ThS. Nguyễn Đại Lượng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích phát triển dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La trong bối cảnh chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Trên cơ sở tiếp cận kinh tế chính trị về dịch vụ như một hàng hóa vô hình có giá trị và giá trị sử dụng, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh và thống kê mô tả từ các nguồn số liệu chính thức của Trung ương và địa phương. Bài viết làm rõ thực trạng phát triển dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La, chỉ ra những hạn chế, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ nông nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững.
Từ khóa: Dịch vụ nông nghiệp; chuỗi giá trị nông sản; chuyển đổi số; OCOP; Sơn La.
1. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, dịch vụ được xem như “hạ tầng mềm” của tăng trưởng, tham gia trực tiếp vào giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và gia tăng giá trị trong chuỗi sản xuất – lưu thông – tiêu dùng. Năm 2024, khu vực dịch vụ tăng 7,38% và đóng góp 49,46% vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế Việt Nam1, đã khẳng định vị trí quan trọng của ngành dịch vụ. Đối với nông nghiệp, sự phát triển dịch vụ không chỉ là phần hỗ trợ mà trở thành điều kiện cấu thành của nông nghiệp hiện đại, năng lực cạnh tranh của nông sản phụ thuộc ngày càng lớn vào các dịch vụ đầu vào và dịch vụ đầu ra.
Phát triển dịch vụ nông nghiệp đang là vấn đề cấp thiết ở Sơn La do quy mô sản xuất hàng hóa và định hướng tham gia thị trường lớn hơn. Tính đến hết năm 2024, tổng diện tích cây ăn quả của tỉnh Sơn La đạt 83.757 ha; giá trị xuất khẩu hàng hóa của Sơn La đạt 186,6 triệu USD, trong đó nông sản chiếm 177,6 triệu USD2. Tính đến hết tháng 6/2025, Sơn La có hơn 900 hợp tác xã, trong đó gần 650 hợp tác xã nông nghiệp; đã có 241 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên3.
2. Dịch vụ nông nghiệp và các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La
Trong khoa học kinh tế chính trị, dịch vụ được xem là một loại hàng hóa vô hình, cũng có thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa dịch vụ chính là lao động xã hội để tạo ra dịch vụ. Giá trị sử dụng của hàng hóa dịch vụ là sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, khác với hàng hóa thông thường (hàng hóa vật thể, hữu hình…), hàng hóa dịch vụ không thể cất trữ được, quá trình sản xuất và lưu thông diễn ra đồng thời.
Dịch vụ được xác định là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, bao hàm tất cả cả các hoạt động phục vụ sản xuất, kinh doanh. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc đã làm xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, phục vụ rộng rãi trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế – xã hội.
Nông nghiệp là ngành kinh tế cơ bản trong cơ cấu ngành kinh tế quốc dân. Theo xu hướng của thời đại, giá trị kinh tế mà ngành nông nghiệp mang lại đóng góp vào GDP của các quốc gia ngày càng giảm, nhưng nông nghiệp chắc chắn là ngành kinh tế không thể mất đi trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, chuyên môn hóa và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc. Sự phân công lao động diễn ra ở cả phạm vi toàn xã hội và diễn ra ngay trong từng ngành, nhóm ngành, lĩnh vực. Trong nông nghiệp, sự phân công lao động không chỉ diễn ra theo chiều ngang (với các lĩnh vực, như: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản) mà còn theo cả chiều dọc, đó là, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị với các hoạt động phục vụ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Đây là sự phân chia các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp thành các khâu, các bộ phận với sự chuyên môn hóa cao. Dịch vụ nông nghiệp là thành phần không thể thiếu trong quá trình phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại ngày nay trên toàn thế giới. Trong nghiên cứu của tác giả, dịch vụ nông nghiệp được hiểu là toàn bộ các hoạt động phục vụ cho phát triển nông nghiệp, mang lại lợi ích cho người cung cấp và sử dụng dịch vụ, người tiêu dùng và toàn xã hội.
Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Sơn La, có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của dịch vụ nông nghiệp:
Một là, đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương.
Đặc điểm kinh tế – xã hội của Sơn La vừa tạo động lực hình thành nhu cầu, vừa quyết định khả năng cung ứng và hiệu quả lan tỏa của dịch vụ nông nghiệp. Sơn La là tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên 1.410.983 ha, địa bàn rộng, phân tán, có đường biên giới dài 250 km và hai cửa khẩu quốc gia (Chiềng Khương, Lóng Sập), tạo lợi thế giao lưu thương mại nhưng cũng làm chi phí tổ chức mạng lưới dịch vụ tăng lên do khoảng cách vận chuyển, địa hình và tính phân mảnh của vùng sản xuất. Sơn La có dân số hơn 1,3 triệu người, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 83,7%4, với sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán canh tác, năng lực tiếp cận thông tin và mức độ sẵn sàng tiếp nhận dịch vụ hiện đại. Do đó, chất lượng dịch vụ nông nghiệp không chỉ được đo bằng hiệu quả kinh tế, mà còn phụ thuộc vào mức độ phù hợp văn hóa và năng lực tổ chức của cộng đồng sản xuất.
Hai là, cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, với những tác động mạnh mẽ tới cả đầu vào và đầu ra của nông nghiệp. Từ đó, đặt ra những nhu cầu lớn về các loại hình dịch vụ nông nghiệp với các nhu cầu về tài chính để đầu tư vào thiết bị, công nghệ cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; nhu cầu về huấn luyện, đào tạo, tư vấn, thiết kế, lắp đặt và chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp; nhu cầu về các dịch vụ số, dịch vụ thông tin và truyền thông… Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tác động trực tiếp đến các hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp, làm thay đổi cách thức và nâng cao hiệu quả của các dịch vụ này, như: các dịch vụ tài chính số, làm thủ tục hành chính trực tuyến, công tác khuyến nông, giới thiệu, quảng bá sản phẩm nông nghiệp, bán hàng, dịch vụ sau bán hàng cũng được thực hiện dựa trên nền tảng công nghệ số.
Ba là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình hội nhập quốc tế toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là nội dung trọng tâm, quan trọng trong đổi mới ở Việt Nam. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thu được nhiều thành tựu quan trọng, cả về đầu tư, ngoại thương, hợp tác và chuyển giao công nghệ. Với việc tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do, hiệp định thương mại thế hệ mới đã mở ra nhiều cơ hội cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào thị trường thế giới, kể cả những thị trường khó tính. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của những thị trường lớn, đặc biệt là điều kiện sản xuất an toàn thực phẩm, chất lượng, sự ổn định và quy trình, công nghệ đã đặt ra nhu cầu sử dụng nhiều loại dịch vụ nông nghiệp hướng tới xuất khẩu. Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng làm cho nông sản chất lượng của thế giới được nhập về bán trên thị trường với giá cả rẻ hơn, là sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với nông nghiệp Việt Nam nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng.
Bốn là, chủ trương và chính sách của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước luôn giữ vai trò quan trọng trong định hướng, điều tiết, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế bằng cơ chế, chính sách, công cụ nhà nước ban hành và triển khai thực hiện sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nghị quyết số 19, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đảng khẳng định: “Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, gắn với đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch và phát triển thị trường nông sản cả trong và ngoài nước; bảo đảm an toàn thực phẩm, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn”5. Với quan điểm, chuyển mạnh tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu của thị trường đã cho thấy cần phải đẩy mạnh chuyên môn hóa sâu trong nông nghiệp. Đảng, Nhà nước chủ trương nâng tầm thương hiệu nông sản Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến và xuất khẩu nông sản thế giới. Đây là cơ sở để Nhà nước ban hành những quy định pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình thúc đẩy nông nghiệp phát triển, là nhân tố quan trọng tác động đến hình thành và phát triển dịch vụ nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng.
3. Thực trạng phát triển dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La
Sơn La là địa phương có thế mạnh trong phát triển nông nghiệp, mang lại giá trị kinh tế và đóng góp nhiều giá trị về mặt xã hội và môi trường. Từ chủ trương, chính sách chung về phát triển nông nghiệp của quốc gia, tỉnh Sơn La đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách hỗ trợ, triển khai nhiều chương trình, đề án phát triển nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Kết quả đạt được cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự tăng trưởng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Số lượng chủ thể cung cấp các dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La có sự gia tăng cả ở nhóm dịch vụ đầu vào và nhóm dịch vụ đầu ra. Trong đó, tăng mạnh ở nhóm dịch vụ chế biến, bảo quản sau thu hoạch (doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và sản xuất đồ uống) và dịch vụ quảng bá, giới thiệu, bán sản phẩm (hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi). Tính đến hết tháng 9/2025, tỉnh Sơn La đã có 40 nhà máy chế biến và hơn 600 cơ sở chế biến vừa và nhỏ6, phản ánh xu hướng gia tăng năng lực chế biến nông sản của tỉnh.
Hình thành ngày càng nhiều những mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững, phù hợp với xu hướng hiện nay. Với sự hỗ trợ của dịch vụ khuyến nông, giống, khoa học – công nghệ nên hiệu quả sản xuất nông nghiệp được nâng cao đáng kể. Dịch vụ giống cây trồng, vật nuôi không chỉ đáp ứng được nhu cầu của tỉnh Sơn La mà còn cung cấp cho các tỉnh lân cận, như: Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên… Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp của vùng và của cả nước.
Các dịch vụ đầu ra sản phẩm nông nghiệp đang phát triển theo hướng hiện đại. Dịch vụ chế biến, bảo quản sau thu hoạch đã hình thành nhiều doanh nghiệp, đầu tư công nghệ hiện đại, có khả năng chế biến, sơ chế, đóng gói nông sản phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu ra nhiều nước, trong đó có cả các thị trường khó tính, như Mỹ, EU, Nhật Bản. Dịch vụ quảng bá, giới thiệu sản phẩm cúng phát triển theo hướng hiện đại, an toàn với số lượng siêu thị, cửa hàng tiện lợi tăng mạnh, thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến. Các dịch vụ về xây dựng thương hiệu, đăng ký bản quyền cũng góp phần gia tăng số sản phẩm, diện tích canh tác, được công nhận theo các tiêu chuẩn chất lượng VietGAP, VietGAHP, nông nghiệp hữu cơ, chứng nhận sản phẩm OCOP. Sơn La đã có 5.596 ha cây trồng áp dụng VietGAP/GlobalGAP; 19.121 ha cà phê áp dụng 4C, UTZ; 3.210 ha sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước và 115 ha nhà kính7. Dịch vụ du lịch nông nghiệp đang được đầu tư phát triển, kết nối phát triển du lịch với phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Thứ hai, chất lượng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Chất lượng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La ngày càng được nâng cao, góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững. Các nhóm dịch vụ đầu vào và nhóm dịch vụ đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La đều có chất lượng tốt. Mức độ hiệu quả sau khi sử dụng dịch vụ nông nghiệp và các dịch vụ sau bán hàng đều được đánh giá tốt, phù hợp với xu hướng phát triển dịch vụ hiện nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, nhưng vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục để tạo sự phát triển đột phá hơn nữa, cụ thể là:
(1) Tăng trưởng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La còn chậm, một số lĩnh vực, loại hình dịch vụ còn giảm.
(2) Chất lượng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn chưa đồng đều, chất lượng cao mới đạt được ở một số mô hình, chưa mang tính phổ biến; hiệu quả sử dụng dịch vụ mang lại chưa tạo chuyển biến mạnh về giá trị gia tăng cũng như năng suất lao động trong nông nghiệp.
(3) So sánh về các loại hình dịch vụ đầu vào và đầu ra cho thấy, tình trạng không đồng đều về chất lượng, trong đó cũng không có sự đồng đều về chất lượng giữa các loại hình dịch vụ.
4. Giải pháp phát triển dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước để thúc đẩy dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Trong những năm tới, để thúc đẩy phát triển dịch vụ nông nghiệp, tỉnh Sơn La cần tập trung một số vấn đề về cơ chế, chính sách:
(1) Chính sách hỗ trợ về tín dụng, mặt bằng sản xuất – kinh doanh. Nông nghiệp tỉnh Sơn La phát triển theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn so với canh tác truyền thống. Tỉnh cần tiếp tục tăng cường các hội nghị kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, đặc biệt chú ý đến các đối tượng trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ nông nghiệp, qua đó tháo gỡ các vướng mắc, mở rộng đối tượng, triển khai có hiệu quả các gói tín dụng hỗ trợ dịch vụ nông nghiệp. Đẩy mạnh triển khai các gói tín dụng cho vay lâm sản, thủy sản; cho vay đầu tư phát triển các sản phẩm OCOP của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cần tháo gỡ các khó khăn về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất nông nghiệp khác và pháp lý trong việc xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp trên đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp, từ đó thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao và các dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La.
(2) Chính sách hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ. Tỉnh Sơn La cần nâng cao hiệu quả và mở rộng sự ảnh hưởng của các trung tâm, đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Rà soát, hoàn thiện, điều chỉnh quy hoạch các dự án đầu tư Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh. Đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, thúc đẩy hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực dịch vụ khoa học – công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Xây dựng hướng dẫn cụ thể, xác định chính xác đâu là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hay đâu là thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của doanh nghiệp để có chính sách thuế phù hợp.
(3) Chính sách hỗ trợ về phát triển nhân lực. Xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao về làm việc cho tỉnh Sơn La. Chú trọng phát triển nhân lực tại các đơn vị nghiên cứu, trình diễn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực công nghệ sinh học, lai tạo giống, có khả năng tạo ra những mô hình, chế phẩm, giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao. Hỗ trợ đào tạo nhà quản lý, nhà kinh doanh, đặc biệt chú trọng lĩnh vực chế biến sau thu hoạch, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Thường xuyên mở các lớp tập huấn, phổ biến, bồi dưỡng, đào tạo ngắn ngày cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất – kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp.
(4) Chính sách hỗ trợ về xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu. Tăng cường thực hiện các chính sách về xúc tiến thương mại, đảm bảo các cơ sở sản xuất nông nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho nông nghiệp. Bên cạnh việc thường xuyên tổ chức các hội chợ, triển lãm, hội thi nhằm giới thiệu, quảng bá và bán nông sản, bảo đảm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, tỉnh Sơn La cần tăng cường hỗ trợ tổ chức cả các hội chợ, triển lãm giới thiệu, bày bán các máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất nông nghiệp. Cùng với đó là các hoạt động kết nối cung – cầu, giới thiệu, quảng bá tới doanh nghiệp, hợp tác xã và bà con nông dân về các loại hình dịch vụ nông nghiệp. Thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp gắn với bảo đảm chất lượng, an toàn.
Hai là, đa dạng hóa các chủ thể, loại hình dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn.
Một trong những đặc điểm của kinh tế thị trường đó là sự đa dạng các chủ thể, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Dịch vụ nông nghiệp chủ yếu được cung cấp bởi các đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước, số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia cung cấp dịch vụ nông nghiệp còn chưa nhiều và với quy mô nhỏ. Nhà nước cần thực hiện tốt vai trò định hướng, dẫn dắt, tạo lập khung khổ pháp lý cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra hiệu quả; quản lý, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường; cung cấp các hàng hóa, dịch vụ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác rất cần được tạo điều kiện phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp hay ở khu vực nông thôn, góp phần gắn kết và nâng cao hiệu quả hoạt động các chủ thể sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ. Để hướng tới sản xuất, kinh doanh quy mô lớn, hiện đại, chuyên nghiệp cần thu hút nhiều hơn sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sự đa dạng về chủ thể cung cấp và các loại hình, sẽ thúc đẩy hình thành ngày càng đầy đủ, đồng bộ dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Ba là, nâng cao chất lượng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn.
Chất lượng dịch vụ nông nghiệp được thể hiện ở sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ, cùng với đó là kết quả đạt được trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Các cơ sở, đơn vị cung cấp dịch vụ phải nỗ lực, không ngừng cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp an toàn, hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn. Chú trọng công tác bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ năng của nhân viên trong các đơn vị cung ứng dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, cải thiện điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị cung ứng dịch vụ nông nghiệp. Sơn La cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân, triển khai các dự án phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Phát triển hệ thống hạ tầng thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, đầu tư hoàn chỉnh các hệ thống công trình thủy lợi, công trình bảo vệ, kiểm soát nguồn nước, cấp, trữ nước… Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, cả đường bộ và đường thủy, thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Phát triển hệ thống hạ tầng logistics đáp ứng yêu cầu của việc chế biến, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ/xuất khẩu nông sản. Đặc biệt cần quan tâm và đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống hạ tầng kết nối giữa các khu vực sản xuất và chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu nông sản.
5. Kết luận
Phát triển dịch vụ nông nghiệp là yêu cầu tất yếu trong quá trình chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp theo chuỗi giá trị, là công cụ nâng cao hiệu quả phân công lao động xã hội và giá trị của nông sản. Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Sơn La đã có bước phát triển cả về số lượng chủ thể và mức độ đa dạng loại hình dịch vụ, nhưng vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng còn chậm và chưa ổn định, một số loại hình dịch vụ nông nghiệp còn bị thu hẹp, chất lượng dịch vụ còn chưa đồng đều, hiệu quả đột phá về giá trị gia tăng và năng suất lao động chưa rõ nét. Vì vậy, để dịch vụ nông nghiệp thực sự trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Sơn La, cần hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ, mở rộng và đa dạng hóa chủ thể cung ứng, ưu tiên nâng cao chất lượng dịch vụ then chốt, qua đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển hiện đại, bền vững và thích ứng với biến động của thị trường.
Chú thích:
1. Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2024.
2. Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Sơn La năm 2024.
3. 6. 7. Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Sơn La, Quý III năm 2025.
4. Sơn La tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số. https://nhandan.vn/son-la-to-chuc-thanh-cong-dai-hoi-dai-bieu-cac-dan-toc-thieu-so-post845359.html, ngày 17/11/2024.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.



