Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Thanh Hóa

Võ Văn Mạnh
NCS Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là công cụ quan trọng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế địa phương dựa trên cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách thể chế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, PCI vừa phản ánh hiệu quả quản trị công, vừa tác động trực tiếp đến thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, tổng hợp các nghiên cứu liên quan, đánh giá thực trạng PCI của tỉnh Thanh Hóa và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện PCI của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.

Từ khóa: PCI; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; môi trường đầu tư; cải cách hành chính; tỉnh Thanh Hóa.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các địa phương, năng lực điều hành kinh tế trở thành yếu tố quyết định khả năng thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được xây dựng dựa trên khảo sát doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phản ánh trực tiếp chất lượng điều hành qua cảm nhận của các doanh nghiệp trực tiếp triển khai dự án và sản xuất – kinh doanh.

Tỉnh Thanh Hóa đã đạt nhiều kết quả nổi bật về tăng trưởng GRDP, thu ngân sách, phát triển công nghiệp và hạ tầng, đặc biệt nhờ động lực từ Khu kinh tế Nghi Sơn. Tuy nhiên, đánh giá của doanh nghiệp cho thấy, môi trường kinh doanh của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Do đó, việc phân tích thực trạng PCI của tỉnh Thanh Hóa là cần thiết nhằm cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong giai đoạn tới.

2. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, cạnh tranh trở thành động lực cốt lõi thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững. Cạnh tranh được hiểu là quá trình các chủ thể kinh tế nỗ lực tối ưu hóa nguồn lực nhằm đạt lợi thế vượt trội trong thu hút đầu tư, nguồn nhân lực và thị trường. Trên phương diện địa phương, năng lực cạnh tranh phản ánh khả năng của một tỉnh trong việc kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, chi phí hợp lý và hiệu quả quản trị cao, qua đó, nâng cao sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh không chỉ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn thể hiện chất lượng điều hành và mức độ năng động của chính quyền địa phương trước những yêu cầu phát triển mới.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam xây dựng nhằm đo lường chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách của chính quyền địa phương. Các điều kiện cải thiện PCI, bao gồm: hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng hạ tầng; tăng tính minh bạch; giảm chi phí không chính thức; bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp. Vai trò của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thể hiện ở việc PCI trở thành thước đo uy tín của chính quyền, là tín hiệu quan trọng đối với nhà đầu tư; đồng thời, tạo áp lực cải cách mạnh mẽ giữa các địa phương. Một địa phương có PCI cao thường thu hút được dòng vốn FDI, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa phát triển, tạo công ăn việc làm và đóng góp tích cực cho tăng trưởng GDP.

Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tập trung vào các nhóm giải pháp, như: hoàn thiện hệ thống cơ chế, quy định tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; đơn giản hóa thủ tục hành chính và mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến; cải thiện chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo gắn với nhu cầu thị trường; phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị công và tăng cường đối thoại doanh nghiệp. Các chính sách này hướng tới mục tiêu tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, dễ dự đoán và giảm thiểu rủi ro cho khu vực tư nhân.

Nội dung của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. PCI được cấu thành từ nhiều chỉ số thành phần phản ánh các khía cạnh cốt lõi của môi trường kinh doanh như: chi phí gia nhập thị trường; tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; tính minh bạch và tiếp cận thông tin; chi phí thời gian và gánh nặng thủ tục hành chính; chi phí không chính thức; cạnh tranh bình đẳng; tính năng động và tiên phong của chính quyền; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; đào tạo lao động và an ninh trật tự. Mỗi chỉ số thành phần phản ánh mức độ cải cách của từng địa phương, qua đó, giúp tỉnh xác định điểm mạnh, điểm yếu và lĩnh vực cần ưu tiên điều chỉnh.

Nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, bao gồm: chất lượng điều hành của chính quyền; năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ công; hiệu quả phối hợp liên ngành; chất lượng đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp; hiệu quả thực thi pháp luật tại cơ sở; chất lượng hạ tầng giao thông, logistics và hạ tầng số; trình độ lao động địa phương; mức độ tương thích giữa chính sách và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Các yếu tố này có tác động lẫn nhau và quyết định tổng thể năng lực cạnh tranh của mỗi tỉnh.

3. Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh Thanh Hóa nằm ở vị trí cửa ngõ kết nối Bắc Bộ với Trung Bộ, sở hữu hệ thống giao thông thuận lợi gồm quốc lộ, đường sắt, đường biển và sân bay, tạo điều kiện phát triển kinh tế – giao thương. Địa hình đa dạng với vùng núi, đồng bằng và ven biển, tài nguyên khoáng sản phong phú và quỹ đất rộng cho nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế biển. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2022 nhìn chung cải thiện nhưng không ổn định và thường ở nhóm trung bình thấp so với cả nước. Một số chỉ số thành phần, như: gia nhập thị trường, minh bạch, chi phí thời gian và chi phí không chính thức giảm sút cho thấy môi trường đầu tư – kinh doanh chưa thực sự thuận lợi, làm hạn chế năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Thanh Hóa cho thấy, giai đoạn 2020 – 2022 nhiều chỉ số giảm điểm, nổi bật là chỉ số gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, cạnh tranh bình đẳng và đào tạo lao động, chủ yếu do thủ tục hành chính chậm, hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất thiếu đồng bộ và năng lực chính quyền cơ sở còn hạn chế. Bên cạnh đó, tác động của dịch Covid-19, biến động kinh tế toàn cầu và hạn chế trong chất lượng khảo sát doanh nghiệp cũng làm giảm kết quả. Một số chỉ số duy trì hoặc cải thiện, như: minh bạch, chi phí thời gian và hỗ trợ doanh nghiệp, song chưa đủ bù đắp xu hướng giảm chung.

Năm 2024, PCI của tỉnh có những chuyển biến tích cực, thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước. Đặc biệt, Thanh Hóa được ghi nhận là một trong 3 địa phương cải cách mạnh mẽ nhất giai đoạn 2005 – 20241. Kết quả này phản ánh sự đổi mới đồng bộ trong công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí cho doanh nghiệp, tăng cường đối thoại và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất – kinh doanh. Việc cải thiện PCI không chỉ nâng cao vị thế, hình ảnh của Thanh Hóa trên bản đồ năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, tạo nền tảng thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững1.

Mặc dù có tiến bộ, năng lực cạnh tranh của tỉnh Thanh Hóa vẫn chịu tác động tiêu cực từ sự sụt giảm ở bốn chỉ số trọng yếu: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, cạnh tranh bình đẳng và đào tạo lao động. Nguyên nhân chủ yếu đến từ thủ tục hành chính phức tạp, năng lực cán bộ cơ sở hạn chế và tình trạng chậm trễ, thiếu minh bạch trong giải phóng mặt bằng và cấp giấy chứng nhận đất đai. Bên cạnh đó, sự ưu tiên dành cho doanh nghiệp nhà nước và FDI gây bất lợi cho doanh nghiệp tư nhân, trong khi chất lượng đào tạo lao động chưa đáp ứng nhu cầu thị trường do thiếu liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

4. Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Thanh Hóa

Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh Thanh Hóa phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước với cơ cấu kinh tế hợp lý, GRDP bình quân đầu người tăng mạnh và hệ thống dịch vụ xã hội phát triển. Việc cải thiện PCI được gắn với nâng cao minh bạch, hoàn thiện thiết chế pháp lý, cải thiện gia nhập thị trường, phát triển nhân lực và bảo đảm môi trường kinh doanh công bằng, hiệu quả.

Một là, tỉnh Thanh Hóa cần ưu tiên cải thiện các chỉ số giảm điểm, gồm: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, cạnh tranh bình đẳng và đào tạo lao động. Giải pháp trọng tâm là đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao năng lực chính quyền cơ sở, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, minh bạch hóa quy trình cấp đất và giảm chi phí không chính thức. Đồng thời, tỉnh cần điều chỉnh chính sách ưu đãi theo hướng bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, tăng khả năng tiếp cận vốn của khu vực tư nhân. Với đào tạo lao động, mở rộng liên kết doanh nghiệp – cơ sở đào tạo, phát triển kỹ năng theo nhu cầu thị trường và bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng phục vụ tăng trưởng kinh tế.

Hai là, để nâng cao PCI một cách bền vững, tỉnh Thanh Hóa cần tập trung cải thiện ba nhóm chỉ số có tác động thứ cấp gồm: tính minh bạch, thiết chế pháp lý và tính năng động của chính quyền. Về tính minh bạch, cần nâng cấp hệ thống thông tin điện tử, công khai quy hoạch, chính sách và dự thảo văn bản pháp quy, mở rộng tham vấn doanh nghiệp, qua đó, giảm chi phí tuân thủ và tăng niềm tin thị trường. Về thiết chế pháp lý, cần rà soát thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình giải quyết tranh chấp, nâng cao chất lượng tư vấn pháp lý và trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng. Đối với tính năng động, cần tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, thúc đẩy tinh thần tiên phong của lãnh đạo và nâng cao hiệu quả xử lý khiếu nại, bảo đảm môi trường kinh doanh ổn định và thân thiện.

Ba là, để cải thiện chỉ số PCI và khắc phục các hạn chế kéo dài giai đoạn 2018 – 2023, tỉnh cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính thể chế, tổ chức thực thi và hỗ trợ doanh nghiệp. Trước hết, cần ban hành kế hoạch hành động PCI giai đoạn 2025 – 2030 với mục tiêu, chỉ tiêu định lượng rõ ràng cho từng chỉ số thành phần, đồng thời vận hành hiệu quả Ban Chỉ đạo PCI để giám sát, điều phối và đánh giá tiến độ cải thiện. Bên cạnh đó, cần ưu tiên đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, số hóa quy trình đăng ký kinh doanh, công khai quy hoạch và chuẩn hóa thủ tục đất đai nhằm giảm chi phí tuân thủ và tăng tính minh bạch. Các sở, ngành cần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, đặc biệt trong quản lý đất đai và đào tạo lao động. Doanh nghiệp và Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh cần chủ động phối hợp với chính quyền, tăng cường phản hồi chính sách và tham gia các chương trình hỗ trợ. Các cơ quan trung ương và VCCI cần tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và chia sẻ kinh nghiệm để tạo động lực cải cách bền vững cho tỉnh Thanh Hóa.

Bốn là, tinh giản đầu mối hành chính và chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp tại Thanh Hóa tạo ra những tác động đáng kể đến PCI, vừa mở ra cơ hội cải thiện hiệu quả quản trị, vừa đặt ra thách thức trong giai đoạn chuyển tiếp. Tuy nhiên, nguy cơ gián đoạn dịch vụ, thiếu hụt nhân sự chuyên môn và sự không đồng bộ trong chuyển giao nhiệm vụ có thể làm tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Do vậy, tỉnh cần ưu tiên chuẩn hóa quy trình hành chính một cấp, phát triển nền tảng số dùng chung cho đăng ký kinh doanh và đất đai. Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát minh bạch, hoàn thiện hệ thống phản hồi doanh nghiệp và chủ động liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo lao động. Tập hợp các giải pháp này sẽ giúp tỉnh giảm thiểu rủi ro chuyển tiếp và tận dụng tinh giản tổ chức như một động lực cải thiện PCI bền vững.

Chú thích:
1. 10 dấu ấn nổi bật của tỉnh Thanh Hóa năm 2025. https://thuongninh.thanhhoa.gov.vn/tin-tuc-su-kien/10-dau-an-noi-bat-cua-tinh-thanh-hoa-nam-2025-646437
Tài liệu tham khảo:
1. Vũ Thành Tự Anh (2006). Xé rào ưu đãi đầu tư là cuộc đua chạy xuống đáy. Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 50/2006, tr. 14 – 17.
2. Bộ Chính trị (2013). Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế.
3. Bộ Tư pháp (2013). Báo cáo số 11/BC – BTP ngày 14/01/2013 về tình hình thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương trong năm 2012.
4. Chu Văn Cấp (2003). Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. H. NXB Chính trị quốc gia.
5. Ambastha and Momaya (2004). Competitiveness of Firms: Review of Theory. Frameworks and Models.
6. Beamon, B.M. (1998). Supply chain design and analysis: Models and Methods. International Journal of Production.
7. Barney, J. B. (2001). Resource-based theories of competitive advantage: A ten- year retrospective on the resource-based view. Journal of Management.
8. Briguglio L. and G. Cordina (2004). Competitiveness Strategines for Small States, Published in 2004 by the Islands and Small States Institute of the University of Malta in collaboration with the Commonwealth Secretariat. ISBN 9909-49-20-4