TS. Đinh Văn Minh
Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
(Quanlynhanuoc.vn) – Thanh tra, kiểm tra và kiểm toán là những công cụ quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật, minh bạch tài chính công và bảo vệ lợi ích công cộng. Tuy nhiên, khi triển khai không đồng bộ, thiếu phối hợp hoặc thiếu phân định chức năng rạch ròi, hoạt động này dễ dẫn tới chồng chéo, trùng lặp nội dung hoặc kiểm tra nhiều lần cùng một đối tượng, đồng thời kéo dài thời gian xử lý. Hậu quả là doanh nghiệp chịu gánh nặng tuân thủ lớn, chi phí gia tăng, giảm hiệu quả hoạt động và tạo ra rủi ro về minh bạch, niềm tin và môi trường đầu tư. Bài viết phân tích thực trạng và những nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp để giải quyết tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán giúp doanh nghiệp giảm chi phí, giảm rủi ro pháp lý, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Từ khóa: Doanh nghiệp; quản lý nhà nước; thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; chồng chéo, trùng lặp; xử lý vi phạm.
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Khu vực này đã đóng góp ngày càng lớn vào GDP, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều rào cản ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, trong đó có vấn đề chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thậm chí có những trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/2/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới toàn diện công tác thanh tra, kiểm tra theo hướng: bảo đảm kỷ cương, siết chặt kỷ luật và xử lý nghiêm hành vi vi phạm; không gây cản trở, không tạo gánh nặng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, không để phát sinh tiêu cực trong hoạt động công vụ nhằm giúp doanh nghiệp giảm chi phí, giảm rủi ro pháp lý, xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và khuyến khích đổi mới sáng tạo – những nền tảng quan trọng để kinh tế tư nhân phát triển xứng tầm.
2. Thực tiễn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoạt động của doanh nghiệp
Trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật trên rất nhiều lĩnh vực, như: thuế, tài nguyên, môi trường, lao động, hải quan, giao thông vận tải. Đây chính là xuất phát điểm cho nguy cơ doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực hoạt động cụ thể. Hậu quả của những vi phạm này thường tác động tiêu cực ở nhiều mức độ khác nhau đến các yếu tố của đời sống xã hội như môi trường, sức khỏe của người dân…
Bên cạnh nguy cơ doanh nghiệp thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về các tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực hoạt động cụ thể nhằm mục đích giảm thiểu chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cũng có thể không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật do hạn chế trong nhận thức về pháp luật. Đây cũng là điều dễ hiểu, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay còn chưa hoàn thiện.
Nguy cơ doanh nghiệp thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật từ nguyên nhân chủ quan và khách quan nói trên đặt ra nhu cầu tất yếu phải có sự kiểm soát từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp đỡ doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh những doanh nghiệp cố tình vi phạm nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội. Những vụ việc, vụ án đã và đang được các cơ quan chức năng xử lý cho thấy, tình trạng vi phạm của một số doanh nghiệp trong sản xuất – kinh doanh là hết sức nghiêm trọng, như: buôn lậu, kinh doanh trái phép, trốn thuế, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, nhất là thực phẩm và thuốc chữa bệnh… đã gây thiệt hại trực tiếp đến lợi ích người tiêu dùng, đến sức khỏe Nhân dân và đến các doanh nghiệp chân chính khác. Vì vậy, thanh tra, kiểm tra là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước để bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, cũng như bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và trật tự xã hội.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với doanh nghiệp là một trong những vấn đề được Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp hết sức quan tâm. Ngày 17/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 20). Chỉ thị số 20 nêu rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp như: còn những vụ việc gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp, sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra chưa chặt chẽ, thời gian thanh tra kéo dài, nội dung thanh tra chưa rõ ràng, có khi vượt ngoài thẩm quyền quản lý, chậm ban hành kết luận thanh tra, chưa làm rõ dấu hiệu vi phạm, chưa kiến nghị xử lý cụ thể…
Quá trình thực hiện việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra ngay sau đó có những cải thiện tích cực. Nhiều doanh nghiệp khi được hỏi cho biết, số lần tiếp đón đoàn thanh tra, kiểm tra trong một số lĩnh vực, như: hải quan, công an kinh tế, môi trường giảm. Tỷ lệ doanh nghiệp bị thanh, kiểm tra trùng lặp cũng giảm đáng kể; công chức lợi dụng công tác thanh tra, kiểm tra để nhũng nhiễu doanh nghiệp đã giảm. Mặc dù vậy, hiện tượng nhũng nhiễu, làm khó doanh nghiệp của công chức thanh tra trong quá trình thực thi nhiệm vụ vẫn tồn tại. Theo kết quả khảo sát, trên 67% doanh nghiệp cho biết, họ phải trả chi phí không chính thức khi làm việc với các đoàn thanh tra xây dựng, môi trường, thuế, phòng cháy, chữa cháy1…
Một trong những vấn đề “kinh niên” mà các doanh nghiệp thường phàn nàn là hoạt động thanh tra, kiểm tra với tần suất quá nhiều, cách thức thực hiện quá phiền hà như hiện nay đã và đang làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp. Khảo sát PCI năm 2024 cho thấy, khoảng 37% doanh nghiệp báo cáo từng phải trả chi phí không chính thức; trong đó tỷ lệ doanh nghiệp trả chi phí không chính thức cho công chức thanh tra/kiểm tra lên tới 28%. Tỷ lệ doanh nghiệp phải trả chi phí không chính thức khi thực hiện thủ tục kinh doanh có điều kiện gần 55% và về thủ tục đất đai khoảng 50%2. Những con số này cho thấy, gánh nặng tuân thủ và chi phí phi chính thức còn đáng kể trong mối liên hệ giữa doanh nghiệp và lực lượng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Doanh nghiệp phải tốn nhiều thời gian chuẩn bị hồ sơ và bố trí nhân lực tiếp đoàn kiểm tra; thời gian này là chi phí cơ hội (làm giảm năng suất) và tăng chi phí vận hành.
Chồng chéo và trùng lặp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán (gọi tắt là thanh tra, kiểm tra) là vấn đề lớn nhất trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán doanh nghiệp nay. Có việc cùng một nội dung hoặc cùng một doanh nghiệp bị nhiều cơ quan (thanh tra chuyên ngành, thanh tra địa phương, kiểm toán nhà nước, cơ quan quản lý chuyên ngành khác) làm việc/truy vấn trong cùng hoặc liên tiếp các đợt kiểm tra. Điều này dẫn tới trùng lặp hồ sơ, yêu cầu cung cấp cùng một bộ chứng từ nhiều lần và đôi khi dẫn tới các kết luận khác nhau từ các cơ quan khác nhau. Tình trạng này được ghi nhận thực tế là phổ biến trên các lĩnh vực, như: đất đai, môi trường, lao động và thuế.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và triển khai nhanh chóng và nghiêm túc quy định mới của pháp luật về thanh tra, kiểm tra.
Công tác thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp phải chuyển từ “tiền kiểm” sang tăng cường “hậu kiểm”; từ kiểm tra dàn trải sang đánh giá rủi ro, xác định trọng tâm, trọng điểm; từ cách làm thủ công, phân tán sang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, sử dụng dữ liệu dùng chung để hạn chế tối đa trùng lặp. Kiên quyết xử lý tình trạng “nhiều đoàn thanh tra cùng vào một doanh nghiệp” hoặc “một nội dung nhiều cơ quan cùng kiểm tra”. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật quản lý mà còn liên quan đến trách nhiệm giải trình, sự phối hợp, cũng như tính liêm chính của đội ngũ công chức. Cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc hướng dẫn, cảnh báo, đồng hành cùng doanh nghiệp – giúp doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật chứ không chỉ tập trung vào xử phạt. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình thanh tra, minh bạch hóa kế hoạch thanh tra, kiểm tra, công khai hóa kết luận và bảo đảm quyền giám sát của người dân, doanh nghiệp.
Luật Thanh tra năm 2025 và Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 05/8/2025 đã thay đổi quan trọng khi phân biệt rõ ràng giữa hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm tra chuyên ngành, bãi bỏ việc giao chức năng thanh tra cho các cơ quan quản lý. Hoạt động thanh tra chỉ được tiến hành bởi cơ quan thanh tra (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra cấp tỉnh, thanh tra một số bộ ngành theo luật định) theo thủ tục chặt chẽ bởi cơ quan thanh tra theo quy định của Luật Thanh tra. Hoạt động kiểm tra chuyên ngành sẽ do cơ quan quản lý thực hiện trong phạm vi quản lý nhà nước của mình theo trình tự, thủ tục quy dịnh tại Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác.
Thứ hai, xác định và phân định rõ hơn giữa thanh tra và kiểm toán nhà nước đối với doanh nghiệp.
Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước đã ký các quy chế phối hợp công tác. Việc xử lý chồng chéo trùng lặp hiện nay vẫn chủ yếu theo cách “chia việc”, thông qua quá trình xây dựng dựng kế hoạch thanh tra và kế hoạch kiểm toán hằng năm và xử lý khi xảy ra tình trạng này trên thực tế chứ không được phân định theo bản chất và sự khác nhau giữa hai hoạt động này. Theo đó, cần xác định đúng bản chất từng loại hoạt động về mục đích, tính chất, phương thức hoạt động để chỉ ra được lằn ranh giữa thanh tra và kiểm toán nhà nước.
Phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước Việt Nam hiện nay là rất rộng, bao trùm kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động/hiệu quả trên hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước, kể cả những lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm và đã có hệ thống thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, như: thuế, đất đai, đầu tư công, tài nguyên – môi trường. Chính sự “rộng về không gian, sâu về nội dung” này là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng chồng chéo, lẫn lộn với hoạt động thanh tra, dù về mặt pháp lý hai thiết chế có bản chất khác nhau.
Xét về nguyên lý pháp lý – quản trị, kiểm toán và thanh tra có mục tiêu khác nhau. Kiểm toán, theo thông lệ quốc tế (INTOSAI), là công cụ của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước nhằm đánh giá tính đúng đắn, hợp pháp, hợp lý, hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính – tài sản công, thiên về đánh giá hệ thống, chính sách và kết quả. Thanh tra là công cụ quản lý hành chính, phục vụ trực tiếp cho quyền điều hành của Chính phủ, tập trung vào phát hiện vi phạm, xác định trách nhiệm pháp lý và xử lý. Tuy nhiên, khi kiểm toán tuân thủ được thực hiện quá sâu vào việc “đúng – sai” của từng quyết định hành chính cụ thể, từng hồ sơ thuế, từng thửa đất thì trên thực tế ranh giới chức năng bị xóa nhòa và đối tượng chịu tác động rất khó phân biệt đâu là kiểm toán, đâu là thanh tra.
Trong các lĩnh vực như thuế và đất đai, nơi mà thanh tra thuế, thanh tra tài nguyên – môi trường đã có thẩm quyền chuyên ngành rất rõ thì việc Kiểm toán Nhà nước cũng tiến hành kiểm toán tuân thủ, kết luận sai phạm, kiến nghị truy thu, xử lý trách nhiệm cá nhân… sẽ tạo ra sự trùng lặp về đối tượng, nội dung, thậm chí về cả hệ quả pháp lý. Điều này không chỉ gây áp lực lớn cho cơ quan, doanh nghiệp mà còn làm nảy sinh tâm lý “một hành vi – nhiều lần soi xét”, đi ngược tinh thần cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh.
Cần định vị lại kiểm toán hoạt động và kiểm toán hiệu quả đúng với bản chất của nó: đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả (3E) của chính sách, chương trình, dự án công. Thiết lập cơ chế phân công lĩnh vực ưu tiên giữa kiểm toán và thanh tra ở tầm luật hoặc nghị quyết của Quốc hội thay vì chỉ bằng quy chế phối hợp. Khi luật đã xác định rõ “việc gì kiểm toán làm, việc gì thanh tra làm” thì yêu cầu “không chồng chéo” mới có cơ sở thực thi thực chất, chứ không chỉ là khẩu hiệu. Việc điều chỉnh không nhằm làm “yếu” kiểm toán mà để đưa kiểm toán trở về đúng bản chất là công cụ đánh giá độc lập, phục vụ giám sát tối cao và hoàn thiện chính sách, qua đó góp phần xây dựng một hệ thống kiểm soát quyền lực hiệu quả, minh bạch và ít gây xung đột cho xã hội.
Thứ ba, tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ vào công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
Việc ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ vào hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được xem là một trong những giải pháp căn cơ, có tính đột phá nhằm vừa bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, vừa giảm thiểu tối đa sự phiền hà, can thiệp trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp. Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán dựa trên dữ liệu cần trở thành phương thức chủ đạo thay cho mô hình truyền thống dựa trên tiếp xúc trực tiếp và kiểm tra hồ sơ tại chỗ. Việc phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích rủi ro cho phép cơ quan chức năng sàng lọc, khoanh vùng đối tượng có dấu hiệu rủi ro cao, thay vì thanh tra, kiểm tra dàn trải. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả phát hiện vi phạm mà còn góp phần bảo vệ số đông doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật khỏi các cuộc kiểm tra không cần thiết.
Ngoài ra, ứng dụng khoa học – công nghệ cần được gắn chặt với cải cách quy trình nghiệp vụ, chuẩn hóa phương pháp thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo hướng hiện đại, dựa trên rủi ro và bằng chứng dữ liệu. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là giải pháp cải cách quản trị nhà nước mang tính chiến lược. Khi các cơ sở dữ liệu quản lý được xây dựng đồng bộ, liên thông và khai thác hiệu quả, khi tiếp xúc trực tiếp được giảm thiểu đến mức tối đa, thì hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán sẽ trở nên minh bạch hơn, hiệu quả hơn và ít gây phiền hà hơn.
Thứ tư, tăng cường kiểm soát quyền lực, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của công chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vốn được trao những thẩm quyền đặc biệt, cho phép tiếp cận sâu vào hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và kiến nghị các biện pháp xử lý có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu sự tác động. Chính vì vậy, đây là lĩnh vực nhạy cảm về quyền lực, dễ phát sinh tiêu cực nếu thiếu các cơ chế giám sát hữu hiệu. Trong bối cảnh doanh nghiệp phản ánh ngày càng nhiều về tình trạng “phiền hà từ khâu thực thi”, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm số cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán mà còn bảo đảm mỗi cuộc làm việc thực sự đúng thẩm quyền, đúng mục đích và đúng chuẩn mực công vụ.
Kiểm soát quyền lực trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trước hết phải được thực hiện thông qua các thiết chế nội bộ chặt chẽ, từ khâu lập kế hoạch, ban hành quyết định, tổ chức thực hiện cho đến kết luận và theo dõi sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Mỗi khâu đều cần được ràng buộc bằng trách nhiệm cá nhân rõ ràng, có cơ chế giải trình cụ thể, tránh tình trạng quyền lực bị “hòa tan” trong tập thể, dẫn đến khó xác định trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Việc cá thể hóa trách nhiệm công vụ không chỉ là biện pháp phòng ngừa tiêu cực mà còn góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, cẩn trọng trong từng hành vi thực thi của cán bộ, công chức.
Cần tăng cường giám sát bên ngoài đối với hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, nhất là thông qua vai trò của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp. Khi kết luận, kiến nghị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được công khai ở mức độ phù hợp, có cơ chế tiếp nhận và xử lý phản hồi, khiếu nại kịp thời thì quyền lực công vụ sẽ được đặt trong “ánh sáng giám sát”, hạn chế nguy cơ lạm dụng, tùy tiện.
Cần có cơ chế xử lý nghiêm minh và kịp thời đối với các hành vi vi phạm đạo đức công vụ, nhũng nhiễu, lợi dụng hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để trục lợi. Việc xử lý không chỉ nhằm trừng phạt cá nhân sai phạm mà còn mang ý nghĩa răn đe, củng cố niềm tin của doanh nghiệp và xã hội đối với bộ máy nhà nước. Thực tế cho thấy, ở những nơi mà sai phạm của cán bộ bị phát hiện và xử lý công khai, minh bạch thì mức độ tuân thủ chuẩn mực công vụ được nâng lên rõ rệt.
Cần thay đổi tư duy từ “quản lý – kiểm soát” sang “đồng hành – kiến tạo” trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Khi công chức thực thi công vụ coi doanh nghiệp là đối tác cần hỗ trợ để tuân thủ pháp luật, chứ không chỉ là đối tượng để kiểm tra, xử lý thì thái độ làm việc, cách thức sử dụng quyền lực cũng sẽ thay đổi theo hướng tích cực. Đây chính là nền tảng quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vừa vững về chuyên môn, vừa trong sáng về đạo đức, qua đó góp phần tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, ổn định và bền vững cho doanh nghiệp phát triển.
Thứ năm, tăng cường trách nhiệm tuân thủ pháp luật và xây dựng văn hoá liêm chính trong hoạt động sản xuất – kinh doanh và của doanh nghiệp.
Tuân thủ pháp luật chỉ bền vững khi được đặt trong một nền tảng văn hóa liêm chính. Văn hóa liêm chính trong doanh nghiệp không dừng lại ở việc “không vi phạm”, mà còn thể hiện ở thái độ kinh doanh trung thực, minh bạch, tôn trọng pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội. Việc xây dựng văn hóa liêm chính cần bắt đầu từ cam kết và vai trò nêu gương của lãnh đạo doanh nghiệp. Khi người đứng đầu thể hiện rõ quan điểm “kinh doanh liêm chính là lựa chọn chiến lược” thì thông điệp đó mới có sức lan tỏa xuống toàn bộ hệ thống quản lý và người lao động. Ngược lại, nếu lãnh đạo dung túng hoặc làm ngơ trước các hành vi vi phạm thì mọi quy tắc, quy trình tuân thủ đều dễ bị vô hiệu hóa. Do đó, liêm chính không thể chỉ là khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa trong quyết định quản trị, trong cách thức xử lý rủi ro và trong đánh giá hiệu quả công việc.
Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế tuân thủ hiệu quả, bao gồm các quy trình rõ ràng về kế toán – tài chính, quản lý hợp đồng, quản trị thuế, quản lý đất đai, đầu tư, mua sắm và quan hệ với cơ quan nhà nước. Khi các quy trình này được chuẩn hóa, minh bạch và được kiểm soát thường xuyên thì khả năng phát sinh sai phạm cá nhân sẽ giảm, đồng thời doanh nghiệp có thể chủ động phát hiện, khắc phục sớm những rủi ro pháp lý tiềm ẩn trước khi bị cơ quan chức năng phát hiện. Đây cũng là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp chứng minh mức độ tuân thủ của mình khi làm việc với đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
Tăng cường trách nhiệm tuân thủ pháp luật và xây dựng văn hóa liêm chính không chỉ giúp doanh nghiệp giảm bớt sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán mà còn là con đường căn bản để khẳng định thương hiệu uy tín và phát triển bền vững. Khi doanh nghiệp chủ động tuân thủ và liêm chính thì mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước sẽ dần chuyển từ đối đầu sang tin cậy và hợp tác, qua đó góp phần hình thành một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và lành mạnh cho toàn bộ nền kinh tế.
Chú thích:
1, 2. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2025). Báo cáo PCI 2024, công bố ngày 06/5/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2025). Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 05/8/2025 về kiểm tra chuyên ngành.
2. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
3. Quốc hội (2025). Luật Thanh tra năm 2025.
4. Đổi mới công tác thanh tra, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/6/11/doi-moi-cong-tac-thanh-tra-ho-tro-doanh-nghiep-phat-trien-ben-vung.



