Đổi mới tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ tỉnh Quảng Ninh

(Quanlynhanuoc.vn) – Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo quy định mới đặt ra nhiều yêu cầu đổi mới tổ chức, bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Với vị trí là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo, có đặc thù về địa bàn và dân cư, Quảng Ninh đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở giai đoạn 2010 – 2025. Bài viết phân tích kết quả, kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn vừa qua và đề xuất những định hướng phù hợp nhằm đạt hiệu quả khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Từ khóa: Hệ thống chính trị ở cơ sở; mô hình chính quyền địa phương hai cấp; Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh; đổi mới tổ chức; kinh nghiệm thực tiễn.

1. Đặc vấn đề

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đã đặt ra những thay đổi căn bản trong tổ chức chính quyền địa phương, theo đó, hệ thống chính quyền được tổ chức theo mô hình cấp tỉnh và cấp xã. Điều này đặt ra yêu cầu phải rà soát, sắp xếp, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nhằm bảo đảm tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.

Quảng Ninh mang đặc trưng của một tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo; là nơi sinh sống của 42 dân tộc thiểu số với sự phân bố rộng và không tập trung1. Từ năm 2010 đến trước năm 2025, Đảng bộ tỉnh đã thực hiện nhiều chủ trương đổi mới quan trọng nhằm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tạo nền tảng cho việc chuyển sang mô hình hai cấp.

2. Yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Hệ thống chính trị ở cơ sở được xác định là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai chủ trương của Đảng và chính sách của chính quyền. Khi mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp đã làm tăng vai trò, trách nhiệm và tính tự chủ của cấp xã. Trước năm 2010, hệ thống chính trị ở cơ sở còn nhiều hạn chế: thiếu đảng viên ở thôn bản, chi bộ sinh hoạt ghép, quản lý hành chính phân tán, một bộ phận cán bộ chưa gương mẫu, đoàn thể vận động nhân dân còn yếu2. Đảng bộ tỉnh từ Đại hội XIII (2010 – 2015) đã xác định xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm3, đến Đại hội XIV, XV của Đảng bộ tỉnh tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển.

Trong giai đoạn 2010 – 2025, Tỉnh ủy Quảng Ninh tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp củng cố tổ chức cơ sở đảng, kiện toàn chính quyền cấp xã và đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể. Việc thực hiện Đề án 25 và Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 03/3/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh “về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” đã tạo nền tảng quan trọng để sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, tạo nền tảng quan trọng để sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, quản trị ở cơ sở; từ đó đã góp phần củng cố nền tảng chính trị, tạo điều kiện để hệ thống chính trị cơ sở vận hành hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện một số phương diện đổi mới nổi bật của hệ thống chính trị cơ sở như sau:

2.1. Củng cố toàn diện tổ chức cơ sở đảng – trung tâm của hệ thống chính trị

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu phải tăng cường vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, qua đó, Quảng Ninh tiếp tục chuẩn hóa tổ chức cơ sở đảng theo hướng tinh gọn, ổn định, bảo đảm phù hợp với đặc điểm địa bàn và yêu cầu mới của quản trị địa phương: (1) Hoàn thiện mô hình tổ chức đảng ở địa bàn dân cư, bảo đảm 100% thôn, bản, khu phố có chi bộ độc lập từ năm 2015, chấm dứt hoàn toàn tình trạng sinh hoạt ghép kéo dài nhiều năm4; (2) Sắp xếp đơn vị hành chính theo tiêu chí dân số – diện tích, qua đó giảm từ 186 xuống 171 đơn vị cấp xã, đồng thời, giảm 121 thôn, bản, khu phố, góp phần tinh gọn đầu mối và giảm tầng nấc trung gian trong quản lý5; (3) Quy mô đảng viên tăng mạnh, từ 33.161 đảng viên năm 2010 lên 59.904 đảng viên năm 20256 cho thấy, công tác phát triển đảng ở cơ sở được thực hiện liên tục, bền vững; (4) Tăng cường năng lực cán bộ, công chức, chuẩn bị cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp: 2.422 lượt cán bộ lãnh đạo cấp xã được bố trí vào các chức danh chủ chốt; 100% bí thư cấp ủy không là người địa phương và thực hiện nguyên tắc bí thư hoặc phó bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND) nhiệm kỳ 2021 – 20267. Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao tính khách quan và trách nhiệm giải trình ở cơ sở.

Những kết quả trên góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo nền tảng chính trị – tổ chức vững chắc cho hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trong giai đoạn đổi mới.

2.2. Đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại bộ máy chính quyền cấp xã theo hướng tinh gọn, hiệu lực và thích ứng hơn với quy mô quản trị mới. Quảng Ninh triển khai đổi mới theo các phương diện chính sau:

(1) Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã theo hướng tinh gọn và hiệu lực, gắn với sắp xếp đơn vị hành chính bảo đảm phù hợp quy mô dân cư – địa bàn và yêu cầu quản trị mới; qua đó, khắc phục tình trạng phân tán đầu mối, tạo điều kiện tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng điều hành ở cơ sở8;

(2) Kiện toàn cơ cấu Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã theo hướng thống nhất và minh bạch, trong đó 100% bí thư hoặc phó bí thư cấp ủy kiêm chủ tịch HĐND. Mô hình kiêm nhiệm giúp gắn kết lãnh đạo của Đảng với quyền giám sát của cơ quan dân cử, đồng thời tăng tính chịu trách nhiệm và hạn chế tình trạng cục bộ địa phương9;

(3) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, chú trọng các nội dung về cải cách hành chính, kỹ năng quản trị địa phương và chuyển đổi số. Riêng năm 2025, tỉnh tổ chức 2.269 lượt bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, góp phần nâng cao năng lực thực thi công vụ và bảo đảm sự vận hành linh hoạt của bộ máy trong mô hình hai cấp10;

(4) Nâng cao rõ rệt hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, thể hiện qua việc rút ngắn thời gian xử lý công việc, tăng chất lượng cung ứng dịch vụ công và gia tăng mức độ hài lòng của người dân. Những cải thiện này phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình hành chính truyền thống sang mô hình chính quyền phục vụ, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quản trị địa phương.

2.3. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội

Thời gian qua, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội ở cơ sở được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, phát huy vai trò đại diện và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết. Một số kết quả nổi bật, gồm:

(1) Kiện toàn tổ chức theo hướng tinh gọn và chuyên nghiệp, gắn với chỉ đạo của Tỉnh ủy về đổi mới bộ máy hệ thống chính trị. Các cơ quan chuyên trách của Mặt trận, đoàn thể được tập huấn nghiệp vụ thường xuyên; riêng giai đoạn chuẩn bị mô hình hai cấp đã tổ chức bồi dưỡng cho hàng trăm lượt cán bộ đoàn thể cấp xã, bảo đảm năng lực tham mưu và vận hành bộ máy;

(2) Tăng cường giám sát và phản biện xã hội, tập trung vào các lĩnh vực tác động trực tiếp đến người dân, như: thủ tục hành chính, an sinh xã hội và các vấn đề phát sinh sau sắp xếp đơn vị hành chính, từ đó, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và siết chặt kỷ luật hành chính ở cơ sở;

(3) Đổi mới phương thức vận động Nhân dân, phát huy mô hình tự quản ở thôn, khu phố, huy động sự tham gia của cộng đồng trong giữ gìn an ninh, vệ sinh môi trường và xây dựng đời sống văn hóa. Các đoàn thể sử dụng nền tảng số trong tuyên truyền, tiếp nhận phản ánh, qua đó rút ngắn quy trình xử lý thông tin; (4) Phát huy vai trò tập hợp đoàn viên, hội viên, khắc phục những hạn chế trước năm 2010 khi hoạt động giám sát còn yếu và công tác vận động chưa hiệu quả; đặc biệt, tăng cường các phong trào thi đua và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từ đó, tạo sự đồng thuận xã hội, hỗ trợ chính quyền cơ sở nâng cao năng lực quản trị theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

2.4. Đổi mới phương thức lãnh đạo và cơ chế phối hợp trong hệ thống chính trị cơ sở

Yêu cầu đặt ra tiếp theo là hoàn thiện phương thức lãnh đạo và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị: (1) Phương thức lãnh đạo của cấp ủy cơ sở được hoàn thiện, chú trọng rõ chức năng, rõ trách nhiệm và nâng cao tính công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, tăng hiệu lực chỉ đạo và siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị; (2) Cơ chế phối hợp giữa Đảng ủy – HĐND – UBND – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tăng cường, bảo đảm thống nhất trong chỉ đạo và phát huy vai trò giám sát, phản biện của nhân dân, nhất là tại các địa bàn được sắp xếp đơn vị hành chính; (3) Ứng dụng chuyển đổi số vào điều hành được đẩy mạnh, gồm quản lý công việc trên môi trường điện tử, họp trực tuyến, xử lý văn bản và dịch vụ công trực tuyến, góp phần rút ngắn quy trình xử lý, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng phục vụ người dân; (4) Năng lực quản trị địa phương được nâng cao, thể hiện qua việc cải thiện chỉ số hài lòng của người dân, tăng hiệu quả phối hợp liên thông và đáp ứng tốt hơn yêu cầu vận hành trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

2.5. Những hạn chế và thách thức

Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Quảng Ninh diễn ra trong bối cảnh tái cấu trúc đơn vị hành chính quy mô lớn: sắp xếp 171 đơn vị hành chính cấp xã xuống còn 54 đơn vị mới (22 xã, 30 phường, 02 đặc khu) và chấm dứt hoạt động cấp huyện từ ngày 01/7/2025, đồng thời, chuyển giao “trên 1.000 nhiệm vụ” về cấp xã11. Quy mô thay đổi này tạo ra động lực cải cách mạnh song cũng bộc lộ các hạn chế, khó khăn và thách thức sau:

Thứ nhất, chất lượng tổ chức cơ sở đảng chưa đồng đều, nhất là ở địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo; yêu cầu lãnh đạo toàn diện tăng nhanh trong khi “năng lực hấp thụ nhiệm vụ” không đồng đều.

Thực tiễn sau sắp xếp cho thấy, nhiều đơn vị hành chính mới có địa bàn rộng, cơ cấu dân cư phân tán, tổ chức đảng nhiều đầu mối, làm tăng độ khó trong lãnh đạo và quản trị nội bộ. Ví dụ, xã Quảng Tân (địa bàn miền núi) được hình thành từ sáp nhập 4 xã, có diện tích 185,14 km², 55 chi bộ và 768 đảng viên; khối lượng công tác xây dựng Đảng (quy chế, tiếp nhận tổ chức đảng, phân công nhiệm vụ, lập cơ quan tham mưu giúp việc…) gia tăng ngay thời điểm bộ máy mới vận hành. Đồng thời, Quảng Ninh có đặc thù đường biên giới trên đất liền 118,825 km và biên giới trên biển 67,74 km, trải dài qua các địa bàn trọng điểm; điều kiện địa hình – an ninh – xã hội làm tăng yêu cầu “bám cơ sở”, nắm tình hình và xử lý vấn đề phát sinh.

Ở góc độ nền tảng dân cư – địa bàn, giai đoạn 2021 – 2025 Quảng Ninh được xác định có 56 xã, thị trấn thuộc khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phản ánh mức độ đa dạng và thách thức quản trị theo vùng12. Những điều kiện này khiến chất lượng sinh hoạt chi bộ, năng lực cụ thể hóa nghị quyết, công tác kiểm tra – giám sát ở một bộ phận tổ chức cơ sở đảng dễ bị “kéo giãn”, khó đồng đều.

Thứ hai, năng lực và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa theo kịp nhịp phân cấp; nguy cơ quá tải hành chính, chuyên môn gia tăng trong giai đoạn đầu vận hành.

Khi “trên 1.000 nhiệm vụ” được chuyển về cấp xã, yêu cầu đối với cán bộ cơ sở mở rộng mạnh sang các lĩnh vực tài chính – ngân sách, đầu tư, quy hoạch, đất đai, trật tự xã hội… Thực tế ghi nhận “độ vênh” ban đầu trong bố trí nhân lực: có nơi phân bổ công chức chuyên môn từ cấp huyện xuống cấp xã chưa hợp lý, chưa kịp thời bù các vị trí thiếu hụt. Áp lực hồ sơ cũng tăng nhanh theo quy mô đơn vị mới: tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Cẩm Phả, bình quân khoảng 280 hồ sơ/ngày; giai đoạn 01/7 – 15/9 tiếp nhận 12.775 hồ sơ.

Số liệu vận hành toàn hệ thống sau hơn 2 tháng cho thấy khối lượng xử lý rất lớn: Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh tiếp nhận 23.768 hồ sơ, giải quyết đúng hạn 99%; cấp xã tiếp nhận 95.317 hồ sơ, đã giải quyết 81.040 hồ sơ (trên 85%). Khối lượng lớn và đa dạng nghiệp vụ này làm tăng rủi ro sai sót chuyên môn, quá tải, phụ thuộc vào năng lực số, cũng như đặt ra yêu cầu cấp thiết về đào tạo theo vị trí việc làm và cơ chế hỗ trợ cán bộ phải di chuyển xa, địa bàn rộng13.

Thứ ba, tác động sau sắp xếp đơn vị hành chính tạo áp lực chuyển tiếp: hợp nhất địa điểm làm việc, quy trình điều hành và khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân ở các vùng xa.

Sáp nhập từ 171 xuống còn 54 đơn vị cấp xã làm “dãn” không gian quản trị và có thể làm tăng chi phí tiếp cận dịch vụ công đối với người dân ở thôn/bản xa trung tâm xã mới, nhất là ở khu vực miền núi (diện tích lớn, dân cư phân tán) 14. Trong giai đoạn đầu, thách thức không chỉ là tổ chức bộ máy mà còn là bảo đảm dịch vụ hành chính công liên tục, thống nhất, tránh “khoảng trống nhiệm vụ” và xử lý các khác biệt về hồ sơ địa chính, quy trình chứng thực, thủ tục liên quan đời sống dân cư giữa các đơn vị cũ. Trên thực tế, chính các cơ quan tỉnh cũng xác định việc không tổ chức cấp huyện đặt ra “bài toán” bố trí lại hệ thống quản lý để không chồng chéo thẩm quyền hoặc trùng lắp nhiệm vụ, cho thấy độ phức tạp của chuyển tiếp thể chế.

Thứ tư, cơ chế phối hợp trong hệ thống chính trị cơ sở còn lúng túng do thay đổi tầng nấc quản trị, cần tái thiết quy chế phối hợp theo logic chính quyền hai cấp và theo chuỗi công vụ.

Mô hình mới làm trục “tỉnh – xã” trở thành chủ đạo, đòi hỏi sở, ngành đóng vai trò điều phối trung tâm và xây dựng quy trình phối hợp với 54 đơn vị cấp xã về phân cấp ngân sách, vận hành dữ liệu, ban hành văn bản15. Tuy vậy, việc “vừa vận hành vừa hoàn thiện” cho thấy vẫn còn khoảng trống trong chuẩn hóa quy trình liên thông, phân định trách nhiệm theo tình huống, phối hợp ngang giữa các xã và cơ chế phản hồi nhanh khi phát sinh vấn đề liên ngành.

Thứ năm, vai trò tập hợp, phản biện xã hội và tạo đồng thuận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đứng trước yêu cầu mới; phương thức vận động quần chúng phải thích ứng với không gian xã mới rộng và quản trị số. Trong giai đoạn đầu vận hành, hình ảnh lực lượng đoàn viên hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến tại cơ sở cho thấy vai trò đồng hành của đoàn thể. Tuy nhiên, khi địa bàn quản trị rộng hơn và thủ tục ngày càng số hóa, Mặt trận và các đoàn thể phải nâng năng lực nắm bắt dư luận theo thời gian thực, hỗ trợ nhóm yếu thế tiếp cận dịch vụ, đồng thời tăng cường giám sát thực thi công vụ ở cấp xã – nơi “điểm chạm” với người dân dày đặc nhất.

Những khó khăn và thách thức nêu trên đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức, nhân sự và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trong giai đoạn 2025 – 2030, bảo đảm phù hợp với định hướng của tỉnh trong triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

3. Định hướng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 – 2030

Một là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Định hướng trọng tâm là nâng chất lượng tổ chức cơ sở đảng theo hướng “đúng vai – đúng việc – đúng kết quả”, coi chi bộ là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Mục tiêu hằng năm có trên 90% tổ chức cơ sở đảng và trên 90% đảng viên được xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, đồng thời tỷ lệ kết nạp đảng viên mới đạt 3- 3,5%/năm, cần được cụ thể hóa bằng cơ chế đo lường đầu ra và tăng cường kiểm tra, giám sát trong thực thi nhiệm vụ16.

Việc cụ thể hóa mục tiêu nên dựa trên kết quả tổng kết xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên giai đoạn 2010 đến nay, cũng như kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2015 – 2020, để nhận diện đúng “điểm nghẽn” về chất lượng sinh hoạt chi bộ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Trên nền đó, cần thống nhất tiêu chuẩn, quy trình lựa chọn và bố trí cán bộ chủ chốt cấp xã phù hợp quy mô địa bàn sau sắp xếp, khắc phục tình trạng không đồng đều về năng lực lãnh đạo giữa các khu vực.

Hai là, hoàn thiện mô hình tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính quyền cơ sở. Cấp xã trong mô hình hai cấp cần quản trị theo kết quả và phục vụ; đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền gắn kiểm soát quyền lực, minh bạch và giải trình, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Đồng thời, cần chuẩn hóa quy trình liên thông và tiêu chuẩn phục vụ tại bộ phận một cửa theo hướng thống nhất toàn tỉnh: quy định rõ các bước xử lý hồ sơ, người chịu trách nhiệm cuối cùng và thời hạn từng khâu; phân nhóm thủ tục theo mức xã xử lý, xã – tỉnh phối hợp hoặc tỉnh chủ trì. Thực hiện số hóa ngay khi tiếp nhận, công khai trạng thái hồ sơ theo thời gian thực, áp dụng hậu kiểm theo rủi ro và theo dõi bằng bảng chỉ số (đúng hạn, bổ sung, phản ánh kiến nghị) để bảo đảm vận hành thông suốt trong giai đoạn chuyển đổi.

Ba là, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo yêu cầu quản trị hiện đại thông qua quản trị năng lực theo vị trí việc làm (pháp lý – nghiệp vụ, năng lực số, điều phối và phục vụ Nhân dân). Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ, công chức phải dựa trên đánh giá “độ lệch năng lực” giữa các địa bàn và nhóm chức danh trước và sau sắp xếp, vận hành chính quyền hai cấp. Gắn chương trình phát triển năng lực với mục tiêu đến 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 48%17.

Bốn là, đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng giám sát – phản biện thực chất, tăng đối thoại ở cơ sở và đồng hành theo vấn đề phát sinh sau sắp xếp, nhất là trong cung ứng dịch vụ công. Đề xuất của tác giả là xây dựng quy trình số thống nhất để tiếp nhận – phân loại – theo dõi – phản hồi kiến nghị, công khai tiến độ và kết quả; đồng thời rà soát các mô hình tự quản theo tiêu chí đo lường để chọn mô hình hiệu quả nhân rộng.

Năm là, thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh theo thứ tự ưu tiên: số hóa trước các thủ tục có tần suất và rủi ro cao (đất đai – xây dựng – quy hoạch; tư pháp – hộ tịch, chứng thực; an sinh), chuẩn hóa dữ liệu dùng chung để giảm sai sót. Đồng thời, chú trọng chất lượng phục vụ khi PAR INDEX 2024 đạt 91,49 điểm (xếp 4/63) nhưng giảm 0,69 điểm; SIPAS 90,12% giảm 0,49%, coi đây là chỉ báo cảnh báo trong quá trình số hóa18; chuyển đổi xanh ưu tiên đô thị, du lịch, khu công nghiệp và các vấn đề gần dân như rác thải, nước sạch, nước thải như cụm Hạ Long (phường Hạ Long, Bãi Cháy, Việt Hưng), cụm Cẩm Phả (phường Cẩm Phả, Quang Hanh, Cửa Ông), cụm Quảng Yên gắn phát triển công nghiệp (phường Đông Mai, Hiệp Hòa, Hà An, Phong Cốc) và khu vực cửa khẩu, du lịch biển, đảo như phường Móng Cái 1, 2, 3 (trong đó Móng Cái 1 bao gồm Trà Cổ) cùng đặc khu Vân Đồn, đặc khu Cô Tô; trọng điểm xử lý là rác thải sinh hoạt, nước sạch và nước thải, đồng thời kiểm soát phát thải tại các khu/cụm công nghiệp gắn địa bàn, như: khu công nghiệp Cái Lân (khu vực Bãi Cháy) và khu công nghiệp Đông Mai (phường Đông Mai)19.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế phối hợp theo chuỗi công vụ giữa Đảng ủy – HĐND -UBND – Mặt trận và đoàn thể, bảo đảm “một việc – một đầu mối – một trách nhiệm cuối cùng”, phù hợp định hướng phân cấp gắn kiểm soát quyền lực và hậu kiểm.

Bảy là, gắn đổi mới hệ thống chính trị với nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân theo hướng bao trùm: chuyển trọng tâm sang an sinh bền vững, giảm dễ tổn thương và nâng chất lượng tiếp cận dịch vụ cơ bản, đo lường bằng chỉ báo chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân.
4. Kết luận

Đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở là yêu cầu tất yếu trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Quảng Ninh. Những kết quả đạt được giai đoạn 2010 – 2025 tạo nền tảng quan trọng nhưng vẫn đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện tổ chức, nhân sự và phương thức hoạt động trong giai đoạn 2026 – 2030 nhằm bảo đảm hệ thống chính trị cơ sở vận hành hiệu lực, hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn.

Chú thích:
1. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2022). Báo cáo số 189-BC/TU ngày 28/01/2022 tổng kết về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên từ năm 2010 đến nay.
2. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2006 – 2010.
3. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2010). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 – 2015.
4. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2022). Báo cáo số 189-BC/TU ngày 28/01/2022 tổng kết về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên từ năm 2010 đến nay.
5, 6. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2020). Báo cáo số 231-BC/TU ngày 15/9/2020 tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2015 – 2020.
7. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Báo cáo số 52-BC/TU ngày 04/11/2025 về tình hình đội ngũ cán bộ trước và sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
8. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2020). Báo cáo số 231-BC/TU ngày 15/9/2020 tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2015 – 2020.
9, 10. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Báo cáo số 52-BC/TU ngày 04/11/2025 về tình hình đội ngũ cán bộ trước và sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
11, 14. Sẵn sàng vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. https://www.quangninh.gov.vn/bannganh/ttpvhcc/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=1876
12, 15. Chính quyền địa phương 2 cấp của Quảng Ninh vận hành thông suốt. https://nhandan.vn/chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-cua-quang-ninh-van-hanh-thong-suot-post893856.html
13. Quảng Ninh vận hành hiệu quả mô hình chính quyền 2 cấp. https://dangcongsan.org.vn/quangninh/tin-tuc-hoat-dong/quang-ninh-van-hanh-hieu-qua-mo-hinh-chinh-quyen-2-cap.html
18. Quảng Ninh công bố kết quả Chỉ số PAR INDEX, SIPAS, DDCI, DGI, DTI năm 2024. https://baodautu.vn/quang-ninh-cong-bo-ket-qua-chi-so-par-index-sipas-ddci-dgi-dti-d254120.html
16, 17, 19. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 – 2030.