Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của nhà chính trị tiêu biểu, ý nghĩa đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp hiện nay

TS. Nguyễn Thế Vinh
Trường Đại học Thủ Dầu Một

(Quanlynhanuoc.vn) – Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của những nhà chính trị tiêu biểu thể hiện năng lực nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược, dự báo xu thế, chủ động tạo lập cơ hội phát triển và dẫn dắt sự thay đổi. Chính vì vậy, việc quán triệt, vận dụng tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược có ý nghĩa sâu sắc đối với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và tư duy hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Tư duy kiến tạo; đột phá chiến lược; một số nhà chính trị tiêu biểu; Việt Nam; cán bộ lãnh đạo; chủ chốt các cấp.

1. Đặt vấn đề

Mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển đều quan tâm, chú trọng đến người lãnh đạo, quản lý nổi bật, vượt trội về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú trọng đến tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của nhà chính trị. Đây chính là yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho quốc gia, dân tộc đó trường tồn, phát triển, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế. Vì vậy, trong quá trình định hình, dẫn dắt quốc gia, dân tộc, một nhà chính trị có tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược luôn được người dân ưu tiên lựa chọn và đặt niềm tin lớn vào những hành động, việc làm của nhà chính trị đó.

Đối với Việt Nam một nhà chính trị tiêu biểu là sự hội tụ của Đức – Sức -Tài, có tầm nhìn xa trông rộng, đưa ra những quyết sách mang tính chuyển đổi, vượt ra ngoài khuôn khổ hiện tại và được lòng dân, tạo ra bước chuyển biến về chất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, trong tiến trình phát triển đất nước, mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng đều có những nhà chính trị tiêu biểu có tư duy kiến tạo và đội phá chiến lược, đem lại những đổi thay cho dân tộc trên mọi phương diện; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cả nước đang vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết, xử lý các tình huống nảy sinh từ thực tiễn, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng.

2. Đặc điểm, vai trò của tư duy chiến lược và đột phá chiến lược

Tư duy chiến lược (Construtive Thinking) là năng lực nhìn nhận, thiết kế và tổ chức lại hệ thống xã hội theo hướng phát triển bền vững, sáng tạo và nhân văn. Đó là tư duy hướng về xây dựng, không chỉ phản ứng trước khó khăn mà chủ động kiến tạo cơ hội. Nhà chính trị có tư duy kiến tạo luôn nhìn thấy tiềm năng trong thách thức, xác định mục tiêu phát triển lâu dài và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Những kiến tạo của nhà chính trị đó được thực hiện thông qua cải cách, thể chế và chính sách có lợi cho người dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân tộc mình.

Đột phá chiến lược (Strategic Breakthrough) là khả năng vượt qua giới hạn của tư duy cũ, phát hiện ra hướng đi mới, mô hình mới hoặc phương pháp mới để tạo nên sự thay đổi căn bản. Nhà lãnh đạo có tư duy đột phá dám nghĩ khác, dám hành động, dám chịu trách nhiệm trước lịch sử đưa đất nước tiến lên trong những giai đoạn chuyển mình đầy biến động. Đồng thời, nhà lãnh đạo có tư duy đột phá là người biết xác định thời cơ, nguồn lực và hướng đi mới để đưa quốc gia vượt qua những khó khăn, thách thức tạo ra những thay đổi, cục diện lớn mang tính bước ngoặt lịch sử.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược là phẩm chất không thể thiếu của người lãnh đạo thời đại mới, trong bối cảnh chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và hội nhập toàn cầu, nhà chính trị cần không ngừng đổi mới tư duy, linh hoạt trong điều hành và đặt con người làm trung tâm của sự phát triển. Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược có mối quan hệ thống nhất, biện chứng tác động qua lại với nhau, phản ánh tính năng động, sáng tạo, am hiểu thực tiễn của nhà chính trị trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Tư duy kiến tạo cung cấp tầm nhìn và tạo nền tảng giá trị. Đột phá chiến lược là phương thức hành động để hiện thực hóa tầm nhìn đó. Không có tư duy kiến tạo, thì đột phá dễ trở thành ngẫu hứng; ngược lại, không có tư duy đột phá, kiến tạo chỉ dừng lại ở ý tưởng mà không trở thành hiện thực.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược có vai trò quan trọng, đặc biệt trong lãnh đạo chính trị, quản lý nhà nước và phát triển xã hội hiện đại. Thông qua tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược giúp các nhà lãnh đạo nhìn thấy tầm nhìn chiến lược, kiến tạo mô hình phát triển mới cho quốc gia, dân tộc hay cho tổ chức, cộng đồng xã hội. Đồng thời, là cơ sở, tiền đề cho việc hình thành, phát triển những chính sách, thể chế, giải pháp đột phá trên từng lĩnh vực, hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.

Qua những hoạt động thực tiễn xã hội giúp nhà lãnh đạo xây dựng niềm tin xã hội trong nhân dân; khi nhà chính trị có tư duy kiến tạo, sẽ truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần đồng hành và đổi mới, sáng tạo trong Nhân dân, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp dựng xây, kiến thiết đất nước; người dân ngày càng tin tưởng, ủng hộ vào những quyết sách do nhà chính trị đưa ra. Khi đó, những nguy cơ, khó khăn, thách thức của đất nước sẽ biến thành thời cơ, vận hội, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, chính trị ổn định, thu hút được nhiều nguồn lực trong dòng chảy phát triển của lịch sử.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược còn có vai trò quan trọng trong việc phá vỡ giới hạn cũ, tạo ra những dấu ấn, đặc trưng về mặt thể chế để khơi thông các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp cùng tham gia vào sân chơi vì lợi ích quốc gia, dân tộc; từ đó tạo ra những lợi thế cạnh tranh quốc gia một cách lành mạnh, ổn định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ, tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của nhà chính trị giúp cho đất nước vươn lên vị thế mới.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của nhà chính trị tiêu biểu có những đặc điểm cơ bản: Một là, nhà chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược là người có tầm nhìn dài hạn. Hai là, nhà chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược là người có khả năng đổi mới tư duy. Ba là, nhà chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược là người có tinh thần dấn thân và hành động. Bốn là, nhà chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược là người có khả năng dự báo và ứng biến linh hoạt.

3. Một số nhà chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của Việt Nam

(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà chính trị với tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược.

Tư duy chính trị của Người là sự kết hợp một cách hài hòa, nhuần nhuyễn giữa tính khoa học, tính nhân văn và tính sáng tạo đột phá, Người đặt nền móng cho con đường phát triển độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác -Lênin, truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng, tư chất thông minh riêng có là cơ sở sở lý luận, thực tiễn trực tiếp cho việc định hình, phát triển tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc đến thắng lợi cuối cùng. Người khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”1.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của Người được biểu hiện sâu sắc ở một số nội dung cơ bản sau: Về tư duy kiến tạo, trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước, bằng hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng; nghiên cứu, khảo nghiệm các mô hình nhà nước tiến bộ trong lịch sử, đặc biệt là quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước vô sản, Người đã kiến tạo về mô hình chính trị và xã hội mới, Người chỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”2. Tư duy “dân là gốc” cũng là nền tảng kiến tạo quan trọng. Người nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”3. Với quan điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiến tạo nên mô hình Nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân – một tư tưởng mang giá trị phổ quát, vượt thời gian.

Kiến tạo nền ngoại giao độc lập, tự chủ. Trong lĩnh vực đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà kiến tạo ngoại giao hiện đại của Việt Nam. Người đã sớm đề ra đường lối ngoại giao mang tính chiến lược: độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác quốc tế. Người khẳng định: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – lấy cái không thay đổi (lợi ích dân tộc) để ứng phó với muôn vàn biến đổi của tình hình thế giới. Nhờ tư duy này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiến tạo vị thế mới cho Việt Nam – một quốc gia yêu chuộng hòa bình, có bản lĩnh, có chính nghĩa, được bạn bè quốc tế tôn trọng. Kiến tạo giá trị văn hóa – con người Việt Nam mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn kiến tạo xã hội mới, phải bắt đầu từ con người. Người khẳng định: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”4. Người đặc biệt coi trọng giáo dục đạo đức, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, xem đó là “gốc của mọi công việc”. Tư duy “trồng người” là tư duy kiến tạo dài hạn, thể hiện tầm nhìn phát triển bền vững của một nhà lãnh đạo chính trị có tâm và có tầm.

Về đột phá chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện phong phú, đa dạng ở nhiều lĩnh vực, hoạt động khác nhau, trước hết đột phá trong lựa chọn con đường cứu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra đột phá chiến lược khi tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin. Người xác định con đường giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Năm 1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu đột phá lớn nhất trong tư duy cách mạng Việt Nam: từ tự phát sang tự giác, từ phong trào yêu nước đơn lẻ sang phong trào có tổ chức, có đường lối khoa học. Sự kiện này được Chủ tịch Hồ Chí Minh ví như “mặt trời mọc, chiếu sáng khắp năm châu”, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên độc lập và chủ nghĩa xã hội. Đột phá trong nghệ thuật lãnh đạo và chiến lược cách mạng.

Trong lãnh đạo, Hồ Chí Minh luôn kết hợp nhuần nhuyễn tư duy lý luận và thực tiễn, dân tộc và quốc tế, trường kỳ và linh hoạt. Người đề ra chiến lược toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, coi đó là bí quyết để chiến thắng thực dân, đế quốc. Người chỉ rõ: Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Đó là lời hiệu triệu thể hiện tư duy chiến lược, tinh thần đột phá và ý chí độc lập tự cường của dân tộc. Đột phá trong tư duy phát triển đất nước sau độc lập Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”5. Chính vì vậy, Người đề ra ba trọng tâm chiến lược: (1) Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. (2) Phát triển kinh tế tự lực, tự cường. (3) Nâng cao dân trí, cải thiện đời sống Nhân dân.

(2) Đại tướng Võ Nguyên Giáp một tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược về quân sự Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam – là một trong những danh tướng kiệt xuất nhất thế kỷ XX. Không chỉ là nhà quân sự lỗi lạc, ông còn là người có tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược mang tầm vóc thời đại, góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

Thứ nhất, tư duy kiến tạo của Đại tướng thể hiện rõ ở việc ông luôn lấy con người làm trung tâm của chiến lược. Ông tin rằng sức mạnh lớn nhất của dân tộc Việt Nam không phải ở vũ khí hay trang bị, mà ở ý chí, trí tuệ và tinh thần đoàn kết của Nhân dân. Từ niềm tin ấy, ông cùng với Đảng ta hình thành nên học thuyết “chiến tranh nhân dân” – một sáng tạo vĩ đại, trong đó mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài. Đây là một tư duy kiến tạo mang tính nền tảng, giúp huy động sức mạnh toàn dân vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc.

Thứ hai, Đại tướng còn thể hiện tư duy sáng tạo và thực tiễn trong việc vận dụng linh hoạt các học thuyết quân sự vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Ông luôn kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật, giữa lý luận và thực tế, giữa chiến lược lâu dài và sách lược cụ thể. Với Đại tướng, chiến tranh không chỉ là quân sự mà là một tổng thể của chính trị, kinh tế, văn hóa và tinh thần. Tư duy ấy không chỉ giúp Việt Nam giành chiến thắng trước các thế lực xâm lược mà còn tạo dựng nền tảng cho tư duy chiến lược Việt Nam hiện đại.

Thứ ba, tư duy kiến tạo là nền tảng của đột phá chiến lược trong hoạt động quân sự yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi. Đây chính là thể hiện tài thao lược của một nhà chính trị trong nắm bắt tình hình, dự báo mang tầm thời đại đưa ra quyết định lịch sử tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, khi Đại tướng dũng cảm thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định thể hiện bản lĩnh kiên định, tầm nhìn xa và tinh thần dám chịu trách nhiệm – một bước ngoặt giúp Việt Nam làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Thứ tư, tư duy đột phá chiến lược của Đại tướng còn thể hiện ở nghệ thuật tổ chức chiến tranh toàn dân,biến hậu phương thành tiền tuyến, biến yếu tố địa hình, dân cư, văn hóa thành sức mạnh tổng hợp giúp dân tộc Việt Nam – một nước nhỏ, nghèo – có thể chiến thắng những đế quốc hùng mạnh gấp nhiều lần.

(3) Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thời kỳ đổi mới đất nước năm 1986.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất, gắn liền với bước ngoặt Đổi mới năm 1986. Trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng, Tổng Bí thư đã thể hiện tư duy kiến tạo, sáng tạo và có tầm nhìn chiến lược đột phá, đặt nền móng cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh được hình thành từ thực tiễn cách mạng phong phú trải qua nhiều cương vị từ cơ sở đến Trung ương, Tổng Bí thư đã thấu hiểu đời sống nhân dân và những vướng mắc trong cơ chế quản lý; từ truyền thống nước “lấy dân làm gốc” của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh; từ bối cảnh đất nước đang lâm vào thời kỳ khủng hoảng, đời sống của Nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn, lạm phát tăng cao, sản xuất trì chệ… Thực tế đó, đã giúp Tổng Bí thư có cơ sở lý luận, thực tiễn vững chắc trong kiến tạo con đường đổi mới toàn diện. Tổng Bí thư chỉ rõ, đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là đổi mới cách làm để đạt được mục tiêu đó; đổi mới toàn diện, đồng bộ, trước hết là đổi mới tư duy – coi tư duy đúng là khởi điểm của mọi hành động đúng. Kiến tạo mô hình kinh tế mới mang tính đột phá khi thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Kiến tạo văn hóa chính trị mới, Tổng Bí thư đề cao tính trung thực, nói đi đôi với làm, đặc biệt qua phong trào “Những việc cần làm ngay”- thể hiện tinh thần dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã thể hiện một tinh thần kiến tạo về văn hóa lãnh đạo và đạo đức công vụ, khôi phục niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Bằng kinh nghiệm thực tiễn, tư duy kiến tạo, Tổng Bí thư đã có những lãnh đạo, chỉ đạo mang tính đột phá chiến lược ở từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể: đột phá trong lãnh đạo kinh tế, từ bỏ cơ chế “xin – cho”, trao quyền tự chủ sản xuất và kinh doanhcho đơn vị cơ sở. Thực hiện các chủ trương khoán trong nông nghiệp (khoán 10) – tạo ra bước ngoặt trong năng suất và đời sống nông dân. Đột phá trong đổi mới hệ thống chính trị, đề cao nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, thoái hóa quyền lực, xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh. Đột phá trong tư duy đối ngoại, chuyển từ chính sách đối đầu sang đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; tạo nền tảng cho bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Hoa Kỳ,và mở cửa hội nhập quốc tế, đặt cơ sở cho vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

(4) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhà lãnh đạo chính trị tiêu biểu về tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế.

Bước sang thế kỷ XXI, trước bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược và biến động chính trị – kinh tế phức tạp, đất nước ta càng cần một nhà tư duy lãnh đạo vừa kiên định, vừa sáng tạo. Trong bối cảnh đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện một tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược sâu sắc – kết tinh giữa bản lĩnh chính trị, trí tuệ lý luận và đạo đức cách mạng, tạo nên những định hướng mang tầm vóc thời đại cho công cuộc phát triển đất nước.

Tư duy kiến tạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ nhất trong quan điểm xây dựng Đảng, phát triển đất nước và con người Việt Nam. Tổng Bí thư nhấn mạnh: xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhằm giữ vững bản chất cách mạng, đạo đức, văn minh của Đảng. Tư duy ấy không dừng ở việc củng cố tổ chức, mà hướng đến kiến tạo một thể chế chính trị, pháp quyền, kinh tế và văn hóa thống nhất, nơi mọi chính sách đều phục vụ cho nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của phát triển là một tư tưởng xuyên suốt, thể hiện sâu sắc trong các nói, bài viết. Đồng chí cũng thể hiện tư duy kiến tạo hội nhập quốc tế có bản lĩnh: hội nhập sâu rộng nhưng kiên định độc lập, tự chủ, không đánh đổi chủ quyền hay bản sắc, hội nhập quốc tế không phải để hòa tan mà để làm bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Chính tư duy đó đã nâng tầm vị thế của Việt Nam, giúp đất nước giữ vững ổn định, tạo dựng niềm tin và uy tín trong khu vực cũng như trên thế giới.

Nếu tư duy kiến tạo là đặt nền móng, thì đột phá chiến lược trong tư duy của Tổng Bí thư chính là hành động táo bạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để đưa đất nước tiến lên. Ba đột phá chiến lược được Tổng Bí thư và Đảng xác định xuyên suốt các kỳ Đại hội từ XI đến XIII là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Điểm nổi bật trong tư duy của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ dừng lại ở ba trụ cột ấy mà còn mở rộng đột phá sang cải cách tư duy lãnh đạo, quản lý và đạo đức công vụ, lấy “kỷ cương, liêm chính, hiệu quả” làm thước đo. Một minh chứng điển hình cho tư duy đột phá chiến lược là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư, chiến dịch này trở thành biểu tượng của quyết tâm chính trị và đạo đức công vụ. Tư duy đột phá chiến lược ấy không chỉ mang tính xử lý nhất thời mà còn là tư duy chiến lược về xây dựng văn hóa liêm chính, trách nhiệm và công bằng trong xã hội giúp củng cố nền tảng đạo đức và tạo động lực phát triển lâu dài.

4. Ý nghĩa đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp hiện nay

Đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp hiện nay là những người đảm nhiệm ở những vị trí quan trong trong Đảng và hệ thống chính trị, chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân về kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp hiện nay có vai trò đặc biệt quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo đời sống nhân dân một cách tốt nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc biệt, trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp không chỉ tạo ra bước đột phá trong từng lĩnh vực, hoạt động cụ thể mà còn góp phần định hướng, vạch ra những kế hoạch trung hạn, dài hạn cho cơ quan, đơn vị, địa phương mình phát triển trong tương lai.

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp có tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa mang tính hiện tại vừa có giá trị bền vững lâu dài. Đó là nền tảng để đổi mới mô hình quản trị quốc gia, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Theo đó, cần tạo lợi thế cạnh tranh và đặc trưng phát triển riêng ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương.

Lãnh đạo có tư duy đột phá chiến lược xác định lợi thế đặc thù của địa phương mình để phát triển, tạo ra những điểm khác biệt lớn so với các địa phương khác, ví như kinh tế biển, du lịch văn hóa, nông nghiệp công nghệ cao, hoặc công nghiệp hỗ trợ. Điều này giúp địa phương tạo dấu ấn riêng, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế trong khu vực.

Tập trung giải quyết các “điểm nghẽn” lâu năm, như: những vấn đề như quy hoạch chậm, đô thị hóa thiếu đồng bộ, ô nhiễm môi trường, cải cách hành chính trì trệ… chỉ có thể được tháo gỡ khi có đội ngũ lãnh đạo quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và có tư duy đột phá. Do đó, sự hình thành đội ngũ cán bộ như vậy góp phần xử lý dứt điểm các vướng mắc kéo dài, tạo bước chuyển rõ rệt trong phát triển địa phương.

Tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực khi nguồn lực của đất nước còn hạn chế, vì vậy cần người lãnh đạo biết phân bổ hiệu quả, lựa chọn đúng ưu tiên. Tư duy kiến tạo giúp tối ưu hóa các nguồn lực xã hội, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng. Tư duy đột phá chiến lược giúp xác định những lĩnh vực cần đầu tư co trọng tâm, trọng, tránh dàn trải, không thống nhất sẽ không huy động được các nguồn lực, tạo ra những điểm nhấn để thu hút các nguồn lực, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, vì vậy, cần nhà lãnh đạo có tư duy đột phá chiến lược về nguồn nhân lực.

5. Kết luận

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò quyết định của tư duy kiến tạo và tư duy đột phá chiến lược trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đất nước. Từ tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc mở đường giải phóng dân tộc; đến những quyết sách đột phá của Đảng ta trong công cuộc Đổi mới năm 1986; rồi tư duy “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động” trong giai đoạn hiện nay, tất cả đều cho thấy, mỗi bước ngoặt lịch sử của đất nước đều được khởi nguồn từ những nhà lãnh đạo có tầm nhìn và bản lĩnh vượt lên giới hạn của thời đại.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược càng trở nên cấp thiết. Đây là lực lượng trực tiếp cụ thể hóa đường lối của Đảng, biến khát vọng phát triển thành chính sách và hành động thiết thực. Đội ngũ lãnh đạo như vậy sẽ giúp đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khai thác tốt hơn các nguồn lực xã hội và hình thành môi trường phát triển năng động, minh bạch.

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có tư duy kiến tạo và đột phá chiến lược không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược, quyết định sự thành công của Việt Nam trong hành trình thực hiện mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là đầu tư cho tương lai dài hạn của dân tộc, là nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự cường và hội nhập sâu rộng trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 624.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 304.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật,  tr. 604.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật,  tr. 612.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật,  tr. 64.