Phát huy vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

ThS. Nguyễn Văn Tuân
Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải

(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Trong tiến trình này, Nhà nước đóng vai trò hạt nhân điều phối, không chỉ dừng lại ở việc ban hành khung pháp lý mà còn là chủ thể kiến tạo các hệ sinh thái đầu tư xanh. Bài viết tập trung phân tích vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xanh. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực quản lý để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Từ khóa: Vai trò của Nhà nước, kinh tế xanh, phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế xanh được Liên Hợp quốc về Môi trường (UNEP) định nghĩa là mô hình kinh tế cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, đồng thời, giảm đáng kể rủi ro môi trường và khan hiếm tài nguyên. Ở Việt Nam, quốc gia đang phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2024 đạt mức ấn tượng 7,09%1 nhưng nền kinh tế vẫn đang phụ thuộc lớn vào việc khai thác tài nguyên và công nghiệp nặng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh để ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong lộ trình này, Nhà nước giữ vai trò là trung tâm trong việc ban hành thể chế và điều tiết nguồn lực quốc gia bằng cách tháo gỡ các nút thắt về quản trị và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực hiện thực hóa các mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường. Sự chuyển mình này chính là lời cam kết đanh thép của Nhà nước trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, quyết tâm đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình bằng con đường phát triển carbon thấp và nhân văn.

2. Nền kinh tế xanh và vai trò của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

2.1. Nền kinh tế xanh

Nền kinh tế xanh được hiểu là mô hình phát triển kinh tế hướng tới việc nâng cao phúc lợi con người và công bằng xã hội, giảm thiểu đáng kể các rủi ro môi trường và sự khan hiếm sinh thái. Nói cách khác, nền kinh tế xanh là nền kinh tế có mức phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thân thiện với môi trường.

Phát triển kinh tế xanh là một lộ trình dài hạn, gắn liền với tiến trình đổi mới và hợp tác toàn cầu, trong đó:

Về xã hội: đổi mới nhận thức, giáo dục, kỹ năng và tạo thêm nhiều việc làm xanh. 

Về môi trường: đổi mới cách tiếp cận vòng đời sản phẩm, nâng cao hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy tái chế và tái sử dụng. 

Về kinh tế: phát triển thị trường, chuỗi giá trị, công cụ tài chính – đầu tư xanh; hoàn thiện chính sách khuyến khích sản xuất và tiêu dùng bền vững. 

Về quản trị: đổi mới cách thức hoạch định chính sách, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường hợp tác quốc tế, qua đó, tạo động lực xuyên suốt cho phát triển bền vững.

Đặc trưng cơ bản của kinh tế xanh, bao gồm: (1) Tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường; (2) Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; (3) Thúc đẩy đổi mới công nghệ xanh và năng lượng tái tạo; (4) Bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, kinh tế xanh không phủ nhận vai trò của tăng trưởng kinh tế mà hướng tới mô hình tăng trưởng bền vững, lâu dài.

2.2. Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế xanh

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc khắc phục các khiếm khuyết của thị trường, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến môi trường và tài nguyên, những lĩnh vực mà thị trường thường không tự điều tiết hiệu quả. Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng thể hiện rõ ở cả phương diện định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện, từng bước xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xanh, tạo nền tảng chính trị, pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Các văn kiện của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội qua các thời kỳ đều khẳng định yêu cầu gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững.

Cụ thể, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2050; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược tăng trưởng xanh 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, cam kết giảm phát thải 43,5% vào năm 2030 và đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào 2050 theo cam kết tại hội nghị COP26; Quyết định số 1044/QĐ-TTg ngày 05/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về tăng trưởng xanh… Đồng thời, kinh tế xanh là sự hiệp lực giữa tài chính, công nghệ và công nghiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ, bảo đảm các nguồn lực quốc gia không bị phân tán và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” được thực thi xuyên suốt từ trung ương đến địa phương. Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu đã xác định rõ vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong định hướng phát triển các ngành kinh tế xanh, góp phần chuyển dịch dần từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên việc đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bên cạnh việc định hướng chiến lược, khung pháp luật và chính sách liên quan đến kinh tế xanh ngày càng được hoàn thiện và đồng bộ, Nhà nước đã ban hành nhiều luật, nghị định và văn bản hướng dẫn liên quan đến bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thông qua hệ thống các chính sách này từng bước tạo hành lang pháp lý để các chủ thể kinh tế điều chỉnh hành vi sản xuất – kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường. Cụ thể:

Trong lĩnh vực năng lượng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo, như: điện mặt trời, điện gió và các nguồn năng lượng sạch khác thông qua các cơ chế như giá mua điện cố định, ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng và miễn giảm đất đai cho các dự án năng lượng tái tạo, nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tăng tỷ trọng trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Những chính sách này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của điện mặt trời và điện gió tại Việt Nam trong những năm gần đây và hỗ trợ hoàn thành các mục tiêu phát triển năng lượng sạch.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, các chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP đã được triển khai rộng rãi, vừa nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn này được chính quyền các địa phương thúc đẩy rộng rãi, giúp nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp; đồng thời, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng nông sản bền vững.

Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà nước đã thúc đẩy áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và quản lý chất thải, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27/9/2012 cho thấy, đến năm 2020, có 68,5% doanh nghiệp nhận thức được lợi ích của sản xuất sạch và 46,9% cơ sở sản xuất đã áp dụng với 12% đạt mức tiết kiệm từ 8% trở lên. Tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch tăng 21%2. Ngoài ra, từng bước huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế xanh và bảo đảm tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường hằng năm. Trong giai đoạn 2016 – 2020, ngân sách trung ương đã bố trí nguồn lực tài chính lớn, lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng để triển khai các chương trình trọng điểm, như: Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh, Chương trình xây dựng nông thôn mới có lồng ghép các tiêu chí về bảo vệ môi trường, Chương trình bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững. Bên cạnh nguồn vốn trong nước, Chính phủ còn chủ động thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ quốc tế cho các dự án môi trường.

Nhà nước đã từng bước hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực xã hội thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân, đối tác công – tư (PPP), tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Việc định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực xanh đã tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển kinh tế xanh, từ đó, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật cũng đã góp phần làm thay đổi nhận thức của doanh nghiệp và người dân về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Hiện nay đã ngày càng nhiều doanh nghiệp chú trọng đến trách nhiệm xã hội, đầu tư vào công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và xây dựng mô hình kinh doanh bền vững. Người dân cũng từng bước hình thành thói quen tiêu dùng xanh, sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường và tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng. Theo khảo sát nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thân thiện môi trường tại Việt Nam đã tăng trung bình 15% mỗi năm trong giai đoạn 2021 – 2023 và có 72% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm xanh3.

Bên cạnh nỗ lực xây dựng nền tảng văn hóa tiêu dùng và sản xuất xanh nội địa, Việt Nam đã chủ động tham gia sâu rộng vào các liên minh xanh toàn cầu, khẳng định tầm vóc của một quốc gia đi đầu trong khu vực về thực thi cam kết khí hậu.Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc kết nối nội lực với ngoại lực, tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế để khơi thông các điểm nghẽn về tài chính và công nghệ. Việc chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe không chỉ giúp xanh hóa chuỗi cung ứng mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam. Đây chính là bước đi chiến lược nhằm chuyển đổi áp lực từ các cam kết toàn cầu thành xung lực mới, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững và vững chắc hơn.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại một số bất cập, như: (1) Hệ thống chính sách, pháp luật về kinh tế xanh tuy đã được ban hành nhưng chưa thật sự đồng bộ và ổn định, vẫn còn tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các văn bản và giữa các ngành, lĩnh vực. Một số chính sách mới mang tính định hướng dài hạn nhưng thiếu các quy định cụ thể về cơ chế thực hiện, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm của các chủ thể liên quan dẫn đến khó khăn trong quá trình triển khai trên thực tế. Điều này làm giảm vai trò dẫn dắt và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh. (2) Nguồn lực tài chính dành cho phát triển kinh tế xanh còn hạn chế và phân bổ chưa hiệu quả, mặc dù Nhà nước đã quan tâm đầu tư cho các lĩnh vực liên quan đến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, song tỷ lệ đầu tư trở lại cho bảo vệ môi trường từ các nguồn thu liên quan đến môi trường còn thấp. (3) Sự tham gia và nhận thức của xã hội đối với kinh tế xanh chưa đồng đều, ở một số địa phương mục tiêu phát triển kinh tế xanh vẫn chưa được đặt ngang hàng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngắn hạn; đồng thời vẫn xem trọng tư duy phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bằng mọi giá bất chấp việc các hoạt động kinh tế đó gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường nghiêm trọng.

3. Nâng cao hiệu quả vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế xanh

Một là, đổi mới tư duy phát triển kinh tế xanh.

Việc phát triển kinh tế xanh cần thực được coi là “con đường tất yếu” của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn chứ không phải là “lựa chọn thay thế” trong ngắn hạn. Để làm được điều này, Nhà nước cần thực hiện lồng ghép đầy đủ các mục tiêu tăng trưởng xanh vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đồng thời, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển không chỉ dựa trên tốc độ tăng trưởng GDP mà còn dựa trên các tiêu chí về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức độ phát thải và cải thiện môi trường sống. Cụ thể, cần có lộ trình chuyển đổi phù hợp, tránh gây “cú sốc” cho nền kinh tế, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực đang phụ thuộc nhiều vào tài nguyên và năng lượng hóa thạch. Thông qua việc định hướng phát triển các ngành kinh tế xanh như năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, công nghiệp môi trường, kinh tế tuần hoàn, Nhà nước vừa tạo động lực tăng trưởng mới, vừa từng bước giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Hai là, chuyển mạnh từ mô hình quản lý mang tính can thiệp hành chính trực tiếp sang mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Nhà nước cần tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng khung pháp lý minh bạch, ổn định và dựa trên các nguyên tắc thị trường; đồng thời, sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế thay cho mệnh lệnh hành chính. Các công cụ, như: thuế, môi trường, phí phát thải, cơ chế mua bán tín chỉ carbon, tín dụng xanh và trái phiếu xanh cần được thiết kế đồng bộ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Thông qua đó, Nhà nước vừa định hướng hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng theo hướng xanh, vừa tôn trọng quy luật cung – cầu và cạnh tranh của thị trường. Bên cạnh đó, hạn chế tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất trong chính sách giữa các bộ, ngành và địa phương, bởi đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả điều tiết của Nhà nước và cản trở sự vận hành thông suốt của thị trường trong lĩnh vực kinh tế xanh.

Ba là, nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý trong lĩnh vực môi trường và phát triển kinh tế xanh. Mặt khác, cần đầu tư mạnh mẽ vào phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác hoạch định và thực thi chính sách kinh tế, môi trường, khoa học – công nghệ. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ số, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về môi trường, phát thải và tài nguyên sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và đánh giá chính sách. Đồng thời, bảo đảm phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý cho các chương trình, dự án kinh tế xanh, tránh tình trạng chính sách ban hành nhưng thiếu nguồn lực thực hiện làm gia tăng khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả.

Bốn là, chủ động trong việc “nội địa hóa” các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và kinh tế xanh.

Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật và tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời, có lộ trình áp dụng linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển của doanh nghiệp trong nước.

Tăng cường triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận vốn, công nghệ xanh, đào tạo nhân lực và thông tin thị trường. Thông qua các chính sách hỗ trợ có mục tiêu, Nhà nước không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn biến áp lực hội nhập thành động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh trong toàn nền kinh tế. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia và tổ chức quốc tế để phục vụ quá trình phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.

Chú trọng nâng cao nhận thức xã hội và phát huy vai trò của các chủ thể (phát huy vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp và người dân) để phát triển kinh tế xanh. Bên cạnh đó, tiếp tục tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về ý nghĩa và lợi ích của phát triển kinh tế xanh, từ đó, hình thành lối sống xanh, tiêu dùng bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Sự đồng thuận và tham gia tích cực của các chủ thể trong xã hội sẽ là yếu tố quan trọng bảo đảm cho các chính sách và giải pháp phát triển kinh tế xanh được triển khai hiệu quả trong thực tiễn.

4. Kết luận

Phát triển kinh tế xanh không chỉ là một xu thế khách quan mà đã trở thành lựa chọn chiến lược mang tính sống còn thể hiện khát vọng của Việt Nam trong việc bảo đảm thịnh vượng bền vững và tự cường dân tộc. Trong tiến trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng, Nhà nước giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo, là chủ thể kiến tạo hệ sinh thái chính sách và khơi thông các nguồn lực chiến lược. Mặc dù đã đạt được những dấu ấn khởi đầu quan trọng, song chặng đường xanh hóa nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Vì vậy, việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia và phát huy quyết liệt vai trò cầm lái của Nhà nước chính là nhân tố quyết định để hiện thực hóa cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường trong kỷ nguyên phát triển mới.

Chú thích:
1. GDP năm 2024 tăng 7,09%. https://vnexpress.net/gdp-nam-2024-tang-7-09-4835950.html
2. Đào Ngọc Linh (2025), Giải pháp thúc đẩy triển khai sản xuất sạch hơn trong ngành thủ công mỹ nghệ, Tạp chí Quản ly nhà nước điện tử
3. Tạp chí Người Việt đang dần biến nhận thức “sống xanh” thành hành động. https://moit.gov.vn/phat-trien-ben-vung/nguoi-viet-dang-dan-bien-nhan-thuc-song-xanh-thanh-hanh-dong
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường.
2. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2050.
3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược tăng trưởng xanh 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1044/QĐ-TTg ngày 05/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về tăng trưởng xanh.
5. Nâng cao vai trò của Nhà nước trong thúc đẩy phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/30/nang-cao-vai-tro-cua-nha-nuoc-trong-thuc-day-phat-trien-kinh-te-xanh-o-viet-nam-hien-nay/
6. Vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ khởi nghiệp xanh tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/05/22/vai-tro-cua-nha-nuoc-trong-ho-tro-khoi-nghiep-xanh-tai-viet-nam/
7. Việt Nam với mục tiêu phát triển kinh tế xanh – Một số vấn đề đặt ra. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/25/viet-nam-voi-muc-tieu-phat-trien-kinh-te-xanh-mot-so-van-de-dat-ra/