Phạm Thị Phương Thanh
Trường Chính trị Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số tác động mạnh mẽ đến sự phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng, làm thay đổi tư duy, hành động của các chủ thể, lực lượng, nhất là với người nông dân để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Bài viết làm rõ một số kết quả cơ bản về chuyển đổi số với phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp; từ đó, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số với phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành Phố Hải Phòng hiện nay.
Từ khóa: Chuyển đổi số, phát triển lực lượng sản xuất, nông nghiệp, thành phố Hải phòng.
1. Đặt vấn đề
Thực hiện Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng năm 2025, sáp nhập tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, lấy tên là thành phố Hải Phòng đã góp phần mở rộng địa giới hành chính, mở rộng không gian phát triển cho các ngành kinh tế; trong đó có nông nghiệp. Là thành phố trực thuộc trung ương, Hải Phòng có ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển nhưng diện tích đất canh tác nông nghiệp là 1,303km², chiếm trên 40% diện tích tự nhiên. Chính vì vậy, chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp là nội dung lớn luôn được thành phố Hải Phòng quan tâm chỉ đạo thực hiện… Tuy nhiên, so với các lĩnh vực kinh tế khác, nông nghiệp thành phố Hải Phòng vẫn chưa phát triển xứng tầm; việc chuyển đổi số vào phát triển nông nghiệp còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra; chưa được ứng dụng, sử dụng mạnh mẽ vào quy trình sản xuất, tiêu dùng, tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước.
2. Một số kết quả về đạt được về chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng
Chuyển đổi số trong nông nghiệp là quá trình thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp một cách tổng thể và toàn diện gắn với ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu, là giải pháp then chốt cho phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển một cách bền vững.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp ở Việt Nam góp phần phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp, tăng khả năng ứng dụng công nghệ số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm thiểu rủi ro, thiệt hại do tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, kết nối trực tiếp người sản xuất với thị trường và tạo ra nhiều cơ hội phát triển mới cho ngành nông nghiệp.
Thời gian qua, việc ứng dụng, sử dụng chuyển đổi số vào phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng đạt được những kết quả quan trọng.
Chuyển đổi số được đẩy mạnh trong nông nghiệp đã tạo nền tảng vững chắc để nông nghiệp của Thành phố phát triển. Hiện nay, chuyển đổi số trong nông nghiệp đã và đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Việc ứng chuyển đổi số vào các công cụ lao động và đối tượng lao động ngành nông nghiệp vào các khâu của quá trình sản xuất và kinh doanh nông sản đã được Hải Phòng quan tâm đẩy mạnh. Chuyển đổi số góp phần nâng cao tiềm năng phát triển nông nghiệp hàng hóa công nghệ cao ở thành phố Hải Phòng hiện nay; năng lực, trình độ ứng dụng, sử dụng chuyển đổi số phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp của người dân được nâng lên về mọi mặt, góp phần gia tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được chuyển đổi số phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng còn một số hạn chế. Việc ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi số. Phần lớn nông dân còn thiếu kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin, chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, lợi ích của chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp.
Các mô hình ứng dụng công nghệ cao, như: nhà kính thông minh, tưới tiêu tự động, sử dụng robot, phân tích dữ liệu lớn và AI để hỗ trợ quyết định còn ít. Hệ thống dữ liệu để tích hợp, chia sẻ hầu như chưa có hoặc chưa đáp ứng yêu cầu kết nối, liên thông, tích hợp. Ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp, hộ sản xuất phần lớn cũng chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số do thiếu cơ sở dữ liệu lớn cho sản xuất, thiếu minh bạch xuất xứ sản phẩm, thiếu kết nối chia sẻ thông tin của tất cả các khâu từ sản xuất, quản lý, logicstic, thương mại nông sản.
3. Một số giải pháp
3.1. Nhóm giải pháp về nhân tố con người trong lĩnh vực nông nghiệp
Cần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và quản lý của chính quyền đối với sự phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt nghị quyết về chuyển đổi số trong nông nghiệp; về vị trí, vai trò của nông dân, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, chủ động thay đổi tư duy nhận thức về tính tất yếu của chuyển đổi số với phát triển lực lượng sản xuất mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thay đổi tư duy và phương thức làm việc của ngành nông nghiệp từ quản lý nhà nước đến sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển đổi số có vai trò quan trọng quyết định đến việc xây dựng thành công một nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, phát triển bền vững như quyết tâm chính trị mà thành phố Hải Phòng đã đặt ra. Muốn làm được điều đó, các cơ quan ban ngành, các cá nhân đề xuất chính sách phải nắm vững các cấu trúc, đặc điểm của cách mạng công nghiệp 4.0, nắm vững đường lối, sâu sát với thực tiễn và dám chịu trách nhiệm. Từ đó, tạo thuận lợi trong việc “mở đường” cho người dân, các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực nông nghiệp chủ động thay đổi tư duy nhận thức về tính tất yếu của chuyển đổi số, tạo sự chuyển biến trong lao động, sản xuất (thay đổi từ tư duy dẫn đến hành động) đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới.
Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, trình độ, có kiến thức, am hiểu về nông nghiệp, nâng cao năng lực của cán bộ quản lý nhà nước ngành nông nghiệp. Củng cố hoạt động của cán bộ chuyên trách phụ trách mảng nông nghiệp ở các địa phương đủ trình độ, năng lực để tham mưu cấp ủy và chính quyền chỉ đạo điều hành sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ bảo vệ thực vật, thú y chăn nuôi, khuyến nông, lâm ngư, thông tin phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ đến người nông dân.
Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động Hội Nông dân các cấp thực sự là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển nông nghiệp và nông thôn. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực nông nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thu hút, tăng cường sự hỗ trợ của các chuyên gia trong và ngoài nước trong lĩnh vực nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề; chú trọng dạy nghề cho thanh niên nông thôn, nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, lao động nữ, các đối tượng chính sách và lao động ở vùng đô thị hóa. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thu hút, tăng cường sự hỗ trợ của các chuyên gia trong và ngoài nước; xây dựng các chính sách giáo dục và đào tạo liên tục cho chuyên gia; thành lập các quỹ hỗ trợ nghiên cứu và sáng tạo; các chính sách tài chính hỗ trợ cho các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước.
3.2. Nhóm giải pháp về phát triển các tư liệu sản xuất trong nông nghiệp gắn với chuyển đổi số
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào các yếu tố của tư liệu sản xuất để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp bền vững, với cơ cấu hợp lý. Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp Thành phố cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa. Hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân đầu tư vào các công nghệ mới, công nghệ cao. Điều này tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi số nhằm phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng hiện nay. Khoa học, công nghệ cần được thẩm thấu vào từng yếu tố của lực lượng sản xuất góp phần định hình nền nông nghiệp hiện đại, thông minh, hiệu quả năng suất cao.
Sau khi sáp nhập, thành phố Hải Phòng có cơ cấu kinh tế nông nghiệp đa dạng hơn, do đó việc ứng dụng khoa học, công nghệ cũng cần bảo đảm vừa ưu tiên đầu tư hợp lý các lĩnh vực có thế mạnh vừa bảo đảm sự phát triển đồng bộ.Ưu tiên ứng dụng khoa học công nghệ thúc đẩy tăng trưởng các lĩnh vực có thế mạnh như: khai thác, chế biến thuỷ, hải sản và rau màu, cây ăn quả; đẩy mạnh chăn nuôi, nâng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành. Nâng cao năng lực khai thác và nuôi trồng thủy sản; tổ chức đánh bắt xa bờ kết hợp với phát triển chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá.
Đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, thâm canh cây lâm nghiệp trên cơ sở chú trọng ứng dụng khoa học, công nghệ lựa chọn giống là khâu đột phá. Thực hiện phương châm ba hóa trong chủ trương tái cơ cấu: doanh nghiệp hóa các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa của người nông dân; liên kết hóa trong phát triển sản xuất – kinh doanh và các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của bộ máy các cấp; xã hội hóa nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp.
Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy hoạch xã nông thôn mới và quy hoạch sản xuất nông nghiệp, trong đó lưu ý điều chỉnh quy hoạch vùng theo hướng bảo đảm phát huy thế mạnh của thành phố Hải Phòng hiện nay. Vùng đồng bằng tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa có quy mô lớn (vùng trồng lúa, rau quả, vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản); vùng miền núi triển khai trồng rừng gỗ lớn, phát triển các cây dược liệu dưới tán rừng; vùng đồng bằng ven biển quy hoạch lại vùng nuôi trồng thủy sản, trồng rừng phòng hộ gắn với du lịch. Đặc biệt, đối với các xã miền núi cần tập trung rà soát lại quy hoạch bố trí dân cư gắn với phát triển sản xuất cho phù hợp với từng điểm dân cư để thuận lợi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư cho miền núi; thực hiện tốt giao đất, giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng để phát triển kinh tế rừng.
Xây dựng hệ thống nền tảng cơ sở dữ liệu nông nghiệp nhằm thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực của ngành nông nghiệp. Hệ thống dữ liệu nông nghiệp bao gồm dữ liệu về đất đai, cây trồng, vật nuôi, vùng canh tác, người sản xuất, lượng nông sản, dịch vụ và số hóa các văn bản hành chính của Bộ, ngành Nông nghiệp từ trung ương đến địa phương. Đây là vấn đề rất quan trọng trong việc chuyển đổi số ngành nông nghiệp, dữ liệu dùng chung sẽ cung cấp kịp thời thông tin về thời tiết, khí hậu, tình hình sản xuất, thị trường, khoa học công nghệ, chính sách, pháp luật để phục vụ người dân và doanh nghiệp; tập trung việc đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện cải cách hành chính.
Một trong các mục tiêu cụ thể trong chuyển đổi số nông nghiệp là 100% các cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng tham gia mở dữ liệu và cung cấp dữ liệu mở phục vụ chuyển đổi số của trung ương, thành phố và của ngành; trên 50% số hộ nông dân được tiếp cận với các dịch vụ số, dữ liệu số ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Do đó, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu là một nhiệm vụ trọng tâm.
Mục tiêu cần hình thành một hệ thống/trung tâm lưu trữ, tích hợp, chia sẽ dữ liệu dùng chung; là hợp phần trong chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh thành phố Hải Phòng; được chia sẻ, kết nối, đồng bộ với hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia trong ngành nông nghiệp, hệ thống cơ sở dữ liệu của thành phố, các hệ thống cơ sở dữ liệu khác (khi cần), đồng thời tạo nguồn dữ liệu mở cho các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng. Trong đó có số hóa hồ sơ tài liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu ngành Nông nghiệp và môi trường thành phố Hải Phòng; xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu cho nông sản thành phố Hải Phòng; xây dựng trung tâm lưu trữ, tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn; mô hình ứng dụng công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái trong quản lý, giám sát hoạt động sản xuất trồng trọt; diễn biến rừng; các công trình đê điều, thủy lợi trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trong trồng trọt và bảo vệ thực vật, cần tiến hành xây dựng dữ liệu và quản lý các vùng trồng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong trồng trọt; số hóa các quy trình, nghiệp vụ và cung cấp dữ liệu, dịch vụ số hỗ trợ người dân, doanh nghiệp; theo dõi diễn biến tình hình sản xuất, thời tiết, khí hậu, sinh vật gây hại trên cây trồng. Đối với chăn nuôi và thú y, sẽ xây dựng dữ liệu và quản lý các vùng chăn nuôi, cơ sở chăn nuôi, giết mổ động vật, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong chăn nuôi; theo dõi diễn biến tình hình chăn nuôi, dịch bệnh trên đàn vật nuôi, giết mổ và vận chuyển động vật, sản phẩm động vật; số hóa các quy trình, nghiệp vụ và cung cấp dữ liệu, dịch vụ số hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực thủy – hải sản, xây dựng dữ liệu và quản lý các vùng nuôi thủy sản, khu vực biển nuôi thủy sản, ngư trường khai thác thủy sản, khu bảo tồn nguồn lợi, khu vực cần bảo vệ nguồn lợi; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong thủy sản; các tàu cá, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão…; theo dõi diễn biến tình hình sản xuất, thời tiết, khí hậu, diễn biến môi trường sản xuất trong thủy sản; số hóa các quy trình, nghiệp vụ và cung cấp dữ liệu, dịch vụ số hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, viễn thám, cảm biến, nano, tự động hóa trong nuôi trồng thủy sản, quản lý môi trường ao nuôi, thu hoạch và bảo quản sản phẩm, dự báo và tìm kiếm ngư trường khai thác thủy sản. Triển khai nhật ký, báo cáo khai thác thủy sản, giám sát sản lượng, truy xuất sản phẩm thủy sản trên phương tiện điện tử; quản lý tàu cá bằng thiết bị giám sát hành trình, viễn thám; chuyển đổi số trong quản lý, điều hành, giám sát các hoạt động tại cảng cá.
Đối với lâm nghiệp, sẽ xây dựng dữ liệu và quản lý diện tích rừng, đất rừng, động vật rừng, lâm sản, giám sát tài nguyên đa dạng sinh học, môi trường rừng; ứng dụng công nghệ viễn thám, trí tuệ nhân tạo, thiết bị thông minh trong cập nhật diễn biến rừng, giám sát phòng và chữa cháy rừng, dự báo nguy cơ mất rừng và suy thoái rừng. Khuyến khích các tổ chức, các nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc giống và lâm sản, chuyển đổi số trong quản lý rừng trồng, phát triển kinh tế rừng và chế biến lâm sản.
Trong công tác thủy lợi, phòng phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn bảo đảm chính xác, kịp thời, hiệu quả, sẽ xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu và quản lý các công trình đê điều, thủy lợi và phòng chống thiên tai; hành lang bảo vệ các công trình về đê điều, thủy lợi; thông tin, dữ liệu về khí hậu và thủy văn, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học; thiết lập mạng lưới quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo phục vụ công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn…
Xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ số vào phát triển các lĩnh vực trong nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích các tổ chức, cá nhân phân phối, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua các sàn thương mại điện tử…
3.3. Nhóm các giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành
Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền các cấp trong việc tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và chuyển giao các mô hình hỗ trợ nông dân chuyển đổi số. Tham mưu phát triển Quỹ Hỗ trợ Nông dân với việc điều chỉnh quy mô, hình thức phù hợp hỗ trợ các mô hình, dự án, hoạt động chuyển đổi số trong nông nghiệp. Phối hợp với các doanh nghiệp, đơn vị được cấp phép (Viettel Pay, VNPT Pay, Momo…) triển khai các loại hình tài chính số hỗ trợ nông dân, như: cho vay ngân hàng, thanh toán không tiền mặt, Mobile money.
Xây dựng và triển khai ứng dụng di động (App Store, Google Play) hỗ trợ chuyển đổi nông dân số. Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, như: nền tảng AutoAgri, các sàn thương mại điện tử (Postmart, Shopee, Sendo, Lazada, Voso.vn), giải pháp nông nghiệp thông minh (như ONE Farm của VNPT)… triển khai các mô hình hỗ trợ nông dân chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số trong tự động hóa sản xuất, kết nối thị trường và tiêu thụ sản phẩm, thuê mua vật tư nông nghiệp… Các cấp hội cần phối hợp triển khai sáng kiến “Mỗi nông dân là một thương nhân, mỗi hợp tác xã là một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số”.
Đẩy mạnh công tác tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nông nghiệp; chủ động kết nối, hợp tác, chia sẻ, cung cấp thông tin với các tỉnh, thành trong cả nước; tăng cường hợp tác với các viện, trường đại học để có sự hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao các đối tượng sản xuất mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ số trong nông nghiệp.
Các sở, ban, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển nông nghiệp. Tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về chuyển đổi số, chuyển đổi số trong nông nghiệp cho cán bộ Hội Nông dân các cấp; cán bộ, cộng tác viên các Trung tâm hỗ trợ nông dân, Trung tâm Hỗ trợ Nông dân và Giáo dục nghề nghiệp. Phối hợp với các tổ chức xã hội, như: Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội Nông nghiệp số, Hội Nông nghiệp tuần hoàn xây dựng và triển khai các mô hình liên kết ứng dụng công nghệ số sản xuất nông nghiệp, liên kết chuỗi giá trị, công nghiệp chế biến và dịch vụ hậu cần hỗ trợ nông nghiệp… trong các trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ liên kết, chi hội nông dân nghề nghiệp, tổ hội nông dân nghề nghiệp. Xây dựng cụ thể các mô hình hỗ trợ chuyển đổi số cho nông dân trong chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của các cơ sở Hội (các mô hình ứng dụng công nghệ IoT, Blockchain, công nghệ sinh học, chuyển đổi canh tác nông nghiệp dựa trên dữ liệu, công nghệ tự động hóa…).
4. Kết luận
Chuyển đổi số để phát triển lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp ở thành phố Hải Phòng thời gian vừa qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về nhận thức, hành động của các tổ chức, lực lượng, đặc biệt là người dân. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Thành phố, chuyển đổi số ở một số lĩnh vực trong nông nghiệp còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, hội nhập quốc tế, việc xác định những giải pháp về nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách, cơ sở hạ tầng, sự phối hợp của các tổ chức, lực lượng có liên quan có ý nghĩa quan trọng đưa nghị quyết của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào thực tiễn cuộc sống; tạo cơ sở, tiền đề vững chắc cho nông nghiệp phát triển nhanh, ổn định và bền vững, thật sự là trụ đỡ, bệ phóng cho công nghiệp, dịch vụ phát triển, xây dựng thành phố Hải Phòng có quy mô kinh tế lớn, hiện đại và bền vững, đóng vai trò là cực tăng trưởng của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Đảng bộ thành phố Hải Phòng (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
4. Nguyễn Thế Kiên – Trần Quý (2023). Chuyển đổi số để phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng đa chức năng, kinh tế tuần hoàn. Tạp chí Cộng sản, ngày 15/6/2023.
5. Phùng Xuân (2025). Chuyển đổi số trong nông nghiệp: “Chìa khóa vàng” để hợp tác xã Việt Nam bước vào nền kinh tế số. https://kinhtedothi.vn, ngày 29/10/2025.



