Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh mới

ThS. Hoàng Thị Thuý Hằng
Trường Đại học Nghệ An

(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay gồm 6 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh và Ninh Bình. Vùng đồng bằng sông Hồng có tốc độ tăng trưởng cao hơn trung bình chung của cả nước, hạ tầng khá đồng bộ, lao động chất lượng cao và phát triển mạnh mẽ logictis vận tải đường biển và khu công nghiệp, nhờ đó, có lợi thế tiếp nhận các dự án công nghệ cao, ít phát thải, sử dụng năng lượng hiệu quả. Bài viết tập trung làm rõ yêu cầu và định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh (FDI xanh) vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh mới của chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, gia tăng tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị cùng các cam kết giảm phát thải và phát triển bền vững của Việt Nam.

Từ khóa: FDI xanh; vùng đồng bằng sông Hồng; phát triển bền vững; ESG; giảm phát thải.

1. Đặc điểm vùng đồng bằng sông Hồng và bài toán thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh

Sau sáp nhập đơn vị hành chính, vùng đồng bằng sông Hồng vẫn giữ vai trò “cực tăng trưởng” phía Bắc với mật độ dân cư và mức độ đô thị hóa cao, mạng lưới công nghiệp chế biến chế tạo dày đặc, hệ thống cảng biển và logistics quan trọng (Hải Phòng – Quảng Ninh), cùng các trung tâm dịch vụ – đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao (Hà Nội và vùng phụ cận).

Quy mô không gian kinh tế được tái cấu trúc theo hướng chuyển từ chia cắt sang kết nối, thúc đẩy đô thị hoá hiện đại, thông minh và bền vững, tích hợp công nghiệp xanh, dịch vụ cảng biển, du lịch, bảo tồn văn hóa, tạo điều kiện hình thành cụm liên kết ngành và hành lang phát triển liên tỉnh lấy Hà Nội và Hải phòng làm cực tăng trưởng.

Tuy nhiên, sự kết nối không gian mới cũng bộc lộ nhiều “điểm nghẽn” về môi trường, năng lượng và hạ tầng xanh khi công nghiệp và đô thị mở rộng nhanh. Trong bối cảnh mới đặt ra những yêu cầu đối với đồng bằng sông Hồng trong thu hút FDI chuyển từ chiến lược thu hút FDI theo quy mô sang thu hút FDI xanh theo chất lượng, lấy tiêu chuẩn môi trường, công nghệ và giá trị gia tăng làm trọng tâm để vừa duy trì tăng trưởng, vừa bảo đảm phát triển bền vững.

Thứ nhất, vùng có áp lực môi trường rất cao do tập trung khu công nghiệp, làng nghề, mật độ giao thông lớn, phát thải công nghiệp và chất thải rắn đô thị tăng nhanh. Nếu tiếp tục thu hút FDI theo “lượng” thay vì “chất”, chi phí xử lý ô nhiễm, suy giảm chất lượng sống và rủi ro sức khỏe cộng đồng sẽ trở thành rào cản tăng trưởng dài hạn.

Thứ hai, vùng đứng trước bài toán không gian phát triển hạn chế và cạnh tranh gay gắt trong sử dụng đất giữa công nghiệp, đô thị, nông nghiệp và bảo tồn. Điều này đòi hỏi lựa chọn dự án FDI có cường độ đất thấp, giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ sạch, kinh tế tuần hoàn và mô hình khu công nghiệp sinh thái để tối ưu hóa tài nguyên.

Thứ ba, cấu trúc sản xuất của vùng gắn chặt với xuất khẩu và chuỗi cung ứng quốc tế, nên chịu tác động trực tiếp từ các tiêu chuẩn “xanh hóa” như yêu cầu giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và cơ chế điều chỉnh biên giới carbon. Thu hút FDI xanh giúp doanh nghiệp trong vùng giảm rủi ro rào cản kỹ thuật và carbon, nâng sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị bền vững.

Thứ tư, tốc độ công nghiệp hóa khiến nhu cầu năng lượng tăng nhanh, trong khi chuyển dịch sang năng lượng sạch là xu thế bắt buộc để đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện cam kết khí hậu. FDI xanh có thể bổ sung vốn, công nghệ và quản trị cho hiệu quả năng lượng, năng lượng tái tạo, điện khí hóa và hạ tầng xanh.

Thứ năm, vùng có nền tảng nhân lực và khoa học, công nghệ tốt, phù hợp để “đón” các dự án công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, ưu tiên FDI xanh không chỉ nhằm giảm ô nhiễm mà còn để tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ, nâng cấp doanh nghiệp nội địa, phát triển hệ sinh thái sản xuất thông minh và bền vững.

2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh vùng đồng bằng sông Hồng

Trong bối cảnh mới đang tái định vị hoạt động của các nhà đầu tư quốc tế, vùng đồng bằng sông Hồng vẫn bứt phá với kết quả thu hút FDI ước tính đến ngày 31/12/2025,  đạt hơn 15 tỷ USD. Kết quả thu hút FDI các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng có sự chuyển biến rõ rệt từ lượng sang chất. Tỷ trọng các dự án thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp (như dệt may, gia công…) giảm dần và chuyển hướng sang các dự án công nghệ cao, bán dẫn và năng lượng sạch. Dẫn đầu là tỉnh Bắc Ninh với sự hiện diện của các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, vi mạch (Amkor, Foxconn) và đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình khu công nghiệp sinh thái.

Thành phố Hà Nội với dòng vốn đầu tư tập trung chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, y tế và giáo dục. Thành phố Hải Phòng tiên phong trong mô hình khu công nghiệp sinh thái, với số vốn đầu tư chủ yếu vào các dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp trọng điểm và lĩnh vực hạ tầng cảng biển cũng có bước đột phá lớn. Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh đang có sự chuyển biến từ khai thác than truyền thống sang tập trung vào phát triển các khu công nghiệp hạ tầng xanh.

Ninh Bình thu hút các dự án có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, như: nhà máy sản xuất máy tính của Quanta Computer Inc; dự án nhà máy sản xuất camera modul và linh kiện điện tử của Công ty TNHH Mcnex Vina… Tỉnh Hưng Yên cũng nổi bật với các dự án trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, củng cố vai trò của tỉnh trong chuỗi cung ứng và sản xuất công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.

Những kết quả đạt được cho thấy, vùng đồng bằng sông Hồng đã khẳng định vị thế là trung tâm sản xuất điện tử và bán dẫn lớn của cả nước, đi liền với đó là sức hút của hạ tầng xanh đối với các nhà đầu tư chất lượng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó là những điểm nghẽn về cấu trúc hạ tầng, chuỗi cung ứng và nguồn nhân lực đe dọa đến tính bền vững của thu hút FDI xanh.

Một là, nguồn cung điện là mối đe dọa hiện hữu khi mà nhu cầu của các dự án FDI tăng cao. Nguyên nhân chủ yếu là do quy hoạch điện còn triển khai chậm trễ, đồng thời phụ thuộc lớn vào nguồn cung truyền thống tạo ra sự quá tải và nguồn dự phòng không đủ bù đắp.

Hai là, chuỗi cung ứng rời rạc và tỷ lệ nội địa hóa thấp do các doanh nghiệp nội địa không đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia. Nguyên nhân chủ yếu là phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ năng lực để đầu tư để đạt chuẩn xanh. Mặc dù các ngân hàng lớn đã tung ra các gói tín dụng xanh quy mô lớn với lãi suất ưu đãi nhưng việc giải ngân thực tế còn vướng mắc do thiếu hụt danh mục phân loại xanh.

Ba là, khan hiếm nguồn nhân lực bán dẫn chất lượng cao. Đây là một trong những lĩnh vực công nghệ cao mà năng lực đào tạo của các trường đại học ở Việt Nam chưa thực sự đáp ứng cung cấp đủ nhu cầu nhân lực. Sự thiếu hụt không chỉ ở số lượng mà còn là chất lượng và cơ cấu, tạo ra khoảng trống lớn về nhân lực thiết kế vi mạch, kiểm thử và vận hành các dây chuyền sản xuất hiện đại. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, cũng như sự phát triển công nghệ trong nước còn nhiều hạn chế.

Bốn là, hành lang pháp lý cho các khu công nghiệp sinh thái chưa theo kịp tốc độ phát triển của thu hút đầu tư. Hầu hết các nhà đầu tư đang cảm thấy rào cản lớn từ các quy định pháp luật, các tiêu chuẩn xanh, hướng dẫn kỹ thuật… cho quá trình đầu tư xây dựng và khai thác các khu công nghiệp sinh thái. Đặc biệt điều này ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bằng sông Hồng với tiềm năng thu hút các nhà đầu tư lớn. Như tại Deep C và Nam Cầu Kiền, mặc dù nước thải sau xử lý đạt chất lượng rất cao nhưng do thiếu hành lang pháp lý và hướng dẫn kỹ thuật cụ thể từ các bộ ngành, lượng nước này vẫn chưa thể tái sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, gây lãng phí tài nguyên nước và cản trở việc khép kín vòng tuần hoàn.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, bảo đảm an ninh và nhu cầu năng lượng

Nhằm khắc phục tình trạng thiếu năng lượng cục bộ, ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, cần ưu tiên tối đa tiến độ thúc đẩy mô hình DPPA qua lưới điện quốc gia. Điều này cho phép các nhà máy tại vùng đồng bằng sông Hồng ký hợp động mua bán điện kỳ hạn với các đơn vị phát điện năng lượng tái tạo. Từ đó mở rộng thị trường điện xanh giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu phát thải thấp. Mặt khác, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu trong khu công nghiệp. Bảo đảm cung ứng kịp thời nhu cầu năng lượng cho các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế và hạ tầng khu công nghiệp sinh thái.

Các dự án khu công nghiệp sinh thái cần được thu hút, đầu tư và mở rộng, thực sự trở thành “thung lũng xanh”. Để làm được điều này, các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng cần phối hợp và tạo hành lang pháp lý phù hợp, như cơ chế cho phép tái sử dụng nước thải đã qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường cho các mục đích công nghiệp nhằm tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí vận hành và khép kín vòng tuần hoàn. Đồng thời, đặt ra yêu cầu bắt buộc đối với các khu công nghiệp quy hoạch mới phải áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế xanh ngay từ giai đoạn quy hoạch chi tiết. Khuyến khích các chủ đầu tư phát hành trái phiếu xanh hoặc tiếp cận các gói tín dụng xanh để đầu tư hạ tầng năng lượng sạch.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế ưu đãi tài chính, tăng cường chuỗi cung ứng xanh.

Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh là cơ sở cho các gói hỗ trợ tài chính dành riêng cho các doanh nghiệp phụ trợ nội địa. Các ngân hàng có hành lang pháp lý để đẩy mạnh tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp.

Thứ tư, mô hình đào tạo liên kết “3 nhà”.

Nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực, cần phải nhân rộng mô hình hợp tác “3 nhà”, như là đào tạo kỹ sư thiết kế vi mạch cần mô hình hợp tác hiệu quả giữa NIC, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các doanh nghiệp. Các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng cần có cơ chế triển khai đặt hàng đào tạo, dạy nghề nhân lực ở các trường đào tạo địa phương với sự tham gia đào tạo từ các doanh nghiệp FDI. Bên cạnh đó, tích hợp các module đào tạo về ESG, kiểm kê khí nhà kính, quản lý năng lượng, các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng xanh cho đội ngũ quản lý cấp trung và các kỹ thuật viên của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.

4. Kết luận

Trước bối cảnh mới đầy biến động, vùng đồng bằng sông Hồng đang đứng trước cơ hội và thách thức trong thu hút FDI xanh. Điều này đòi hỏi cần thiết phải nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với thu hút FDI xanh với chìa khóa ở khả năng liên kết vùng thực chất. Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng cần phát huy vai trò mạnh mẽ hơn nữa, điều phối quy hoạch đồng bộ giữa các địa phương. Việc thực thi đồng bộ các giải pháp về năng lượng sạch, hạ tầng xanh, tài chính hỗ trợ và nhân lực chất lượng cao là nền tảng vững chắc để vùng đồng bằng sông Hồng trở thành trung tâm kinh tế hiện đại hàng đầu.

Tài liệu tham khảo:
1. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. https://thongkehanoi.nso.gov.vn/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi/137.
2. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.
3. Thông cáo báo chí tình hình kinh tế xã hội năm 2025 thành phố Hải Phòng. https://thongkehaiphong.gov.vn/thong-tin-kinh-te-xa-hoi/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-nam-2025-thanh-pho-hai-phong-674.html
4. Tình hình kinh tế – xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tỉnh Hưng Yên. https://thongkehungyen.nso.gov.vn/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi
5. Tình hình kinh tế – xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tỉnh Bắc Ninh. https://thongkebacninh.nso.gov.vn/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi/10021.