh kinh nghiệm, tri thức, thẩm mỹ và bản sắc văn hóa. Nhạc cụ dân tộc Việt Nam đa dạng, gắn liền với các lễ hội, phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng của 54 dân tộc1. Đặc biệt, nhạc cụ dân tộc thiểu số thể hiện sự độc đáo văn hóa, tín ngưỡng, nghi lễ, phản ánh lối sống, cách nhìn về cái đẹp và tổ chức xã hội của cộng đồng.
Trong bối cảnh hội nhập, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc thiểu số, trong đó việc bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai trên địa bàn miền núi phía Tây tỉnh Khánh Hòa trở nên cấp thiết, giúp bảo vệ bản sắc văn hóa, là nguồn cảm hứng cho những sáng tạo nghệ thuật mang đậm dấu ấn truyền thống và là cơ sở để Nhà nước xây dựng và định hướng chính sách quản lý văn hóa có hiệu quả.
2. Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai trên địa bàn miền núi phía Tây tỉnh Khánh Hòa
Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đế năm 2045 và Nghị quyết số 55/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa, do vậy, tỉnh đã lồng ghép mục tiêu bảo tồn văn hóa vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Dự án 6), bước đầu chuyển dịch từ bảo tồn sang phát triển tài nguyên du lịch theo Kế hoạch số 1460/KH-UBND ngày 21/02/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2021- 2030” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Trước thách thức về hạ tầng và nguy cơ đứt gãy văn hóa, hướng tới xây dựng các tiểu đô thị sinh thái núi rừng, Khánh Hòa tập trung thực hiện 3 trụ cột phát triển du lịch cộng đồng, hoàn thiện quy hoạch không gian diễn xướng gắn với liên kết vùng du lịch Nha Trang – Đà Lạt, bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững và bảo vệ bản sắc tộc người Raglai2.
Căn cứ Điều 90 Luật Di sản Văn hóa năm 2024, công tác bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai trên địa bàn miền núi phía Tây tỉnh Khánh Hòa gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, về nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại và lập hồ sơ di sản nhạc cụ dân tộc, khuyến khích các tổ chức, nhà khoa học, nghệ nhân tham gia đánh giá thực trạng, làm rõ giá trị lịch sử, khảo cổ học (đàn đá), giá trị nhân học và xã hội học (Mã la, đàn Chapi). Với mục tiêu chuyển hóa tiềm năng “tài nguyên văn hóa” nhạc cụ dân tộc phục vụ phát triển du lịch sinh thái núi rừng kết nối du lịch vùng duyên hải Nam Trung Bộ – Tây Nguyên, khuyến khích mô hình đưa giá trị nhạc cụ dân tộc thành sản phẩm du lịch đặc thù…, ghi âm các bài Mã la, kỹ thuật chế tác Chapi, thổi Sáo vỗ đôi có nguy cơ thất truyền; tổ chức tập huấn, truyền dạy kỹ năng diễn tấu và chế tác cho thế hệ kế cận nhằm phát triển phong trào văn nghệ dân gian.
Thứ hai, về tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản tài liệu, trình diễn và phục dựng các loại hình nhạc cụ dân tộc, không dừng lại ở lưu giữ hiện vật tĩnh mà đã chuyển sang “bảo tồn sống”, gắn kết với Dự án 6 thông qua xây dựng thiết chế cộng đồng, giáo dục học đường và thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Tỉnh Khánh Hòa đã linh hoạt đưa di sản vào cộng đồng với dấu mốc ngày 05/12/2025 ra mắt 02 Câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian tại thôn Nước Nhĩ, thôn Ngã 2 (xã Khánh Vĩnh) cùng đội văn nghệ truyền thống tại thôn 3.
Vai trò của “hạt nhân” văn hóa được phát huy, tiêu biểu là Nghệ nhân Cao Dy đã được tôn vinh là “người giữ hồn Raglai”, ông không chỉ truyền dạy tại cộng đồng mà còn tiên phong đưa Đàn Đá, Mã La, Sáo vỗ đôi vào học đường3. Tiếp đó, sách “Nhạc đàn truyền thống của dân tộc Raglai ở Khánh Hòa” của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hảo hay các bài khảo cứu của nhạc sĩ Hình Phước Liên đã trở thành tài liệu tham khảo chính thống tại các nhà văn hóa thôn, điểm bưu điện văn hóa và được số hóa phù hợp. Các Lễ ăn đầu lúa mới, Lễ bỏ mả – môi trường diễn xướng nguyên bản của Đàn đá và Mã la được hỗ trợ kinh phí phục dựng định kỳ tại Công viên Du lịch Yang Bay bảo đảm sự chính xác của nghi thức cổ truyền4.
Thứ ba, về khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, sưu tầm, lưu trữ, truyền dạy và giới thiệu nhạc cụ dân tộc, công tác xã hội hóa được triển khai theo cơ chế “Nhà nước kiến tạo – Nhân dân thực hiện”. Việc áp dụng Nghị định số 215/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ đã tạo động lực cho nghệ nhân thông qua chế độ trợ cấp sinh hoạt, bảo hiểm y tế giúp họ yên tâm trao truyền di sản. Tỉnh đã tạo điều kiện cho các đoàn nghiên cứu, nhà khoa học tiếp cận thực địa, khuyến khích ghi âm, ghi hình diễn tấu Mã la cổ, đàn Chapi, Sáo vỗ đôi… để xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa. Đặc biệt, việc nghệ nhân trực tiếp truyền dạy tại Trường Mẫu giáo Ngã Hai, Mẫu giáo Hoa Lan, Trường Cao Văn Bé… được đánh giá cao và nhân rộng như mô hình điểm về giáo dục di sản. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị bảo tồn theo phương châm “lấy văn hóa nuôi văn hóa”, tạo không gian trình diễn chuyên nghiệp, trả thù lao xứng đáng cho việc giới thiệu nhạc cụ dân tộc Raglai đến du khách5.
Thứ tư, về hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát việc bảo vệ giá trị nhạc cụ dân tộc, chính quyền thống nhất quy trình để cộng đồng người Raglai trực tiếp tham gia bảo tồn nguyên trạng, phát huy đúng cách. Theo Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 16/4/2024 của Chính phủ quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, do đó, các địa phương trong tỉnh đã cử cán bộ văn hóa xã trực tiếp xuống thôn hướng dẫn các hộ gia đình cách thức nhận diện, phân loại nhạc cụ.
Các bộ Mã la cổ, đàn đá có giá trị lịch sử được lập hồ sơ khoa học, ghi nhận chi tiết về niên đại, chất liệu, thang âm và tình trạng vật lý; phối hợp với các nghệ nhân hướng dẫn bảo quản nhạc cụ, xử lý chống mối mọt bằng thảo mộc truyền thống kết hợp kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, thắt chặt giám sát tính xác thực trong không gian thực hành, kiên quyết ngăn chặn hành vi cải biên tùy tiện làm sai lệch bản sắc. Công tác kiểm tra được duy trì để đánh giá biến động nhạc cụ, các già làng, trưởng bản có trách nhiệm giám sát, báo cáo kịp thời các hành vi mua bán, trao đổi trái phép nhạc cụ cổ. Sự kết hợp kỷ cương hành chính và hương ước cộng đồng giúp bảo vệ kho tàng nhạc cụ dân tộc tại địa phương.
Thứ năm, về đầu tư kinh phí và huy động các nguồn lực cho công tác bảo vệ, phát huy nhạc cụ dân tộc. Để tối ưu hóa nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh Khánh Hòa cam kết đối ứng 100% vốn ngân sách, tháo gỡ áp lực tài chính cho cấp xã để duy trì hoạt động thường xuyên cho các thiết chế văn hóa cơ sở. Từ nguồn kinh phí được phân bổ, chính quyền các xã đã hoàn thành mua sắm và bàn giao các bộ nhạc cụ truyền thống cho 2 Câu lạc bộ văn hóa dân gian. Các doanh nghiệp đầu tư sân khấu, các đội văn nghệ cung cấp sản phẩm văn hóa, góp phần giảm tải cho ngân sách và tạo ra nguồn thu nhập bền vững giúp công tác bảo tồn nhạc cụ dân tộc có sức sống nội sinh.
Bên cạnh kết quả tích cực, bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai tại miền núi tỉnh phía Tây Khánh Hòa vẫn chưa hiệu quả như kỳ vọng.
Một là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ. Mặc dù đã có Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 – 2025 và Nghị quyết số 34-NQ/TU của Tỉnh ủy Khánh Hòa về phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhưng việc cụ thể hóa tại cấp xã còn lúng túng, chưa có quy định riêng biệt, chi tiết về định mức chi hỗ trợ đặc thù cho nghệ nhân truyền dạy nhạc cụ tại cộng đồng. Quy định về xã hội hóa mang tính khuyến khích, chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa người dân và các đơn vị du lịch để tạo động lực kinh tế cho việc bảo tồn.
Hai là, đội ngũ cán bộ văn hóa các xã thường kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn về âm nhạc dân tộc học còn hạn chế. Các nghệ nhân ngày càng cao tuổi, trong khi lớp trẻ kế cận chưa đủ độ chín để tiếp thu các kỹ thuật khó.
Ba là, cơ sở vật chất phục vụ bảo tồn và phát huy nhạc cụ dân tộc chưa hoàn thiện. Khi chưa có không gian sinh hoạt văn hóa bảo đảm (nhà sinh hoạt cộng đồng thiếu trang thiết bị, nhạc cụ bị hư hỏng chưa được cấp mới kịp thời…), các cơ quan quản lý gặp khó khăn trong tổ chức các lớp truyền dạy. Hoạt động câu lạc bộ thường thiếu thốn trang phục biểu diễn và nhạc cụ chuẩn làm giảm hứng thú của người tham gia.
Bốn là, áp lực kinh tế – xã hội khiến nhu cầu về sinh kế lấn át nhu cầu học tập nhạc cụ truyền thống. Việc học đánh Mã la hay chế tác đàn Chapi đòi hỏi thời gian khổ luyện trong khi lợi ích vật chất ít tạo động lực mạnh như việc làm kinh tế.
Năm là, tác động của công nghệ và xu hướng giải trí mới làm thay đổi thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ. Một bộ phận thanh thiếu niên tại tỉnh Khánh Hòa có xu hướng xem nhẹ giá trị nhạc cụ dân tộc. Giáo dục văn hóa truyền thống trong nhà trường hoặc tại các hoạt động ngoại khóa còn thiếu chiều sâu dẫn đến khoảng cách thế hệ trong tiếp cận và gìn giữ bản sắc âm nhạc Raglai.
3. Một số khuyến nghị
Thứ nhất, đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách và văn bản pháp lý đặc thù về bảo tồn và phát huy nhạc cụ dân tộc để phát huy vai trò của Nhà nước và cộng đồng. Cần sớm đề xuất quy chế quản lý nhạc cụ dân tộc Raglai về quy trình lập hồ sơ di sản, tiêu chuẩn bảo quản nhạc cụ quý hiếm, cơ chế hỗ trợ nghệ nhân và các hình thức xử lý vi phạm. Xây dựng hệ thống đăng ký nhạc cụ, nghệ nhân, tình trạng bảo tồn nhằm bảo đảm dữ liệu quản lý được cập nhật liên tục, minh bạch và phục vụ cho hoạch định chính sách. Đồng thời, nghiên cứu thành lập Quỹ Bảo tồn nhạc cụ dân tộc Khánh Hòa với cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực tạo nền tảng tài chính ổn định phục vụ hoạt động phục hồi, truyền dạy và quảng bá trong dài hạn.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về quản lý di sản văn hóa phi vật thể, kỹ năng lập hồ sơ khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác bảo tồn. Tổ chức học tập kinh nghiệm từ những địa phương đã triển khai tốt hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc như tại Tây Nguyên. Đặc biệt, việc trang bị kiến thức ngôn ngữ, phong tục, tập quán và nhận thức vai trò của nhạc cụ dân tộc Raglai trong các nghi lễ truyền thống sẽ giúp cán bộ nâng cao hiểu biết và tôn trọng văn hóa bản địa.
Thứ ba, xây dựng và triển khai chính sách khuyến khích, hỗ trợ, đa dạng hóa nguồn lực, phát huy hiệu quả Quỹ Bảo tồn Nhạc cụ dân tộc, đẩy mạnh xã hội hóa thông qua chương trình hợp tác với tổ chức, doanh nghiệp du lịch theo cơ chế trách nhiệm xã hội (CSR). Ban hành quy định tôn vinh, khen thưởng kịp thời, hỗ trợ thường xuyên cho nghệ nhân ổn định đời sống. Ngoài ra, triển khai chính sách vốn ưu đãi hoặc cung cấp nguyên vật liệu cho hộ gia đình, cơ sở thủ công làm nghề chế tác nhạc cụ truyền thống. Đây không chỉ là hỗ trợ vật chất mà còn thể hiện sự trân trọng đối với người giữ nghề, giúp họ có điều kiện tốt hơn để tiếp tục gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản.
Thứ tư, thúc đẩy tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức, làm cầu nối đưa giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai lan tỏa đến người dân trong và ngoài nước cũng như tạo nhu cầu trải nghiệm văn hóa. Cần tăng cường quy mô các sự kiện văn hóa Raglai thường niên tại địa bàn cũng như tổ chức biểu diễn nhạc cụ dân tộc tại trung tâm Nha Trang, đầu tư sản xuất video, phóng sự, phim ngắn và ưu tiên phát hành trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến, như: YouTube, TikTok, Facebook… Biên soạn tác phẩm song ngữ giới thiệu lịch sử phong tục, nhạc cụ, nghệ nhân để cung cấp cho các trung tâm du lịch, bảo tàng, trường học, doanh nghiệp dịch vụ lữ hành.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Cần triển khai số hóa toàn diện, bao gồm: chụp ảnh 3D, ghi âm, ghi hình, xây dựng hồ sơ điện tử và tích hợp vào hệ thống thông tin quản lý di sản để thuận tiện cho tra cứu và cập nhật. Tiến tới xây dựng bảo tàng số nhạc cụ dân tộc Raglai dưới dạng ứng dụng có tính tương tác tác cao, cho phép người dùng xem video biễu diễn, quan sát mô hình 3D xoay 360 độ và tìm hiểu câu chuyện văn hóa. Đây là hướng đi phù hợp nhu cầu hiện nay của du khách. Ứng dụng AR và VR để tăng tính hấp dẫn cho bảo tồn, quảng bá, nâng cao sức sống của nhạc cụ dân tộc.
Thứ sáu, phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, gắn kết bảo tồn nhạc cụ dân tộc với phát triển kinh tế – xã hội. Một số hoạt động du lịch trải nghiệm có thể thực hiện như mở workshop “Nghệ nhân tại gia”, nơi du khách học cách chơi hoặc thử chế tác nhạc cụ dân tộc có thu phí. Xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa và cơ chế chia sẻ lợi ích. Địa phương nên hỗ trợ người dân đăng ký nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm thủ công, như: mô hình nhạc cụ, đồ lưu niệm để tạo thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Thứ bảy, tăng cường phối hợp liên ngành và khuyến khích các tổ chức xã hội, nhà trường, cộng đồng tham gia bảo tồn và truyền dạy nhạc cụ dân tộc. Cần tiếp tục đưa giáo dục di sản vào trường học, quy định rõ thời lượng và nội dung giảng dạy nhạc cụ dân tộc ở từng cấp học. Đồng thời, ký hợp đồng với các nghệ nhân để thỉnh giảng họ trực tiếp hướng dẫn học sinh, bảo đảm chất lượng truyền dạy. Thành lập ban giám sát và tư vấn văn hóa cộng đồng gồm các già làng, nghệ nhân và trưởng thôn để bảo đảm việc truyền dạy, biểu diễn giữ đúng bản sắc và tư vấn cho chính quyền về phong tục tập quán, giúp hoạt động bảo tồn phù hợp và tôn trọng truyền thống.
4. Kết luận
Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai là quá trình lâu dài, mang lại giá trị kinh tế – xã hội cho địa phương sở hữu di sản và góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam. Để tỉnh Khánh Hòa đạt được mức độ kỳ vọng trong bảo tồn và phát huy giá trị nhạc cụ dân tộc Raglai trên địa bàn miền núi phía Tây cần triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục triệt để nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong quản lý. Đồng thời, rất cần định hướng cơ bản hơn từ trung ương nhằm hỗ trợ địa phương thông qua hệ thống pháp luật và chính sách chung.
Chú thích:
1. Tiếp cận âm nhạc theo hướng dân tộc học. https://vienktxh.hanoi.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/tiep-can-am-nhac-theo-huong-dan-toc-nhac-hoc-80369.html
2, 3, 4. Đinh Văn Hùng (2025). Bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng dân gian dân tộc Raglai ở Khánh Hỏa gắn với phát triển du lịch. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 608.
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2010). Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTD ngày 30/6/2010 quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2024). Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 16/4/2024 quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 215/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 quy định các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể.
3. Quốc hội (2024). Luật Di sản Văn hóa năm 2024.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2022). Kế hoạch số 1460/KH-UBND ngày 21/02/2022 triển khai Đề án Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.



