Quản lý nhà nước về kinh tế xanh trong kỷ nguyên mới: cơ hội và thách thức của Việt Nam

ThS. Lê Tú Anh
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh thế giới chuyển mình mạnh mẽ theo hướng phát triển bền vững, kinh tế xanh đang trở thành xu thế tất yếu của các quốc gia. Với Việt Nam, quá trình này mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là những thách thức không nhỏ về thể chế, chính sách, nguồn lực, khoa học – công nghệ và nhận thức xã hội để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một mạnh mẽ của kinh tế xanh. Trong đó yêu cầu về chuyển đổi xanh, số hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, vai trò quản lý nhà nước là động lực then chốt trong việc định hướng, điều tiết và kiến tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế xanh phát triển bền vững và hiệu quả.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; kinh tế xanh; phát triển bền vững; chính sách công; chiến lược tăng trưởng xanh.

1. Khái quát quản lý nhà nước về kinh tế xanh ở Việt Nam

Xu thế hội nhập quốc tế và kỷ nguyên xanh của các quốc gia đặt vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế xanh không chỉ là chủ thể ban hành luật pháp, chính sách và chiến lược phát triển mà nhà nước trở thành người kiến tạo, điều tiết, giám sát và tạo động lực cho kinh tế xanh phát triển. Thông qua quản lý nhà nước, các nguồn lực xã hội được phân bổ hợp lý, các công cụ kinh tế – tài chính xanh được vận hành hiệu quả, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Có thể nói vai trò quản lý nhà nước với kinh tế xanh chính là “đòn bẩy” để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ truyền thống sang hiện đại, xanh và bền vững, qua đó giúp Việt Nam thực hiện thành công các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính và mục tiêu phát triển bền vững.

Quản lý nhà nước về kinh tế xanh được hiểu là sự tác động có tổ chức của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, bộ máy tổ chức và công cụ quản lý nhằm định hướng, điều tiết và thúc đẩy các hoạt động kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường và bảo đảm tăng trưởng bền vững quốc gia. Các đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế xanh phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình quản lý trong bối cảnh mới.

Một là, tính pháp lý bắt buộc.

Quản lý nhà nước đối với kinh tế xanh được thực hiện bởi các công cụ luật pháp, chính sách, chiến lược, quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật, đây cũng là đặc tính thể hiện rõ vai trò tất yếu trong quản lý nhà nước về kinh tế xanh bởi chỉ có Nhà nước mới có thể xây dựng pháp luật, ban hành chính sách và cụ thể hóa các chính sách đến đời sống kinh tế xã hội.

Trong kinh tế xanh tính pháp lý thể hiện cụ thể qua việc Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tiêu chuẩn về môi trường, như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, quy định doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai dự án, đồng thời buộc các cơ sở sản xuất có lượng phát thải lớn phải tham gia thị trường carbon trong nước từ năm 2028.

Trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ) đã đặt ra mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy năng lượng tái tạo và phát triển đô thị xanh, bắt buộc các bộ, ngành, địa phương phải xây dựng kế hoạch hành động phù hợp. Điều này khẳng định, Nhà nước bằng quyền lực công và các quy tắc xử sự chung để tạo lập hành lang pháp lý, các quy định đối với doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong quá trình phát triển kinh tế xanh.

Hai là, tính định hướng, điều tiết.

Kinh tế xanh là một phạm trù gắn liền trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh, có liên quan đến yếu tố thị trường và lợi nhuận, việc các chủ thể kinh tế có sự tác động đến việc sử dụng tài nguyên, năng lượng, môi trường và chất lượng sống của con người là rất lớn. Mọi quyết định phát triển kinh tế đều tác động đến lợi ích của doanh nghiệp, người dân, đồng thời ảnh hưởng lâu dài tới hệ sinh thái và an ninh quốc gia chính vì vậy, nhà nước có những chính sách để dẫn dắt nền kinh tế nhằm khuyến khích, tạo động lực cho các chủ thể kinh tế chuyển đổi từ mô hình “nâu” sang “xanh, các công cụ nhằm điều tiết thị trường, cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội. Đây được xem là một đặc tính pháp lý gián tiếp nhằm định hướng cho các chủ thể kinh tế khi bước vào quá trình chuyển đổi xanh.

Ba là, tính liên ngành, liên vùng và đa chủ thể.

Kinh tế xanh là hoạt động có sự tác động bao trùm nhiều lĩnh vực, ngành nghề từ năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp đến đô thị, nên việc quản lý đòi hỏi sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước để bảo đảm thống nhất mục tiêu phát triển bền vững và tránh chồng chéo chính sách. Tính liên vùng thể hiện ở việc triển khai quy hoạch, hạ tầng và chương trình xanh mang tính không gian mở, liên kết giữa các địa phương, như phát triển năng lượng tái tạo ở miền Trung, nông nghiệp thích ứng khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long hay đô thị xanh ở các vùng kinh tế trọng điểm.

Đặc biệt, quản lý nhà nước về kinh tế xanh còn có tính đa chủ thể, khi Nhà nước giữ vai trò định hướng, còn doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức xã hội và đối tác quốc tế cùng tham gia triển khai, giám sát và huy động nguồn lực. Đặc điểm này giúp tăng cường phối hợp chính sách, huy động tổng lực xã hội và bảo đảm hiệu quả, công bằng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh bền vững.

Bốn là, tính dài hạn và bền vững.

Kinh tế xanh không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng trước mắt mà hướng tới phát triển ổn định, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, vì vậy mọi chính sách quản lý của Nhà nước đều phải được thiết kế theo lộ trình dài hạn, có tính kế thừa và gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu phát triển bền vững. Tính bền vững trong quản lý nhà nước về kinh tế xanh thể hiện ở việc bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ tài nguyên và công bằng xã hội. Các chính sách quản lý hướng tới việc khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất bền vững, đồng thời bảo đảm sinh kế và an sinh cho người dân trong quá trình chuyển đổi.

Năm là, tính toàn cầu và xu thế quốc tế.

Tính toàn cầu thể hiện qua sự lan tỏa của các tiêu chuẩn và quy định quốc tế tác động đến hoạt động quản lý trong nước. Các công cụ và tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế buộc Việt Nam phải nâng cao năng lực quản lý, thúc đẩy sản xuất xanh và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng bền vững. Ngoài ra, tính hội nhập quốc tế còn thể hiện ở sự hợp tác đa phương và song phương trong chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tài chính và đào tạo nhân lực cho phát triển xanh.

2. Vai trò quản lý nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Thứ nhất, xây dựng thể chế, khung pháp lý trong thúc đẩy kinh tế xanh.

Thể chế chính là “bộ khung” quy định các điều luật cho các chủ thể trong nền kinh tế. Nhà nước thông qua việc ban hành và điều chỉnh hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển xanh, bao gồm các quy định về bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải khí nhà kính và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xanh. Những văn bản pháp lý quan trọng, như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg), hay Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ) đã đặt nền móng cho việc thể chế hóa các mục tiêu tăng trưởng xanh thành các quy định cụ thể, có tính ràng buộc thực thi.

Thứ hai, xây dựng chính sách và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xanh.

Công cụ chính sách được xem là đòn bẩy trực tiếp để nhà nước triển khai các biện pháp nhằm thúc đẩy kinh tế xanh. Trước hết, công cụ chính sách giúp Nhà nước xác định rõ mục tiêu, tầm nhìn và lộ trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội chính vì vậy cần được tiếp cận công cụ này ở nhiều phương diện và lĩnh vực khác nhau:

Đầu tiên, trong lĩnh vực tài chính – đầu tư, chính phủ ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy tài chính xanh như phát hành trái phiếu xanh, mở rộng tín dụng xanh thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, thành lập Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và khuyến khích đầu tư tư nhân vào năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, giao thông xanh.

Các chính sách về thuế, môi trường được áp như thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, than, túi ni-lông, phí khí thải theo Nghị định số 153/2024/NĐ-CP ngày 21/11/2024. Trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, Nhà nước xác định đây là lĩnh vực then chốt nhằm chuyển đổi từ trình độ nhận thức đến hành động thông qua việc ban hành chính sách hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, và khuyến khích mô hình kinh tế tuần hoàn, khu công nghiệp sinh thái theo Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022.

Nhà nước đẩy mạnh chính sách giáo dục và truyền thông xanh thông qua việc lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho tăng trưởng xanh và tổ chức các phong trào tiêu dùng bền vững, sống thân thiện môi trường.

Chính sách hợp tác quốc tế và hội nhập xanh giúp Việt Nam tận dụng các nguồn vốn ODA, tiếp nhận chuyển giao công nghệ thấp carbon, tham gia thị trường carbon toàn cầu và thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính theo COP26. Như vậy, các công cụ chính sách không chỉ mang tính định hướng mà còn thể hiện rõ tính hành động, đóng vai trò cầu nối giữa thể chế pháp lý và quá trình thực thi chiến lược phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, tổ chức thực thi và phân cấp quản lý trong thúc đẩy kinh tế xanh.

Thông qua việc xác lập rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Nhà nước định hướng điều phối liên ngành, liên vùng nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực và tránh chồng chéo trong quản lý. Vai trò phân cấp quản lý thông qua trao quyền chủ động cho chính quyền địa phương trong việc lồng ghép mục tiêu xanh vào quy hoạch, phát triển hạ tầng, lựa chọn dự án đầu tư và giám sát hoạt động môi trường. Điều này giúp huy động sự tham gia của cộng đồng và khu vực tư nhân, đồng thời phát huy lợi thế đặc thù về tài nguyên, kinh tế – xã hội của từng vùng.

Nhà nước đóng vai trò kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện, bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và điều chỉnh chính sách khi cần thiết. Như vậy, vai trò tổ chức thực thi và phân cấp quản lý không chỉ là cầu nối giữa hoạch định và kết quả mà còn là động lực bảo đảm cho chính sách kinh tế xanh đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, toàn diện và bền vững.

Thứ tư, giám sát, đánh giá và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Thông qua hệ thống báo cáo định kỳ, thanh tra, kiểm toán và đánh giá độc lập, cơ quan quản lý nhà nước có thể phát hiện những hạn chế trong quá trình triển khai, lãng phí nguồn lực, hoặc sai lệch mục tiêu. Giám sát và đánh giá gắn liền với tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước khi công khai các thông tin về tiến độ thực hiện, nguồn vốn đầu tư, kết quả giảm phát thải hay bảo vệ môi trường, Nhà nước tăng cường niềm tin của xã hội và khuyến khích sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội giúp người dân, doanh nghiệp và cán bộ công chức hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong bảo vệ môi trường và tiêu dùng bền vững.

Thứ năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập xanh.

Nhà nước giữ vai trò chủ động thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về công nghệ, tài chính, tri thức và chính sách xanh, nhằm tận dụng nguồn lực toàn cầu và khẳng định vị thế của Việt Nam trong tiến trình phát triển bền vững quốc tế. Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn và công nghệ xanh hiện đại, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, hợp tác quốc tế còn giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu tri thức quản trị xanh từ các quốc gia phát triển, Nhà nước lúc này chính là cầu nối giữa chính sách quốc tế và hành động trong nước, bảo đảm các tiêu chuẩn, quy định và cơ chế hợp tác toàn cầu được nội luật hóa và thực hiện thống nhất ở Việt Nam.

3. Thời cơ và thách thức trong quản lý nhà nước về kinh tế xanh ở Việt Nam

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã mở ra cho kinh tế xanh trở thành xu thế tất yếu của các quốc gia, đây là phản ứng của nhân loại trước những hệ lụy ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên. Các tổ chức quốc tế, như: Liên Hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB), OECD đều khẳng định kinh tế xanh là con đường giúp các quốc gia vừa đạt tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ hệ sinh thái. Từ sau Thỏa thuận Paris năm 2015, cộng đồng quốc tế đã tăng cường các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào giữa thế kỷ XXI.

Nhiều quốc gia phát triển, như: Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đang áp dụng các cơ chế pháp lý và thương mại mới như thuế carbon biên giới (CBAM), tiêu chuẩn ESG và chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), buộc các đối tác thương mại phải tuân thủ các tiêu chí môi trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP…) đều dành riêng các chương về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Điều này là động lực trong xu thế quản lý nhà nước về kinh tế xanh bởi không còn là lựa chọn riêng của một quốc gia mà là yêu cầu mang tính toàn cầu, phản ánh trách nhiệm chung và khả năng hội nhập của mỗi nền kinh tế.

Đối với Việt Nam, bối cảnh trong nước đã mở ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình quản lý và phát triển theo hướng xanh. Trước hết, khung chính sách đã tương đối đồng bộ, tại Đại hội XIII của Đảng (2021) đã khẳng định định hướng chiến lược “phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh”. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg), Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Chiến lược quốc gia về kinh tế tuần hoàn đến năm 2030Luật Bảo vệ môi trường 2020.

Nhà nước đã bước đầu xây dựng được nền tảng pháp lý và công cụ điều hành thống nhất, bao gồm chiến lược, luật, nghị định, chương trình hành động và kế hoạch của các bộ, ngành, địa phương. Sự đồng bộ giúp bảo đảm tính nhất quán trong quản lý, điều phối và giám sát giữa các cấp, tránh tình trạng chồng chéo hoặc phân tán trong thực thi. Nhờ đó, các hoạt động đầu tư, sản xuất, tiêu dùng và bảo vệ môi trường được định hướng theo cùng một mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững.

Công cụ chính sách như tài chính, thuế, đầu tư và tín dụng xanhngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để Nhà nước định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo, giao thông sạch, nông nghiệp hữu cơ và công nghiệp thân thiện môi trường. Việc triển khai thị trường carbon, trái phiếu xanh và mua sắm công xanh là những công cụ chính sách mới thể hiện xu hướng hiện đại hóa quản lý kinh tế.

Chính sách đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ xanhđược Nhà nước ưu tiên, thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) và các chương trình quốc gia về sản xuất sạch hơn, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh. Những chính sách này thể hiện rõ quyết tâm của Nhà nước trong việc thúc đẩy kinh tế xanh trở thành động lực phát triển mới. Mặc khác, với tiềm lực kinh tế vững chắc khi Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, nguồn lực dồi dào, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ, tạo điều chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao – những lĩnh vực có khả năng tích hợp tiêu chí xanh và đổi mới sáng tạo.

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trong khuôn khổ các FTA thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP) mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý xanh từ các quốc gia phát triển, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện cho mhà nước ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo vào công tác quản lý tài nguyên, giám sát môi trường và đánh giá hiệu quả chính sách xanh một cách minh bạch và chính xác hơn, niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước vào môi trường kinh tế ổn định giúp Nhà nước có cơ hội thu hút thêm nguồn vốn đầu tư xanh, nhất là trong các dự án năng lượng mặt trời, điện gió và đô thị bền vững. Như vậy, các thời cơ không chỉ phản ánh khả năng điều hành vĩ mô hiệu quả mà còn là nền tảng để Nhà nước triển khai đồng bộ các chính sách và công cụ quản lý kinh tế xanh trong bối cảnh mới. Tuy nhiên quá trình này cũng đang đứng trước nhiều thử thách.

Một là, thách thức về thể chế, chính sách và sự phối hợp liên ngành.

Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản định hướng quan trọng, các chính sách thuế và tín dụng xanh, nhưng phần lớn mới dừng lại ở tầm chiến lược, chưa có hướng dẫn cụ thể về tổ chức thực hiện, cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả. Nhiều quy định vẫn chồng chéo, chưa xác định rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành và cấp chính quyền địa phương, dẫn đến tình trạng phối hợp thiếu hiệu quả trong quá trình triển khai.

Ở một số lĩnh vực, cơ chế phân cấp chưa rõ ràng, khiến việc thực thi chính sách bị phụ thuộc vào sự chủ động của từng địa phương, gây ra tình trạng không thống nhất trong kết quả thực hiện. Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá và kiểm định hiệu quả của các chính sách xanh còn hạn chế do thiếu hệ thống chỉ tiêu đo lường cụ thể, thiếu cơ sở dữ liệu liên thông giữa các ngành. Những bất cập này khiến cho hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế xanh còn mang tính hình thức, thiếu tính thực thi và chưa phát huy được vai trò điều phối tổng thể của Nhà nước trong thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Hai là, hạn chế về nguồn lực tài chính và công cụ kinh tế xanh.

Quy mô nguồn vốn cho kinh tế xanh còn nhiều hạn chế, cơ chế vận hành thiếu linh hoạt và khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa còn yếu. Các công cụ tài chính xanh như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, bảo hiểm rủi ro môi trường hay thị trường carbon mới ở giai đoạn khởi đầu, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp và địa phương chủ động đầu tư vào các dự án thân thiện với môi trường. Việc tiếp cận các nguồn vốn xanh quốc tế vẫn gặp khó khăn do thiếu cơ chế bảo lãnh, thiếu minh bạch trong đánh giá hiệu quả môi trường, và còn khoảng cách giữa tiêu chuẩn trong nước với thông lệ quốc tế. Trong khi đó, ngân sách nhà nước cho các chương trình tăng trưởng xanh chủ yếu phân tán ở nhiều lĩnh vực, chưa có cơ chế phối hợp và phân bổ ưu tiên rõ ràng, các hạn chế này làm giảm hiệu quả của các chương trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh và hạn chế khả năng huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.

Ba là, về nguồn nhân lực và năng lực quản lý.

Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống quản lý nhà nước nhìn chung còn thiếu kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực như tài chính xanh, quản trị carbon, kinh tế tuần hoàn hay đánh giá tác động môi trường. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn chưa được tổ chức thường xuyên và chưa đủ mạnh để hỗ trợ hoạch định và giám sát chính sách xanh. Năng lực tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở cũng còn yếu do thiếu phương tiện kỹ thuật, công cụ quản lý dữ liệu và sự liên thông thông tin giữa các ngành. Bên cạnh đó, nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp về kinh tế xanh vẫn còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, người dân chưa hình thành thói quen tiêu dùng xanh, còn ưu tiên các sản phẩm giá rẻ thay vì thân thiện với môi trường.

Bốn là, môi trường quốc tế và sức ép hội nhập.

Việt Nam khi tham gia hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn môi trường, phát thải carbon, và phát triển bền vững, buộc nhà nước phải điều chỉnh hệ thống chính sách quản lý kinh tế theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc đáp ứng các chuẩn mực quốc tế sẽ đặt ra bài toán khi trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và năng lực quản lý của Việt Nam còn hạn chế so với các nước phát triển. Chi phí đầu tư cho đổi mới công nghệ xanh, hệ thống kiểm kê và chứng nhận phát thải, cũng như yêu cầu minh bạch hóa dữ liệu môi trường đều là những gánh nặng đối với cả khu vực công và tư nhân.

4. Kiến tạo mô hình quản trị xanh trong kỷ nguyên mới

Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế theo hướng linh hoạt, mở và có tính liên kết cao.

Khung thể chế cần phải bảo đảm tính thích ứng cao với biến động môi trường và công nghệ, cho phép các địa phương và ngành nghề có quyền thử nghiệm, điều chỉnh linh hoạt trong khuôn khổ pháp lý thống nhất. Việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ không chỉ giúp địa phương chủ động triển khai các sáng kiến xanh, mà còn tạo ra sự đa dạng mô hình thực thi, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và khả năng lan tỏa chính sách. Bên cạnh đó, hoàn thiện thể chế còn đòi hỏi tư duy liên ngành và kết nối vùng, nơi các chính sách kinh tế, môi trường, khoa học – công nghệ và giáo dục được tích hợp hài hòa, thúc đẩu nguồn lực xanh liên tục giữa các khu vực, bảo đảm đồng bộ trong toàn hệ thống.

Thứ hai, đẩy mạnh các công cụ tài chính xanh bền vững.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, thiết lập hành lang pháp lý cho các công cụ tài chính như như trái phiếu xanh, tín dụng xanh, quỹ đầu tư xanh hay cơ chế định giá carbon, qua đó tạo điều kiện, động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư chủ động tham gia vào quá trình chuyển đổi. Mở rộng hợp tác công – tư (PPP) trong các lĩnh vực năng lượng sạch, xử lý rác thải, giao thông bền vững hay nông nghiệp tuần hoàn, nhằm vừa giảm gánh nặng cho ngân sách, vừa khơi thông dòng vốn tư nhân. Việc kết hợp giữa vốn công và vốn xã hội không chỉ tạo ra “lực kéo” cho các dự án xanh mà còn giúp phân tán rủi ro, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ tài chính vào quản lý và giám sát vốn xanh là xu hướng tất yếu, các nền tảng số, dữ liệu lớn có thể giúp truy xuất nguồn gốc dòng tiền, theo dõi tiến độ và đánh giá tác động môi trường của từng dự án, từ đó nâng cao tính minh bạch và niềm tin thị trường.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong quản trị xanh.

Để thực sự đổi mới mô hình quản trị, Việt Nam cần coi chuyển đổi số là trụ cột thúc đẩy quản trị xanh. Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về tài nguyên, môi trường, phát thải và năng lượng, có khả năng kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương. Đây là nền tảng để quản lý, giám sát và ra quyết định dựa trên dữ liệu thực, hạn chế tình trạng chồng chéo và thiếu minh bạch. Tiếp theo, cần ứng dụng công nghệ số vào các khâu giám sát môi trường và điều hành chính sách, nền tảng phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để dự báo ô nhiễm và biến đổi khí hậu; hay sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ mô phỏng, hoạch định các chính sách xanh. Cùng với đó, việc thúc đẩy chính phủ điện tử và chính phủ số trong quản lý tài nguyên – môi trường, giúp rút ngắn quy trình, minh bạch thông tin và tăng khả năng tương tác với người dân, doanh nghiệp.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng chuyển đổi xanh.

Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia và nhân lực kỹ thuật có kiến thức về quản trị môi trường, kinh tế xanh, năng lực chuyển đổi xanh, đồng thời nhạy bén với các xu hướng và tiêu chuẩn toàn cầu. Việc này đòi hỏi tích hợp đào tạo liên tục từ lý thuyết đến thực hành, kết hợp giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền địa phương để nhân lực vừa nắm vững chuyên môn, vừa thành thạo công cụ công nghệ phục vụ giám sát, phân tích dữ liệu, đánh giá hiệu quả dự án xanh. Song song, cần khuyến khích đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng tại chỗ và hợp tác quốc tế nhằm giúp cán bộ cập nhật phương pháp, công nghệ và tiêu chuẩn về chuyển đổi xanh. Đồng thời, xây dựng văn hóa đổi mới và học hỏi liên tục trong toàn hệ thống công – tư, tạo ra lực lượng nhân lực chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong việc áp dụng công nghệ số và triển khai các sáng kiến xanh. Khi nhân lực này được củng cố, họ sẽ trở thành bộ não vận hành và kiến tạo, bảo đảm mọi chính sách, dự án và dòng vốn xanh được triển khai hiệu quả, minh bạch và bền vững, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong kỷ nguyên quản trị xanh toàn cầu.

Thứ năm, tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá và minh bạch thông tin.

Để quản trị xanh vận hành hiệu quả, không chỉ cần thể chế, chính sách, nguồn lực, mà cơ chế giám sát và đánh giá phải đồng bộ và minh bạch. Việt Nam cần xây dựng hệ thống đánh giá tác động môi trường, kinh tế và xã hội chuẩn hóa, áp dụng công nghệ số để theo dõi tiến độ dự án, dòng vốn và hiệu quả thực hiện chính sách theo thời gian thực. Các báo cáo cần được công khai, định kỳ và có kiểm toán độc lập, nhằm tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Cơ chế giám sát phải gắn với trách nhiệm rõ ràng của từng cấp, từng cơ quan, từ trung ương tới địa phương, đồng thời thiết lập kênh phản hồi từ cộng đồng và khu vực tư nhân. Việc này giúp phát hiện sớm sai lệch, điều chỉnh kịp thời và thúc đẩy văn hóa minh bạch và trách nhiệm trong quản trị xanh, tạo hiệu quả bền vững và nâng cao uy tín quản trị quốc gia trên trường quốc tế.

Chú thích:
1. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
2. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
3. Chính phủ (2024). Nghị định số 153/2024/NĐ-CP ngày 21/11/2024 về quản lý, phát triển kinh tế tuần hoàn.
4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. OECD. (n.d.). Official Development Assistance (ODA). Organisation for Economic Co-operation and Development.
7. Just Energy Transition Partnership (JETP) (2022). Political Declaration on the Just Energy Transition Partnership with Viet Nam.
8. Green Climate Fund (GCF). (n.d.). About the Fund. Retrieved from https://www.greenclimate.fund
9. United Nations Development Programme (UNDP). (n.d.). About UNDP. Retrieved from https://www.undp.org
10. European Commission (2023). Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM): Regulation (EU) 2023/956.
11. World Economic Forum (2021). Measuring Stakeholder Capitalism: Towards Common Metrics and Consistent Reporting of Sustainable Value Creation (ESG).
12. Chính phủ (2022). Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
2. Bộ Tài chính (2024). Chiến lược tài chính xanh giai đoạn 2024 – 2030, Hà Nội.
3. Chính phủ (2019). Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 về quản lý môi trường.
4. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (2021). Green Economy Policy Review: Vietnam Country Report. UNDP Việt Nam.
5. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2020). Green Growth Indicators 2020. Paris: OECD Publishing.
6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ban hành chiến lược tăng trưởng Xanh quốc gia giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050.
7. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) (2023). Báo cáo thường niên Kinh tế Xanh Việt Nam năm 2023, Hà Nội.
8. World Bank (2022). Vietnam Country Climate and Development Report (CCDR). Washington, DC: World Bank Group.