TS. Ngô Văn Toàn
PGS.TS. Phạm Quốc Việt
Trường Đại học Tài chính – Marketing
TS. Vũ Bá Thành
Trường Đại học Tôn Đức Thắng
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số và phát triển kinh tế số đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng. Doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số được xác định là lực lượng có vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững của nền kinh tế. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, từng bước hình thành khung pháp lý chuyên ngành cho ngành công nghiệp công nghệ số. Bài viết hệ thống hóa các chính sách hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số, chỉ ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ tài chính theo hướng đồng bộ.
Từ khóa: Cơ chế; chính sách; hỗ trợ tài chính; doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số; phát triển.
1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam xác định chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số là những trụ cột chiến lược nhằm tăng trưởng năng suất, năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập sâu rộng với các chuỗi giá trị toàn cầu. Chủ trương này được thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, trong đó việc hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp công nghệ số là một trong những nội dung trọng tâm nhằm giải quyết “nút thắt tài chính” cho phát triển sản phẩm, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, khẳng định coi phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu” để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại. Nghị quyết cũng chỉ rõ việc khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế, trong đó có cải cách cơ chế quản lý tài chính nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn và khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, trong đó có lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
Cùng với đó, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025 định hướng đến 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 2020 đặt mục tiêu phát triển doanh nghiệp số dựa trên việc tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, chuyển giao công nghệ và tạo sức bật tài chính để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận công nghệ số một cách hiệu quả. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số cũng xác định nhiều hoạt động nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, giảm chi phí chuyển đổi số và tăng cơ hội nhận hỗ trợ công nghệ1.
Đặc biệt, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 quy định việc xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Cụ thể, tại Điều 4 Luật quy định cơ chế ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế và các cơ chế ưu đãi khác trong nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển, sản xuất, ứng dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số. Qua đó, mở đường cho việc thiết kế các cơ chế tài chính đặc thù, phù hợp với chu kỳ phát triển của doanh nghiệp công nghệ số, như: hỗ trợ thuế ưu đãi, vốn tín dụng ưu đãi hoặc quỹ hỗ trợ R&D; đồng thời, khuyến khích đầu tư tư nhân và vốn nước ngoài vào lĩnh vực này.
Luật cũng quy định rõ nguồn tài chính cho phát triển công nghiệp công nghệ số phải được bố trí từ ngân sách nhà nước hằng năm để hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ số; đồng thời, doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào các hoạt động này được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế và đất đai. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định việc hỗ trợ chi phí thuê nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao và chi phí đào tạo, nâng cao kỹ năng cho nhân lực nội bộ, vốn là các khoản tài chính đáng kể đối với doanh nghiệp công nghệ số.
Cùng với luật chuyên ngành, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, trong đó bao gồm các nội dung hỗ trợ tài chính, tín dụng, ưu đãi thuế, phí và lệ phí đối với doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp công nghệ số khi tham gia thị trường2. Mặc dù Nghị quyết không chỉ rõ doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số, nhưng các chính sách tài chính được quy định có thể được áp dụng cho khối doanh nghiệp này trong khuôn khổ phát triển kinh tế tư nhân và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp và nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi giá trị số.
Ngoài ra, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân cũng quy định chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ và chi phí thực hiện chuyển đổi số thông qua cơ chế tính chi phí này vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc nhận hỗ trợ từ các quỹ liên quan. Đây là một trong số các công cụ tài chính gián tiếp tạo động lực cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực sản xuất và đổi mới.
2. Chính sách hỗ trợ tài chính phát triển doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số ở Việt Nam
Thứ nhất, chính sách thuế, phí, lệ phí và ưu đãi tài khóa cho đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ số.
Ưu đãi thuế được xem là đòn bẩy trực tiếp làm giảm chi phí và rủi ro ban đầu cho các chủ thể đổi mới sáng tạo, đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp công nghệ số vốn có chu kỳ đầu tư dài, chi phí đầu tư và phát triển (R&D) lớn và tốc độ “đốt vốn” cao. Theo Nghị quyết số 198/2025/QH15, Nhà nước áp dụng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đồng thời, Nghị quyết cũng quy định miễn thuế thu nhập cá nhân 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập tiền lương, tiền công của chuyên gia, nhà khoa học nhận từ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo và tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Các ưu đãi này có ý nghĩa kích hoạt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, gián tiếp thúc đẩy hình thành doanh nghiệp công nghệ số thông qua giảm gánh nặng thuế ở giai đoạn đầu và thu hút nhân lực chất lượng cao3.
Cùng với đó, Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để hệ thống hóa các trường hợp áp dụng ưu đãi, bao gồm nguyên tắc xác định đối tượng, điều kiện và cách thức áp dụng ưu đãi thuế theo quy định pháp luật thuế (đặc biệt đối với hoạt động đầu tư, lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và các trường hợp đáp ứng điều kiện theo văn bản chuyên ngành). Với doanh nghiệp công nghệ số, Nghị định này giúp củng cố kênh ưu đãi thuế như một bộ phận của chính sách tài chính, tạo khung pháp lý ổn định để doanh nghiệp dự liệu chi phí, kế hoạch đầu tư – R&D và chiến lược mở rộng.
Thứ hai, về chi ngân sách nhà nước và hỗ trợ tài chính trực tiếp cho nghiên cứu, phát triển và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo công nghệ số.
Nghị định số 97/2025/NĐ-CP ngày 05/5/2025 của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia và các tổ chức, cá nhân hoạt động tại Trung tâm cũng nêu rõ các nội dung như: (1) Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hoạt động tại Trung tâm được nhận tài trợ, hỗ trợ, vay vốn và bảo lãnh vốn vay từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các định chế tài chính theo quy định; (2) Một số nội dung hỗ trợ từ ngân sách nhà nước liên quan đến mặt bằng/hạ tầng của dự án đầu tư cơ sở Trung tâm; và (3) Trung tâm được sử dụng vốn ngân sách nhà nước và nguồn thu hợp pháp để đầu tư hạ tầng, trang thiết bị và triển khai các chương trình, dự án, hoạt động hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Các quy định này góp phần tạo khung thể chế để hình thành môi trường hỗ trợ đổi mới sáng tạo, qua đó, gián tiếp mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực cho doanh nghiệp công nghệ số trong hệ sinh thái NIC.
Thực tiễn triển khai hỗ trợ doanh nghiệp, tính đến hết tháng 9/2022 chương trình này đã tiếp cận 490.000 doanh nghiệp SME và có hơn 62.000 doanh nghiệp lựa chọn sử dụng nền tảng trong chương trình. Đây là minh chứng rõ nét cho kết quả triển khai các hoạt động hỗ trợ (dưới dạng nền tảng, kết nối) nhằm thúc đẩy chuyển đổi số của khu vực doanh nghiệp, qua đó, tạo môi trường thị trường thuận lợi hơn cho hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số4.
Thứ ba, hỗ trợ vốn, tín dụng, quỹ tài chính và bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số.
Trong nhóm chính sách hỗ trợ tài chính, các công cụ vốn – tín dụng – quỹ tài chính và bảo lãnh tín dụng giúp cải thiện khả năng huy động nguồn lực cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo – nhóm có mức độ phù hợp cao với khu vực doanh nghiệp công nghệ số. Về mặt pháp lý, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã xác lập khung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có các nội dung hỗ trợ liên quan đến tiếp cận tín dụng và tổ chức thực hiện hỗ trợ từ phía Nhà nước (thông qua chương trình, nguồn lực và cơ chế phối hợp). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành các công cụ tài chính công hỗ trợ doanh nghiệp trong trường hợp gặp hạn chế khi tiếp cận thị trường vốn.
Ngày 26/8/2021, Nghị định số 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành đã cụ thể hóa việc xác lập cơ chế triển khai các nội dung hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời, làm rõ các hình thức và nguyên tắc hỗ trợ thông qua hệ thống chương trình, cơ quan, tổ chức hỗ trợ. Qua đó, tạo căn cứ cho việc triển khai các biện pháp hỗ trợ tài chính, tiếp cận nguồn lực theo khuôn khổ pháp luật hiện hành.
Bên cạnh đó, kênh hỗ trợ thông qua quỹ chuyên ngành về đổi mới công nghệ là một bộ phận quan trọng trong chính sách vốn. Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia (NATIF) là quỹ hoạt động với chức năng và các hình thức hỗ trợ, tài trợ theo quy định, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ. Đây là một kênh tham chiếu trực tiếp khi phân tích hệ thống quỹ hỗ trợ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ – yếu tố gắn chặt với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ số.
Thứ tư, chính sách tạo thị trường và không gian phát triển cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số.
Theo quy định tại Nghị định số 354/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, khu công nghệ số tập trung được xác định là khu vực tập trung các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số, với các quy định cụ thể về điều kiện thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động. Việc ban hành Nghị định này cho thấy, Nhà nước đã chính thức thiết lập một mô hình không gian hoạt động chuyên biệt cho công nghệ số, tạo cơ sở pháp lý để tập trung doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các chủ thể liên quan trong cùng một khu vực được quản lý theo cơ chế thống nhất5.
Cùng với việc thiết lập không gian hoạt động, Nghị định số 353/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số. Việc sớm có một nghị định hướng dẫn thi hành ngay khi Luật có hiệu lực đã cho thấy yêu cầu cấp thiết trong việc tạo môi trường pháp lý rõ ràng, đồng bộ cho doanh nghiệp công nghệ số tham gia thị trường; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ số có thể yên tâm đầu tư, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ trong bối cảnh luật mới có hiệu lực6.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 09/9/2025, trong đó cụ thể hóa các nhiệm vụ, như: xây dựng văn bản quy định chi tiết, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và phân công trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương. Quyết định này được đánh giá là căn cứ để bảo đảm việc triển khai Luật được thực hiện theo lộ trình thống nhất, qua đó, góp phần hình thành môi trường pháp lý ổn định cho các chủ thể tham gia hoạt động công nghiệp công nghệ số.
Mặc dù khung chủ trương, chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số ở Việt Nam đã từng bước được hình thành và mở rộng trên nhiều mặt, song nhìn chung vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập, cụ thể:
Một là, sự phân tán và thiếu liên thông giữa các nhóm chính sách hỗ trợ tài chính.
Hiện nay, nhìn chung mỗi nhóm chính sách được ban hành thường theo các mục tiêu, luật chuyên ngành và cơ quan quản lý khác nhau. Chẳng hạn, ưu đãi thuế cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được quy định trong Nghị quyết 198/2025/QH15; hỗ trợ ngân sách cho đổi mới sáng tạo được triển khai thông qua các nghị định về khoa học và công nghệ hoặc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia. Trong khi các chính sách vốn – tín dụng lại gắn với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các nghị định hướng dẫn. Các văn bản này chưa hình thành được một chuỗi chính sách liên thông theo vòng đời doanh nghiệp, từ giai đoạn hình thành, nghiên cứu – phát triển, thương mại hóa đến mở rộng thị trường. Thực tế các địa phương, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn nhất định trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ khi Luật Công nghiệp công nghệ số được triển khai cho thấy, độ trễ nhất định trong tổ chức thực thi và phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan7.
Hai là, mức độ phù hợp của các công cụ hỗ trợ tài chính với đặc thù của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số còn hạn chế.
Đặc thù của doanh nghiệp công nghệ số là dựa nhiều vào tài sản vô hình, chi phí nghiên cứu – phát triển lớn, thời gian hoàn vốn dài và mô hình kinh doanh thay đổi nhanh. Tuy nhiên, phần lớn các chính sách ưu đãi tài chính hiện nay vẫn được thiết kế theo logic chung của doanh nghiệp truyền thống, đặc biệt trong lĩnh vực thuế và tín dụng. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 đã mở ra hướng ưu đãi thuế cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyên gia, nhà khoa học, song phạm vi áp dụng vẫn chủ yếu tập trung vào giai đoạn đầu, chưa bao quát đầy đủ các giai đoạn phát triển tiếp theo của doanh nghiệp công nghệ số. Hơn nữa, nếu ưu đãi tài chính không gắn với tiêu chí công nghệ, R&D hoặc kết quả đổi mới sáng tạo thì hiệu quả khuyến khích nâng cấp năng lực công nghệ của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế8.
Ba là, khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp còn chưa cao, đặc biệt đối với các doanh nghiệp công nghệ số nhỏ, mới thành lập.
Các quy định về hỗ trợ vốn, tín dụng và bảo lãnh tín dụng trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các nghị định hướng dẫn đã tạo ra khung pháp lý tương đối đầy đủ, nhưng trên thực tế, điều kiện tiếp cận, thủ tục và yêu cầu chứng minh năng lực tài chính, phương án sản xuất – kinh doanh vẫn là rào cản đối với nhiều doanh nghiệp công nghệ số, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, mặc dù có các quỹ bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ, song số lượng doanh nghiệp công nghệ số thực sự tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi còn hạn chế, dẫn đến khoảng cách giữa thiết kế chính sách và kết quả thực thi.
Bốn là, việc tạo thị trường và không gian phát triển cho doanh nghiệp công nghệ số mới dừng ở mức thiết lập khung pháp lý, chưa gắn với các cơ chế hỗ trợ tài chính cụ thể.
Nghị định số 354/2025/NĐ-CP về khu công nghệ số tập trung và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số đã xác lập mô hình không gian hoạt động và khuôn khổ pháp lý cần thiết cho doanh nghiệp công nghệ số. Tuy nhiên, để khu công nghệ số tập trung thực sự phát huy hiệu quả, cần có sự kết nối chặt chẽ hơn giữa không gian hoạt động này với các chính sách thuế, tín dụng, đầu tư và hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trong khi hiện nay các cơ chế này vẫn đang được triển khai theo từng kênh riêng biệt9.
3. Một số giải pháp thúc đẩy hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số
3.1. Hoàn thiện chính sách thuế và ưu đãi tài khóa theo hướng gắn với đổi mới sáng tạo và đặc thù doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số
Để chính sách thuế và ưu đãi tài khóa thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số cần tập trung hoàn thiện theo hướng định hướng hành vi đầu tư và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở các ưu đãi mang tính khuyến khích chung. Vì vậy, cần cụ thể hóa các ưu đãi thuế trong Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội theo hướng gắn với các tiêu chí rõ ràng, có thể đo lường và kiểm soát. Cần điều chỉnh cách thức áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng “ưu đãi có điều kiện”, phù hợp với chu trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Ưu đãi thuế có điều kiện sẽ phát huy hiệu quả hơn khi gắn với các yêu cầu cụ thể về đầu tư cho R&D, nâng cao hàm lượng công nghệ và tham gia chuỗi giá trị, thay vì áp dụng dàn trải theo danh mục ngành nghề.
Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của chính sách thuế thu nhập cá nhân và các công cụ tài khóa khác trong thu hút và giữ chân nhân lực công nghệ số chất lượng cao. Việc triển khai nhất quán các ưu đãi thuế đối với chuyên gia, nhà khoa học theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số giảm chi phí nhân lực; đồng thời, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo nội tại.
3.2. Hoàn thiện cơ chế chi ngân sách nhà nước và hỗ trợ tài chính trực tiếp.
Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần định hướng lại việc sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học – công nghệ theo hướng ưu tiên rõ ràng đối với công nghệ số, trên cơ sở khung pháp lý của Nghị định số 95/2014/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ. Nghị định đã quy định các nội dung chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ, cũng như cơ chế trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, song việc triển khai trên thực tế cần được cụ thể hóa hơn đối với các nhiệm vụ, dự án R&D trong lĩnh vực công nghệ số, bảo đảm nguồn lực ngân sách được tập trung cho các hoạt động có khả năng tạo ra sản phẩm, dịch vụ công nghệ số ứng dụng trong thực tiễn.
Trên cơ sở đó, cũng cần đổi mới cách thức thiết kế và triển khai các chương trình, nhiệm vụ khoa học – công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, theo hướng tăng tỷ trọng các nhiệm vụ đặt hàng gắn với nhu cầu thị trường và khả năng thương mại hóa của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Việc lựa chọn nhiệm vụ cần gắn với vai trò chủ trì hoặc tham gia trực tiếp của doanh nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào các tổ chức nghiên cứu công lập, qua đó, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực ngân sách và chủ động đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất – kinh doanh.
Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, đặc biệt là Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC). Từ đó, cần mở rộng và đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp thông qua NIC, như: hỗ trợ chi phí thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm và kết nối thương mại hóa đối với doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Qua đó, tạo động lực tài chính cho doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số đầu tư vào R&D và thương mại hóa công nghệ, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số và công nghiệp công nghệ số trong giai đoạn tới.
3.3. Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ vốn, tín dụng và bảo lãnh theo hướng phù hợp với đặc thù doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số.
Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số cần tăng cường vai trò của các thiết chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ số, trên cơ sở khuôn khổ pháp lý của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP. Việc triển khai các chính sách hỗ trợ cần được tổ chức theo hướng linh hoạt hơn, thông qua các chương trình hỗ trợ tiếp cận tín dụng, kết nối doanh nghiệp với các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào hình thức vay vốn truyền thống.
Ngoài ra, cần phát huy vai trò của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách trong hỗ trợ đổi mới công nghệ, tiêu biểu là Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF). Quỹ có chức năng thực hiện các hình thức hỗ trợ như tài trợ, cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đổi mới công nghệ. Việc định hướng ưu tiên các dự án công nghệ số có khả năng thương mại hóa và lan tỏa công nghệ sẽ góp phần bổ sung một kênh vốn phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Đặc biệt, để các cơ chế hỗ trợ vốn và tín dụng phát huy hiệu quả, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tài chính và tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo, bảo đảm thông tin chính sách được truyền tải đầy đủ, thống nhất đến doanh nghiệp.
3.4. Hoàn thiện cơ chế gắn chính sách tài chính với không gian phát triển và thị trường của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số
Trên thực tế, các chính sách tài chính nếu vận hành tách rời khỏi môi trường hoạt động cụ thể của doanh nghiệp sẽ khó tạo ra tác động lan tỏa, đặc biệt đối với lĩnh vực công nghệ số có tính liên ngành cao và phụ thuộc mạnh vào hệ sinh thái. Vì vậy, cần lồng ghép các công cụ hỗ trợ tài chính vào mô hình khu công nghệ số tập trung theo khuôn khổ pháp lý đã được xác lập. Nghị định số 354/2025/NĐ-CP quy định về khu công nghệ số tập trung đã tạo nền tảng cho việc hình thành các không gian hoạt động tập trung của doanh nghiệp công nghệ số, với cơ chế tổ chức và quản lý riêng. Vì vậy, cần thiết kế các gói hỗ trợ tài chính (thuế, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ chi phí R&D, thử nghiệm) ưu tiên áp dụng trong phạm vi khu công nghệ số tập trung, nhằm tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia và hình thành cụm liên kết công nghệ số theo không gian.
Tiếp đó, cần kết nối chính sách tài chính với các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đặc biệt là Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) theo Nghị định số 97/2025/NĐ-CP. Văn bản này cho phép sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn lực hợp pháp để đầu tư hạ tầng, trang thiết bị và triển khai chương trình, dự án hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Việc gắn các hình thức hỗ trợ tài chính (tài trợ, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ chi phí thử nghiệm) với hoạt động của doanh nghiệp trong NIC sẽ giúp giảm chi phí tiếp cận thị trường và rút ngắn chu trình thương mại hóa công nghệ số.
3.5. Hoàn thiện cơ chế tổ chức thực thi, phối hợp và giám sát chính sách hỗ trợ tài chính.
Cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý tài chính, khoa học – công nghệ, thông tin và truyền thông, kế hoạch và đầu tư trong triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số. Việc phối hợp này cần được thể chế hóa thông qua các quy trình, hướng dẫn liên thông, bảo đảm doanh nghiệp có thể tiếp cận đồng thời các công cụ hỗ trợ tài chính khác nhau mà không gặp rào cản về thủ tục hay thông tin phân tán.
Một trong những nội dung quan trọng nữa là hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ tài chính. Trên cơ sở các quy định hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số tại Nghị định số 353/2025/NĐ-CP, cần thiết kế các tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng nhóm chính sách hỗ trợ tài chính, gắn với kết quả đầu ra như số lượng doanh nghiệp công nghệ số được hỗ trợ, mức độ đầu tư cho R&D, khả năng thương mại hóa sản phẩm công nghệ số. Việc giám sát dựa trên tiêu chí rõ ràng sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của chính sách. Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và giám sát chính sách hỗ trợ tài chính, thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số, các chương trình hỗ trợ và kết quả thực hiện. Cách tiếp cận này không chỉ phù hợp với định hướng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước mà còn tạo nền tảng để điều chỉnh chính sách kịp thời, dựa trên bằng chứng từ thực tiễn.
4. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia được đẩy mạnh và công nghiệp công nghệ số ngày càng trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số ở Việt Nam có ý nghĩa cấp thiết. Mặc dù khung chủ trương, chính sách hỗ trợ tài chính đã từng bước được hình thành và mở rộng, song hệ thống chính sách hiện hành vẫn còn những hạn chế về tính liên thông, mức độ phù hợp với đặc thù doanh nghiệp công nghệ số và hiệu quả tổ chức thực thi. Do đó, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng đồng bộ, có trọng tâm và gắn chặt với chu trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Với việc tham gia góp ý các giải pháp trên, hy vọng sẽ cung cấp những hàm ý chính sách góp phần tạo lập môi trường tài chính thuận lợi, thúc đẩy sự hình thành và phát triển bền vững của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ số, qua đó, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn tới.
Chú thích:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT ngày 07/01/2021 về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021 -2025.
2. Nghị quyết 198/2025/QH15: Hỗ trợ tài chính, tín dụng, thuế, phí, lệ phí, ưu đãi lựa chọn nhà thầu. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/chinh-sach-dac-biet-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-ho-tro-tai-chinh-tin-dung-thue-phi-le-phi-uu-dai-lua-chon-nha-thau-119250518063622747.htm
3. Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-198-2025-qh15-ve-mot-so-co-che-chinh-sach-dac-biet-phat-tratien-kinh-te-tu-nhan-119250517191622422.htm
4. Đo lường chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa SMEdx (tháng 9/2022). https://dx.gov.vn/do-luong-chuyen-doi-so-doanh-nghiep-nho-va-vua-smedx-thang-9-2022-tuan-41-1668137590923.htm
5, 9. Doanh nghiệp vào khu công nghệ số tập trung được hưởng loạt ưu đãi đặc thù. https://baochinhphu.vn/doanh-nghiep-vao-khu-cong-nghe-so-tap-trung-duoc-huong-loat-uu-dai-dac-thu-10225120716005286.htm
6, 7. “Chạy đua” triển khai Luật Công nghiệp công nghệ số. https://vneconomy.vn/chay-dua-trien-khai-luat-cong-nghiep-cong-nghe-so.htm
8. Ưu đãi thuế có điều kiện cho doanh nghiệp điện tử: Tiêu chí và định hướng. https://vjst.vn/uu-dai-thue-co-dieu-kien-cho-doanh-nghiep-dien-tu-tieu-chi-va-dinh-huong-77511.html
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Chính phủ (2025). Nghị định số 97/2025/NĐ-CP ngày 05/5/2025 quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
4. Chính phủ (2014). Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
5. Chính phủ (2018). Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
6. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
7. Chính phủ (2025). Nghị định số 353/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số.
8. Chính phủ (2025). Nghị định số 354/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về khu công nghệ số tập trung.
9. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 09/9/2025 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số.
10. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.



