ThS. Nguyễn Văn Hoán
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển hạ tầng chiến lược là một trong những giải pháp then chốt nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tư ở các địa phương. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, vai trò của hạ tầng chiến lược ngày càng trở nên nổi bật. Bài viết phân tích quá trình phát triển hạ tầng chiến lược trong mối quan hệ trực tiếp với xây dựng và cải thiện môi trường đầu tư ở tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở đó, rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong công tác quản lý nhà nước hiện nay.
Từ khóa: Hạ tầng chiến lược; môi trường đầu tư; quản lý nhà nước; thu hút đầu tư; Quảng Ninh.
1. Đặt vấn đề
Phát triển hạ tầng chiến lược ở các địa phương không chỉ là vấn đề đầu tư xây dựng các công trình kỹ thuật đơn thuần mà là một quá trình mang tính tổng thể, có tác động sâu rộng đến không gian phát triển, phương thức quản lý, năng lực điều hành của chính quyền địa phương và chất lượng môi trường đầu tư. Hạ tầng chiến lược ngày càng giữ vai trò quyết định trong việc giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả sản xuất của nhà đầu tư. Những năm qua, tỉnh Quảng Ninh khẳng định vị thế một địa phương có nhiều đổi mới, mang tính điển hình trên phạm vi cả nước trong phát triển hạ tầng giao thông, khu công nghiệp – khu kinh tế, hạ tầng đô thị và logistics gắn với cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.
2. Thực trạng phát triển hạ tầng chiến lược gắn với xây dựng môi trường đầu tư ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020 – 2025
Phát triển hạ tầng chiến lược ở tỉnh Quảng Ninh diễn ra trong bối cảnh chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố mới, vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý nhà nước ở địa phương. Trước hết, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là việc Việt Nam tham gia và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, gia tăng dòng vốn đầu tư; đồng thời, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống hạ tầng kết nối. Trong bối cảnh đó, các địa phương phải có hạ tầng giao thông, logistics và khu công nghiệp đủ năng lực để tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư.
Cùng với đó, cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương ngày càng gay gắt. Khi cải cách thể chế và cải thiện thủ tục hành chính dần trở thành xu hướng chung, hạ tầng chiến lược nổi lên như một lợi thế cạnh tranh quan trọng. Thực tiễn cho thấy, những địa phương có hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chi phí logistics thấp thường có khả năng thu hút và giữ chân nhà đầu tư cao hơn, điều này được phản ánh rõ nét qua kết quả đánh giá môi trường kinh doanh hằng năm của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Bên cạnh đó, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc1, đã làm thay đổi mô hình sản xuất, quản trị và tổ chức không gian phát triển, kéo theo yêu cầu mới đối với hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông thông minh, hạ tầng logistics hiện đại và hạ tầng đô thị gắn với chuyển đổi số.
Đặc biệt, đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020 – 2022 đã tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh và thu hút đầu tư, làm đứt gãy nhiều chuỗi cung ứng: “Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19”2. Trong bối cảnh đó, vai trò của hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông và logistics, càng thể hiện rõ trong việc duy trì lưu thông hàng hóa, hỗ trợ phục hồi kinh tế và ổn định môi trường đầu tư.
Nhìn lại giai đoạn trước năm 2020, mặc dù Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, song hệ thống hạ tầng chiến lược vẫn còn những điểm nghẽn nhất định, nhất là về tính đồng bộ và khả năng kết nối liên vùng: “Hạ tầng kinh tế – xã hội vùng sâu, vùng xa có mặt chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển”3.
Từ những tác động và thực trạng nêu trên, yêu cầu đặt ra đối với tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2020 – 2025 phải phát triển hạ tầng chiến lược đi trước một bước, đóng vai trò dẫn dắt và tạo dư địa cho thu hút đầu tư; đồng thời, phải trực tiếp tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư, góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp, nâng cao khả năng kết nối trong nội tỉnh, liên vùng và quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Quán triệt các quan điểm của Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tỉnh Quảng Ninh xác định phát triển hạ tầng chiến lược là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, khâu đột phá của nhiệm kỳ 2020 – 2025, coi đây là nền tảng quan trọng để cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV nhấn mạnh yêu cầu “Đẩy nhanh tốc độ phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại bảo đảm liên thông, tổng thể, trọng tâm ưu tiên là phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, công nghệ thông tin, viễn thông cảng biển và dịch vụ cảng biển, hạ tầng các khu công nghiệp, khu kinh tế”4 nhằm tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện môi trường đầu tư.
Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy đã ban hành các nghị quyết, kết luận hằng năm về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã cụ thể hóa bằng các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch phát triển trung hạn và hằng năm, trong đó dành ưu tiên lớn cho đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược. Nghị quyết số 108/NQ-HĐND ngày 09/7/2022 của UBND tỉnh Quảng Ninh thông qua Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt yêu cầu quy hoạch hạ tầng theo hướng “Kiên trì thực hiện mô hình tổ chức không gian phát triển “một tâm, hai tuyến đa chiều, hai mũi đột phá, ba vùng động lực”, kiến tạo các hành lang giao thông gắn với các hành lang kinh tế, hành lang đô thị, hướng tới xây dựng thành thành phố trực thuộc Trung ương và thúc đẩy liên kết nội vùng, liên kết vùng, phân công và hợp tác lãnh thổ, bảo đảm các tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh từng địa phương tại tỉnh”5.
Thực tiễn triển khai cho thấy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của tỉnh, hạ tầng giao thông và logistics được đầu tư đồng bộ, đóng vai trò dẫn dắt trong cải thiện môi trường đầu tư. Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025 – 2030 khẳng định, đến năm 2025, toàn tỉnh đã đưa vào khai thác 825 km đường bộ, trong đó có 80,2 km đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái, góp phần mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và nội vùng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hệ thống logistics và giao thông đường thủy nội địa6. Những kết quả này đã trực tiếp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp, qua đó, duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Cùng với phát triển hạ tầng giao thông, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh Quảng Ninh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, khu kinh tế theo hướng đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng kỹ thuật, chuẩn bị mặt bằng sạch và hoàn thiện hệ thống dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư. Theo Báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính), năm 2023, tỉnh đã “ưu tiên bố trí vốn đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, nhất là các công trình giao thông, công trình cấp điện, nước đến vị trí các dự án; đến chân hàng rào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm tạo lợi thế trong thu hút đầu tư”7. Trên cơ sở đó, hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh được từng bước hoàn thiện; hệ thống hạ tầng kết nối, hạ tầng điện, nước đấu nối đến các khu công nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư thứ cấp8. Việc tập trung cải thiện hạ tầng tại các khu công nghiệp, khu kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư mới, nhất là các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao chất lượng và tính bền vững của dòng vốn đầu tư vào địa bàn tỉnh.
Bên cạnh hạ tầng giao thông và hạ tầng sản xuất, tỉnh Quảng Ninh chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, dịch vụ và hạ tầng xã hội nhằm cải thiện môi trường sống và làm việc cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Theo báo cáo công tác hằng năm và báo cáo giữa nhiệm kỳ, tỉnh đã tập trung nguồn lực cho công tác đầu tư, chỉnh trang đô thị, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại. Kết quả thể hiện rõ qua việc hạ tầng đô thị được đầu tư mở rộng không gian, tăng cường kết nối và chỉnh trang đồng bộ; tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đạt khoảng 75%, hoàn thành mục tiêu đề ra trong nhiệm kỳ 2020 – 20259. Đồng thời, tỉnh đã hoàn thành phê duyệt 100% chương trình phát triển đô thị và quy chế quản lý kiến trúc đô thị đối với các thành phố, thị xã và thị trấn trên địa bàn, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý và phát triển đô thị theo quy hoạch.
Trong giai đoạn 2020 – 2025, hệ thống hạ tầng y tế được đầu tư đồng bộ , việc đưa vào sử dụng một số công trình trọng điểm, như: Bệnh viện Lão khoa – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Phổi và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh; cơ sở vật chất các trạm y tế tiếp tục được sửa chữa, nâng cấp10. Hạ tầng giáo dục được ưu tiên đầu tư, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 95,8%, tăng 5,8% so với đầu nhiệm kỳ; hạ tầng văn hóa – thể thao từng bước được hoàn thiện và khai thác hiệu quả; hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện và triển khai Đề án 0611.
Việc đầu tư đồng bộ cả hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội cho thấy cách tiếp cận phát triển toàn diện của tỉnh Quảng Ninh, trong đó cải thiện môi trường đầu tư không chỉ được nhìn nhận ở góc độ chi phí và kết nối, chất lượng dịch vụ công và sự ổn định lâu dài của không gian đầu tư.
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ, hạ tầng chiến lược của tỉnh đã có bước phát triển rõ nét, tạo nền tảng quan trọng cho cải thiện môi trường đầu tư. Giai đoạn 2020 – 2025, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, “lập kỷ lục là địa phương duy nhất cả nước có 7 năm liên tiếp (từ năm 2017 – 2023) giữ vị trí “quán quân PCI”12, điều đó phản ánh mức độ hài lòng cao của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư, trong đó chất lượng hạ tầng được đánh giá là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển hạ tầng chiến lược gắn với cải thiện môi trường đầu tư ở tỉnh Quảng Ninh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Việc quán triệt và cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của trung ương và của tỉnh về phát triển hạ tầng có thời điểm còn chậm, dẫn đến một số chương trình, kế hoạch triển khai chưa thật sự sát với yêu cầu thực tiễn và tốc độ phát triển của tỉnh.
Một số yếu tố hạ tầng thiết yếu chưa bảo đảm tính ổn định, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính) cho biết, hạ tầng điện phục vụ các dự án, nhà máy sản xuất còn gặp khó khăn do những hạn chế chung của ngành điện lực; sự cố mất điện diện rộng trên địa bàn tỉnh vào đầu tháng 6/2023 đã khiến một số khu công nghiệp phải tiết giảm công suất, điều chỉnh kế hoạch sản xuất, qua đó tác động không thuận lợi đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và việc thực hiện các chỉ tiêu đầu tư13.
Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp trong tổ chức thực hiện một số dự án hạ tầng chiến lược còn hạn chế; việc quản lý, vận hành và bảo trì hạ tầng sau đầu tư ở một số lĩnh vực chưa được quan tâm đầy đủ. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn tồn tại nhiều bất cập; quản lý đất đai, thủ tục đầu tư và huy động nguồn lực có thời điểm chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả triển khai dự án.
Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ cả yếu tố chủ quan và khách quan, như: khó khăn về nguồn kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng; thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn kéo dài; công tác quản lý đất đai trong các giai đoạn trước còn để lại nhiều vướng mắc, cùng với đó là những bất cập trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sự phối hợp của một bộ phận người dân trong quá trình thực hiện dự án14. Ngoài ra, hệ thống thể chế pháp luật trong một số lĩnh vực, nhất là đầu tư, đất đai và môi trường, chưa thật sự đồng bộ; đội ngũ cán bộ chủ chốt có biến động, thời gian kiện toàn kéo dài cũng đã tác động nhất định đến hiệu quả tổ chức thực hiện15.
3. Một số kinh nghiệm
Từ thực tiễn phát triển hạ tầng chiến lược gắn với xây dựng và cải thiện môi trường đầu tư ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020 – 2025, có thể rút ra một số kinh nghiệm đối với công tác quản lý nhà nước về phát triển hạ tầng chiến lược trong thời gian tới.
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu và đội ngũ cán bộ, công chức về vai trò của hạ tầng chiến lược như một nền tảng then chốt của môi trường đầu tư.
Phát triển hạ tầng chiến lược không chỉ là nhiệm vụ đầu tư xây dựng, mà là một quá trình quản trị phát triển có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, khả năng thu hút và giữ chân nhà đầu tư. Vì vậy, cần tăng cường quán triệt thống nhất trong toàn hệ thống chính trị rằng “hạ tầng đi trước một bước” phải được hiểu theo nghĩa đầy đủ: đi trước về tư duy quy hoạch, về lựa chọn trọng điểm, về năng lực tổ chức thực hiện và về hiệu quả khai thác sau đầu tư.
Việc quán triệt cần triển khai thường xuyên thông qua các hội nghị chuyên đề, sinh hoạt cấp ủy, giao ban ngành; đồng thời, đẩy mạnh truyền thông chính sách theo hướng dễ hiểu, nhất quán, giúp cộng đồng doanh nghiệp và người dân nắm rõ định hướng phát triển hạ tầng của tỉnh, qua đó, tạo đồng thuận xã hội. Người đứng đầu các cấp phải đề cao trách nhiệm nêu gương, dám chịu trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành, nhất là ở các khâu dễ phát sinh “điểm nghẽn”, như: quy hoạch, giải phóng mặt bằng, lựa chọn dự án ưu tiên và kiểm soát tiến độ, chất lượng công trình, khắc phục tình trạng triển khai chậm, thiếu đồng bộ đã được chỉ ra trong đánh giá hạn chế, bất cập.
Hai là, rà soát, hoàn thiện quy hoạch và danh mục dự án theo hướng đồng bộ, liên thông và ưu tiên các “mắt xích” tạo hiệu ứng lan tỏa đối với môi trường đầu tư.
Từ thực tiễn cho thấy, hạn chế lớn không chỉ nằm ở thiếu công trình mà còn ở tính kết nối giữa các loại hình hạ tầng và sự đồng bộ giữa hạ tầng giao thông – logistics – khu công nghiệp, khu kinh tế – đô thị. Do đó, cần tổ chức rà soát tổng thể các quy hoạch có liên quan và danh mục dự án hạ tầng trọng điểm theo nguyên tắc: dự án nào tạo kết nối liên vùng, giảm chi phí logistics, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công và dịch vụ đô thị cho doanh nghiệp thì ưu tiên; dự án nào phân tán, hiệu quả lan tỏa thấp thì phải cân nhắc kỹ.
Cùng với đó, cần tăng cường tính dự báo, tính ổn định của quy hoạch, khắc phục tình trạng điều chỉnh cục bộ làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư. Trong tổ chức thực hiện, phải coi trọng đồng bộ “hạ tầng cứng” với “hạ tầng mềm”, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược khi hoàn thành có thể khai thác ngay, tránh tình trạng công trình chính xong nhưng hạ tầng kết nối, dịch vụ hậu cần và hạ tầng phụ trợ chậm theo, làm giảm hiệu quả đầu tư.
Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và năng lực phối hợp liên ngành trong phát triển hạ tầng chiến lược.
Thực tiễn cho thấy, lợi thế về hạ tầng chỉ được chuyển hóa thành sức hút đầu tư khi môi trường thể chế minh bạch, thủ tục nhanh gọn và bộ máy thực thi có năng lực. Vì vậy, cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ quy trình giải quyết thủ tục đầu tư xây dựng, đất đai, quy hoạch, môi trường theo hướng rút ngắn thời gian, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; đồng thời, chuẩn hóa quy trình phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương trong xử lý hồ sơ dự án hạ tầng, tránh tình trạng “đẩy trách nhiệm” hoặc chồng chéo thẩm quyền. Việc phối hợp liên ngành cần chuyển từ cơ chế trao đổi hành chính sang cơ chế điều phối theo chuỗi công việc, gắn trách nhiệm từng cơ quan với từng mốc tiến độ. Đặc biệt, đối với các dự án hạ tầng chiến lược, cần thiết lập cơ chế theo dõi tiến độ và cảnh báo sớm rủi ro chậm trễ, bảo đảm các “nút thắt”, như: giải phóng mặt bằng, cấp phép, đấu nối hạ tầng kỹ thuật được xử lý kịp thời, hạn chế các bất cập đã được chỉ ra trong thực tiễn.
Bốn là, đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực cho phát triển hạ tầng chiến lược theo hướng tập trung, hiệu quả và bền vững tài khóa.
Một số dự án còn phụ thuộc lớn vào ngân sách, trong khi huy động nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là theo hình thức đối tác công – tư (PPP) chưa đạt như kỳ vọng. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế xã hội hóa đầu tư hạ tầng theo hướng minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao; xây dựng danh mục dự án PPP khả thi, có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, hấp dẫn nhà đầu tư. Đồng thời, tăng cường nguyên tắc tập trung nguồn lực cho các dự án có tác động lan tỏa cao, hạn chế đầu tư dàn trải; kiểm soát chặt hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư. Cùng với đó, cần chú trọng khả năng “tái tạo nguồn lực” từ khai thác hạ tầng (quỹ đất, dịch vụ, phí, giá dịch vụ theo quy định…), tạo vòng quay vốn cho đầu tư phát triển, bảo đảm dư địa tài khóa và tính bền vững của hệ thống hạ tầng trong dài hạn.
Năm là, nâng cao năng lực quản trị, khai thác và bảo trì hạ tầng sau đầu tư; tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của hạ tầng chiến lược.
Một trong những điểm hạn chế thường gặp là công tác quản lý, vận hành và bảo trì sau đầu tư chưa được quan tâm đúng mức, làm giảm hiệu quả khai thác và tuổi thọ công trình. Do đó, cần hoàn thiện cơ chế quản lý khai thác hạ tầng theo hướng chuyên nghiệp, phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước – chủ đầu tư – đơn vị vận hành; đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giám sát chất lượng công trình, theo dõi lưu lượng khai thác và đánh giá hiệu quả sử dụng.
Công tác kiểm tra, giám sát cần được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các khâu dễ phát sinh rủi ro, như: đấu thầu, chất lượng thi công, quyết toán, quản lý vận hành cũng như việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư đối với các dự án hạ tầng theo mô hình xã hội hóa. Việc tăng cường kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phòng ngừa sai phạm mà còn để kịp thời điều chỉnh cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả tổng thể của quản lý nhà nước về phát triển hạ tầng chiến lược, khắc phục những bất cập đã được nhận diện trong thực tiễn.
4. Kết luận
Quá trình triển khai phát triển hạ tầng chiến lược ở Quảng Ninh năm 2020 – 2025 cho thấy, vai trò quan trọng của sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cũng như mối quan hệ gắn bó giữa đầu tư hạ tầng với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước. Những kết quả đạt được, thể hiện qua sự cải thiện rõ nét của môi trường đầu tư, khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khẳng định hướng đi đúng đắn của tỉnh trong việc coi hạ tầng chiến lược là một trụ cột phát triển.
Từ thực tiễn đó, có thể khẳng định, phát triển hạ tầng chiến lược không chỉ là nhiệm vụ mang tính trước mắt, yêu cầu có tính lâu dài, xuyên suốt trong quá trình phát triển của địa phương. Những kinh nghiệm rút ra từ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020 – 2025 có ý nghĩa tham cho các địa phương trong quản lý nhà nước về phát triển hạ tầng chiến lược gắn với thu hút đầu tư và phát triển bền vững.
Chú thích:
1, 2.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3, 4. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2025). Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 – 2025, tr. 89, 100.
5. Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2022). Nghị quyết số 108/NQ-HĐND ngày 09/7/2022 thông qua Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2025). Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 – 2030
7, 13, 14. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh (2023). Công văn số 2460/KHĐT-KTĐN ngày 08/7/2023 về việc báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 140/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của HĐND tỉnh về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 12 HĐND tỉnh khóa XIV.
8, 9, 10, 11, 15. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo số 684/BC-UBND ngày 28/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030
12. Năm thứ 7 liên tiếp, Quảng Ninh dẫn đầu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. https://nhandan.vn/nam-thu-7-lien-tiep-quang-ninh-dan-dau-bang-xep-hang-pci-post808460.html
Tài liệu tham khảo:
1. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2017 – 2024.



