Khung lý thuyết hoàn thiện chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số: tiếp cận từ cơ chế thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh

TS. Lương Minh Đức
Trường Đại học Sài Gòn
TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung
Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu tập trung mô tả thực trạng chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện dựa trên các cơ chế thí điểm của Nghị quyết số 98. Trên nền tảng tiếp cận hệ sinh thái và doanh nghiệp số, bài viết hệ thống hóa các kết quả đạt được, những hạn chế nổi bật (thiếu đồng bộ công cụ, điều phối đa tác nhân chưa hiệu quả, dữ liệu và đo lường còn phân tán, cơ chế thử nghiệm/chấp nhận rủi ro chính sách chưa rõ), đồng thời phân tích nguyên nhân thể chế – thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bộ giải pháp theo hướng: tăng cường điều phối và trách nhiệm giải trình; thiết kế “policy mix” có trọng tâm; phát triển hạ tầng dữ liệu và đo lường; thúc đẩy thị trường cho đổi mới và kinh tế số và vận hành thí điểm theo logic “thử nghiệm – đánh giá – mở rộng – thể chế hóa”.

Từ khóa: Hệ sinh thái; đổi mới sáng tạo; kinh tế số; thí điểm chính sách; Nghị quyết 98.

1. Đặt vấn đề

TP. Hồ Chí Minh được xem là không gian có mức độ tập trung cao về nguồn lực tri thức, cộng đồng doanh nghiệp và quy mô thị trường, qua đó tạo ra nền tảng thuận lợi cho việc hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng như thúc đẩy các động lực của kinh tế số. Tuy nhiên, hai lĩnh vực này có đặc trưng đa chiều và liên ngành, đòi hỏi chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành các công cụ hỗ trợ riêng lẻ mà phải được thiết kế theo hướng tích hợp, có khả năng phối hợp giữa nhiều nhóm công cụ khác nhau, đồng thời bảo đảm tính điều phối thống nhất theo mục tiêu và dựa trên cơ sở bằng chứng từ dữ liệu đánh giá. Cách tiếp cận hệ sinh thái nhấn mạnh rằng hiệu quả chính sách phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc liên kết giữa các chủ thể, cơ chế điều phối và các điều kiện thể chế định hình hành vi của các tác nhân trong mạng lưới, từ đó đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận chính sách như một “tổ hợp can thiệp” thay vì các biện pháp rời rạc1.

Trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi phương thức quản trị đô thị ngày càng rõ nét, việc Quốc hội ban hành cơ chế thí điểm một số chính sách đặc thù cho TP. Hồ Chí Minh đã mở rộng dư địa thể chế cho địa phương trong việc triển khai các giải pháp mang tính thử nghiệm, có kiểm soát và có khả năng học tập chính sách. Cơ chế thí điểm nếu được thiết kế với phạm vi, điều kiện áp dụng, tiêu chí đo lường và cơ chế phản hồi phù hợp, có thể tạo ra kênh chuyển hóa kinh nghiệm thực tiễn thành điều chỉnh chính sách, từ đó nâng cao chất lượng can thiệp của nhà nước đối với phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số2.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu hướng đến làm rõ bức tranh thực trạng chính sách và những vấn đề đặt ra trong quá trình thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời xây dựng nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách theo logic thí điểm, học tập và thể chế hóa. Cách tiếp cận này nhấn mạnh mối quan hệ giữa thiết kế chính sách và năng lực thực thi, giữa cơ chế thử nghiệm và cơ chế chuẩn hóa, qua đó góp phần định hướng các lựa chọn chính sách theo hướng vừa bảo đảm tính linh hoạt cần thiết trong bối cảnh đổi mới nhanh, vừa duy trì tính ổn định và khả năng nhân rộng trong quản trị phát triển địa phương.

2. Thực trạng chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số tại TP. Hồ Chí Minh

2.1. Kết quả nổi bật

Thời gian gần đây, TP. Hồ Chí Minh đạt được một số kết quả nổi bật có thể quan sát được qua các thước đo chính sách và một số chỉ báo định lượng.

Thứ nhất, về năng lực đổi mới sáng tạo ở cấp địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ khi công bố bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2024 ghi nhận TP. Hồ Chí Minh nằm trong nhóm dẫn đầu toàn quốc và xếp hạng 2, chỉ sau thành phố Hà Nội3. Kết quả này cho thấy, nền tảng đổi mới sáng tạo của thành phố đã hình thành tương đối rõ, phản ánh năng lực tích lũy tri thức, mức độ sẵn sàng của hạ tầng hỗ trợ và khả năng chuyển hóa hoạt động khoa học, công nghệ thành năng lực cạnh tranh ở cấp địa phương.

Thứ hai, về kinh tế số, các đo lường ở cấp quốc gia cho thấy xu hướng gia tăng đóng góp của kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn của TP. Hồ Chí Minh. Theo ước lượng được dẫn từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ trọng kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2022 đạt 18,86%, đến năm 2023 đạt 21,5%, tăng 28% so với năm 2022 và thuộc nhóm các địa phương có tỷ trọng kinh tế số trên 20%4. Đồng thời, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn giai đoạn 2020 – 2023 lần lượt là 12,62% (2020), 13,84% (2021), 13,51% (2022) và 14,65% (2023)5. Các chỉ báo này cung cấp bằng chứng định lượng cho thấy, chuyển đổi số không chỉ dừng ở định hướng chương trình mà đã tạo ra đóng góp hữu hình vào tăng trưởng, đồng thời gợi mở yêu cầu phải nâng chất lượng công cụ can thiệp để mở rộng “độ sâu giá trị” trong các năm tiếp theo.

Thứ ba, ở góc độ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bức tranh vị thế của TP. Hồ Chí Minh cũng được phản ánh thông qua các xếp hạng quốc tế về hệ sinh thái khởi nghiệp. Theo trang dữ liệu hệ sinh thái khởi nghiệp của Startup Blink, TP. Hồ Chí Minh được xếp đứng đầu ở cấp quốc gia trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam6. Mặc dù các hệ xếp hạng quốc tế có cách tiếp cận và tiêu chí riêng, chỉ báo này vẫn hữu ích như một kênh tham chiếu để soi chiếu mức độ sôi động của hệ sinh thái, khả năng kết nối nguồn lực và năng lực “định vị” của địa phương trong mạng lưới khởi nghiệp rộng hơn.

Trên nền các chỉ báo nêu trên, có thể mô tả cụ thể hơn rằng, TP. Hồ Chí Minh đã hình thành nền tảng ban đầu của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với sự tham gia ngày càng rõ nét của cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức hỗ trợ và nhà đầu tư, qua đó tạo ra mạng lưới tương tác phục vụ hoạt động kết nối, ươm tạo và xúc tiến đầu tư theo hướng chuyên nghiệp hóa. Đồng thời, định hướng phát triển kinh tế số được triển khai gắn với kế hoạch hành động ở cấp địa phương, từ đó thúc đẩy mở rộng dịch vụ số trong quản trị công và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao mức độ tiếp cận, hấp thụ công nghệ theo yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

2.2. Hạn chế và điểm nghẽn chính sách

Bên cạnh các kết quả bước đầu, thực trạng chính sách tại TP. Hồ Chí Minh vẫn bộc lộ các hạn chế mang tính cấu trúc.

Hạn chế thứ nhất ở việc mục tiêu phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và mục tiêu thúc đẩy kinh tế số chưa được tích hợp trong một khung logic chính sách thống nhất. Vấn đề không chỉ nằm ở việc tồn tại nhiều chương trình song song mà quan trọng hơn là các chương trình này khó hình thành một chuỗi hỗ trợ liên tục theo nhu cầu thực tiễn của chủ thể thị trường, khiến việc theo dõi đóng góp tổng thể của chính sách và truy nguyên tác động của từng nhóm công cụ trở nên khó khăn.

Trong bối cảnh tỷ trọng kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn của TP. Hồ Chí Minh đã đạt 21,5% vào năm 20237, yêu cầu đặt ra là chính sách phải trả lời được câu hỏi: phần tăng trưởng đó đến từ nhóm động lực nào, và những nhóm động lực nào còn yếu do thiếu công cụ can thiệp phù hợp. Khi thiếu một khung tích hợp theo logic “đầu vào – quá trình – kết quả”, thành phố có thể đạt các chỉ báo bề mặt khá tốt nhưng lại khó xác định rõ “nút thắt” nằm ở giai đoạn nào trong vòng đời đổi mới, từ hình thành ý tưởng, thử nghiệm, thương mại hóa cho đến mở rộng quy mô.

Hạn chế thứ hai thể hiện ở việc tổ hợp công cụ chính sách chưa tạo được chiều sâu can thiệp vào các năng lực nền tảng. Thực trạng này có thể quan sát qua sự thiên lệch tương đối về phía các hoạt động ngắn hạn, dễ quan sát, trong khi các công cụ đòi hỏi thời gian tích lũy như phát triển dữ liệu, chuẩn kỹ thuật, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và cơ chế tạo thị trường cho sản phẩm, dịch vụ số lại chưa đủ mạnh hoặc chưa rõ ràng. Nói cách khác, chính sách có thể “tạo động” tốt ở tầng phong trào và kết nối ban đầu, nhưng lại thiếu lực đẩy ở tầng chuyển hóa, nơi doanh nghiệp cần cơ chế giảm chi phí thử nghiệm, cơ chế đánh giá hiệu quả giải pháp, cơ chế tiếp cận khách hàng đầu tiên và cơ chế tiêu chuẩn hóa để mở rộng thị trường. Khi tầng chuyển hóa yếu, hiệu quả cải thiện năng lực cạnh tranh dài hạn vì thế chưa tương xứng với kỳ vọng, đặc biệt nếu đối chiếu giữa tỷ trọng kinh tế số trong tổng sản phẩm trên địa bàn (21,5%) và tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số (14,65%) năm 20238.

Hạn chế thứ ba nằm ở năng lực điều phối đa tác nhân còn phân tán, trong khi bản chất của hệ sinh thái đòi hỏi cơ chế điều phối đủ mạnh để tổ chức liên kết, phân công trách nhiệm, giám sát thực thi và bảo đảm trách nhiệm giải trình theo mục tiêu chung. Khi cơ chế điều phối chưa được thiết kế rõ ràng, nguy cơ trùng lặp chương trình và đứt đoạn hỗ trợ theo vòng đời của hoạt động khởi nghiệp và đổi mới có xu hướng gia tăng, làm suy giảm hiệu quả của các mối quan hệ bổ trợ trong mạng lưới và hạn chế khả năng đồng kiến tạo giá trị giữa các chủ thể. Điểm cần nhấn mạnh ở đây là sự phân tán điều phối không chỉ là vấn đề “chia việc”, mà còn là vấn đề “chia dữ liệu” và “chia chuẩn”: nếu không có một đầu mối đủ thẩm quyền để quy định chuẩn thông tin, chuẩn báo cáo và chuẩn đánh giá, các can thiệp sẽ khó kết nối thành một bức tranh tổng thể, đồng thời khó tạo ra sự nhất quán trong ưu tiên nguồn lực.

Liên quan chặt chẽ với điều phối là hạn chế về hạ tầng dữ liệu và hệ đo lường phục vụ quản trị. Thực trạng dữ liệu phân tán và thiếu chuẩn dùng chung khiến việc theo dõi tiến độ chính sách thường thiên về chỉ số đầu ra hơn là chỉ số kết quả, làm chậm vòng phản hồi chính sách và gây khó khăn trong việc định vị tác động thực chất của can thiệp công. Trong khi TP. Hồ Chí Minh được xếp hạng 2 trong bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm9, thách thức thực tiễn nằm ở việc biến các chỉ báo vị thế thành cơ chế quản trị thường xuyên, nghĩa là phải chuyển từ “có xếp hạng” sang “có hệ đo lường để điều chỉnh chính sách theo chu kỳ”, tránh tình trạng đánh giá chỉ mang tính tham chiếu mà không trở thành căn cứ phân bổ nguồn lực và tái thiết kế công cụ.

2.3. Nguyên nhân chủ yếu

Những hạn chế nêu trên có thể được lý giải từ ba nhóm nguyên nhân chính gồm thể chế, quản trị và nguồn lực. Ở khía cạnh thể chế, hệ thống quy định, tiêu chuẩn và cơ chế phối hợp liên ngành chưa theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ và sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh số, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu thực tiễn và khả năng đáp ứng của khuôn khổ điều chỉnh. Ở khía cạnh quản trị, việc thiếu cơ chế điều phối tập trung dựa trên dữ liệu và thiếu gắn kết chặt chẽ giữa đánh giá chính sách với phân bổ nguồn lực có thể làm suy giảm động lực cải thiện hiệu quả thực thi và hạn chế khả năng điều chỉnh chính sách dựa trên bằng chứng. Ở khía cạnh nguồn lực, tình trạng phân tán các nguồn hỗ trợ, thiếu công cụ huy động khu vực tư nhân và cơ chế đồng đầu tư, cùng với sự không đồng đều về năng lực quản trị dữ liệu và chất lượng nhân lực phục vụ chuyển đổi số, tiếp tục tạo ra điểm nghẽn đối với việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng can thiệp chính sách trong dài hạn10.

3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách

3.1. Quan điểm và nguyên tắc đề xuất giải pháp

Hoàn thiện chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số tại TP. Hồ Chí Minh cần được đặt trên quan điểm tiếp cận hệ sinh thái, trong đó chính sách không chỉ hướng tới hỗ trợ từng chủ thể riêng lẻ mà phải tạo ra cấu trúc liên kết, cơ chế phối hợp và điều kiện khuyến khích đồng kiến tạo giá trị giữa các tác nhân tham gia. Cách tiếp cận này coi trọng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới và nhấn mạnh vai trò của thể chế, quy tắc tương tác và cơ chế điều phối trong việc hình thành kết quả phát triển hệ sinh thái theo hướng bền vững11.

Chính sách cần được thiết kế theo hướng phối hợp công cụ có trọng tâm, bảo đảm sự gắn kết giữa mục tiêu chính sách với các giai đoạn của vòng đời đổi mới, từ giai đoạn hình thành ý tưởng, thử nghiệm giải pháp, thương mại hóa sản phẩm đến mở rộng quy mô, qua đó tránh tình trạng can thiệp dàn trải và thiếu liên tục trong hỗ trợ. Tổ hợp công cụ theo vòng đời đổi mới có ý nghĩa đặc biệt đối với bối cảnh kinh tế số vì công nghệ số có khả năng rút ngắn chu kỳ thử nghiệm và mở rộng thị trường, khiến yêu cầu về nhịp độ hỗ trợ và mức độ linh hoạt của chính sách trở nên cấp thiết.

Quản trị dựa trên dữ liệu được xác định là nguyên tắc xuyên suốt, bởi cơ chế thí điểm chỉ tạo ra giá trị khi quá trình thử nghiệm được gắn với hệ thống chỉ số, đường cơ sở và cơ chế phản hồi nhằm chuyển hóa kết quả triển khai thành bằng chứng cho điều chỉnh chính sách. Khi thiếu kiến trúc đo lường và cơ chế phản hồi, thí điểm dễ trở thành hoạt động mang tính phong trào, khó tích lũy tri thức thể chế và khó xác định tác động thực chất của can thiệp công. Cơ chế thí điểm và thể chế hóa cần được hiểu như một chu trình học tập thể chế, trong đó thử nghiệm có kiểm soát đóng vai trò tạo thông tin và giảm bất định, còn đánh giá và chuẩn hóa là điều kiện để mở rộng quy mô và bảo đảm tính ổn định của chính sách trong dài hạn theo đúng tinh thần của các cơ chế đặc thù được quy định12.

3.2. Nhóm giải pháp trọng tâm

Một nhóm giải pháp có tính nền tảng là thiết lập cơ chế điều phối thống nhất đối với các chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số, nhằm khắc phục tình trạng phân tán chương trình và thiếu liên kết mục tiêu. Cơ chế điều phối có thể được tổ chức theo hướng hình thành một đầu mối quản trị chính sách với chức năng hợp nhất danh mục chương trình, phân công rõ trách nhiệm, điều phối liên ngành, theo dõi tiến độ và công bố định kỳ kết quả dựa trên hệ chỉ số chung. Cấu trúc điều phối cần được thiết kế gắn với trách nhiệm giải trình theo chuỗi từ thiết kế đến thực thi, bảo đảm dữ liệu phục vụ đánh giá được tích hợp ngay trong quá trình triển khai và kết quả đánh giá trở thành căn cứ điều chỉnh chính sách theo chu kỳ, qua đó tăng tính nhất quán và hiệu lực quản trị dựa trên bằng chứng.

Nhóm giải pháp tiếp theo tập trung vào việc thiết kế lại tổ hợp công cụ chính sách theo vòng đời đổi mới nhằm bảo đảm tính liên tục của hỗ trợ và nâng cao mức độ phù hợp với nhu cầu thị trường. Ở giai đoạn hình thành nguồn cung đổi mới, chính sách cần ưu tiên công cụ phát triển năng lực như ươm tạo, cố vấn, hỗ trợ tài sản trí tuệ và thúc đẩy liên kết giữa cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp để gia tăng khả năng chuyển hóa tri thức thành sản phẩm. Ở giai đoạn thử nghiệm, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm số cần được xem là trụ cột vì nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và đồng thời tạo dữ liệu cho quản lý rủi ro. Ở giai đoạn thương mại hóa và mở rộng, chính sách cần nhấn mạnh các công cụ tạo thị trường, tiêu chuẩn hóa, đánh giá sản phẩm và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường hoặc xuất khẩu số, từ đó tăng khả năng lan tỏa của đổi mới vào nền kinh tế địa phương.

Cơ chế thí điểm trong bối cảnh Nghị quyết số 98 cần được vận hành theo chuẩn thử nghiệm có đo lường, theo đó mỗi chính sách thí điểm phải được xác định rõ mục tiêu cụ thể, phạm vi áp dụng, đối tượng và điều kiện tham gia, đồng thời quy định hệ chỉ số đầu ra và kết quả để theo dõi tác động. Thiết kế thí điểm cần kèm theo cơ chế quản trị rủi ro phù hợp để cân bằng giữa khuyến khích đổi mới và bảo đảm kỷ luật thực thi, đồng thời xác lập tiêu chí dừng hoặc mở rộng nhằm tránh kéo dài thí điểm khi không còn hiệu quả. Quy định quy trình thể chế hóa sau thí điểm giúp chuyển hóa kết quả thử nghiệm thành chuẩn mực triển khai, bảo đảm khả năng nhân rộng và tính bền vững của chính sách.

Một yêu cầu mang tính điều kiện đối với các giải pháp trên là phát triển hạ tầng dữ liệu và chuẩn đo lường dùng chung cho quản trị hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Thành phố cần xây dựng kho dữ liệu tích hợp phục vụ quản trị, bao gồm bản đồ doanh nghiệp khởi nghiệp, danh mục chương trình hỗ trợ, mạng lưới cố vấn và nhà đầu tư, cùng dữ liệu kết quả theo thời gian, đồng thời gắn với chuẩn liên thông để giảm phân mảnh thông tin và tăng khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan. Hệ đo lường nên được thiết kế theo hướng kết hợp giữa chỉ số đầu ra và chỉ số kết quả, trong đó các chỉ số phản ánh năng lực đổi mới sáng tạo ở cấp địa phương có thể được sử dụng như điểm tham chiếu quan trọng để theo dõi tiến bộ và điều chỉnh ưu tiên can thiệp.

Nhóm giải pháp tạo thị trường cho đổi mới và sản phẩm số có ý nghĩa trực tiếp trong việc chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh tế. Chính sách có thể mở rộng cơ chế mua sắm công theo hướng đặt hàng theo bài toán công, ưu tiên thử nghiệm các giải pháp số trong phạm vi thí điểm để vừa tạo cầu thị trường cho đổi mới vừa tạo không gian kiểm chứng hiệu quả giải pháp. Cơ chế liên kết với doanh nghiệp lớn theo hướng mở bài toán và đồng phát triển với doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc nhóm nghiên cứu cũng có vai trò quan trọng trong việc gia tăng liên kết cung cầu công nghệ và củng cố cấu trúc mạng lưới của hệ sinh thái.

Giải pháp về tài chính và huy động khu vực tư nhân cần được thiết kế theo hướng khuyến khích đồng hành nguồn lực xã hội với nguồn lực công, trong đó công cụ đồng tài trợ hoặc đồng đầu tư có điều kiện cho nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm sản phẩm và thương mại hóa có thể giúp tăng hiệu quả sử dụng ngân sách và giảm rủi ro cho các chủ thể thị trường. Nguồn lực cần được tập trung vào các nút cổ chai mang tính nền tảng, như: hạ tầng dữ liệu, cơ chế thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa và phát triển nhân lực, bởi các thành tố này quyết định khả năng mở rộng quy mô của đổi mới và mức độ lan tỏa của kinh tế số trong dài hạn.

Giải pháp phát triển nhân lực số và tăng cường năng lực của các tổ chức trung gian được xem là điều kiện bảo đảm cho khả năng hấp thụ đổi mới của hệ sinh thái. Chính sách cần thúc đẩy chương trình kỹ năng số theo ngành gắn với chuẩn đầu ra và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, đồng thời, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và ứng dụng. Việc chuyên nghiệp hóa các tổ chức trung gian như cơ sở ươm tạo, tăng tốc và chuyển giao công nghệ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ, tăng khả năng kết nối nguồn lực và cải thiện hiệu quả lan tỏa tri thức trong mạng lưới đổi mới.

3.3. Kỳ vọng tác động

Triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp được kỳ vọng tạo ra chuyển biến về chất trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh tế số của TP. Hồ Chí Minh thông qua việc gia tăng mật độ liên kết giữa các tác nhân, nâng cao hiệu lực phối hợp công cụ chính sách và cải thiện chất lượng dữ liệu phục vụ đánh giá. Tốc độ chuyển từ thí điểm sang thể chế hóa được dự báo sẽ được cải thiện khi cơ chế học tập thể chế được vận hành đầy đủ, tạo điều kiện nhân rộng các mô hình can thiệp hiệu quả và củng cố tính ổn định của chính sách trong dài hạn.

4. Kết luận

Cách tiếp cận dựa trên chuỗi logic từ thực trạng đến giải pháp cho thấy thách thức cốt lõi của TP. Hồ Chí Minh không nằm ở số lượng chương trình can thiệp, mà nằm ở mức độ đồng bộ của tổ hợp công cụ, năng lực điều phối đa tác nhân và chất lượng cơ chế học tập từ thí điểm dựa trên dữ liệu. Cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98 tạo điều kiện để địa phương triển khai thử nghiệm có kiểm soát và mở rộng các mô hình chính sách hiệu quả, song kết quả phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng thiết kế thí điểm, hệ thống đo lường và cơ chế thể chế hóa sau thử nghiệm. Trọng tâm ưu tiên chính sách, vì vậy cần chuyển từ việc gia tăng hoạt động sang nâng cao chất lượng điều phối, củng cố hạ tầng dữ liệu và phát triển các công cụ tạo thị trường cho đổi mới, qua đó tăng khả năng lan tỏa của đổi mới sáng tạo và kinh tế số vào tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của địa phương.

Chú thích:
1. Jacobides, M. G., Cennamo, C., & Gawer, A. (2018). Towards a theory of ecosystems. Strategic Management Journal, 39(8), 2255 – 2276.
2, 8. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
3, 9. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Bộ Khoa học và Công nghệ công bố bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2024.
4, 5, 7. Phan Anh (2024). Những con số ấn tượng về phát triển kinh tế số tại TP. Hồ Chí Minh. https://ttbc-hcm.gov.vn/nhung-con-so-an-tuong-ve-phat-trien-kinh-te-so-tai-tp-hcm-1017618.html
6. StartupBlink (2025). The Startup Ecosystem of Ho Chi Minh City. https://www.startupblink.com/startup-ecosystem/ho-chi-minh-city-vn
10. Nguyễn Văn Thạo. (2024). Phát triển kinh tế số ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
11. Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (2025). TP. Hồ Chí Minh lần đầu công bố Báo cáo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Nền tảng hoạch định chính sách và thu hút đầu tư.
12. Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo TP. Hồ Chí Minh (2025). TP. Hồ Chí Minh lần đầu công bố Báo cáo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Nền tảng hoạch định chính sách và thu hút đầu tư. SIHUB. https://sihub.gov.vn/news/tphcm-lan-dau-cong-bo-bao-cao-he-sinh-thai-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-nen-tang-hoach-dinh-chinh-sach-va-thu-hut-dau-tu.
Tài liệu tham khảo:
1. Autio, E., Nambisan, S., Thomas, L. D. W., & Wright, M. (2018). Digital affordances, spatial affordances, and the genesis of entrepreneurial ecosystems. Strategic Entrepreneurship Journal, 12 (1), 72-95.
2. Nambisan, S. (2017). Digital entrepreneurship: Toward a digital technology perspective of entrepreneurship. Entrepreneurship Theory and Practice, 41(6), 1029-1055.
3. Organisation for Economic Co-operation and Development (2019). Measuring the digital transformation: A roadmap for the future.
4. Tổng cục Thống kê (2024). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2024.
5. Trần, Đ. L. (2024). Hoạt động khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp cung cấp. Tạp chí Giáo dục, 349 – 353.
6. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.