PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải
Trường Đại học Thành Đô
(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế tư nhân đã và đang khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trong bối cảnh biến động của địa chính trị toàn cầu, sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu chuyển đổi xanh, vai trò “bà đỡ” của Nhà nước càng trở nên quan trọng. Bài viết phân tích về kinh tế tư nhân Việt Nam để thấy được sự cần thiết phải tạo động lực về thể chế, vốn và công nghệ cho kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay. Từ đó, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ khóa: Kinh tế tư nhân; kinh tế tư nhân Việt Nam; tạo động lực của Nhà nước; phát triển bền vững; cạnh tranh quốc gia.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình đổi mới, tư duy về kinh tế tư nhân đã có những bước tiến vượt bậc. Từ chỗ không được thừa nhận trong nền kinh tế, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng 950 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp hơn 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% số lao động cả nước vào tăng trưởng kinh tế; là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới1.
Tuy nhiên, quy mô của đa số doanh nghiệp tư nhân vẫn là nhỏ và vừa (SMEs), thậm chí là siêu nhỏ, với năng suất lao động thấp và khả năng chống chịu yếu trước các cú sốc bên ngoài như Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị nhận định: “…phần lớn có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao; tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Điều này đã đặt ra những thách thức mới cho phát triển kinh tế tư nhân, như: cuộc cách mạng chuyển đổi số tạo sức ép buộc doanh nghiệp phải thay đổi mô hình sản xuất – kinh doanh; cam kết Net Zero theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đưa ra tại COP26, đòi hỏi các doanh nghiệp tư nhân phải chấp hành chi phí tuân thủ môi trường cao và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu từ Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ… Trước tình hình này, Nhà nước phải tham gia không chỉ với vai trò quản lý vĩ mô mà phải chuyển nhanh sang vai trò kiến tạo phát triển, tạo ra những động lực mạnh để giải phóng nguồn lực trong dân cho tăng trưởng kinh tế.
2. Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế tư nhân là thuật ngữ dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Xét về mặt kinh tế học, kinh tế tư nhân là một thành phần thuộc cơ cấu của nền kinh tế, luôn tồn tại mang tính tất yếu, không phụ thuộc vào trình độ phát triển của quốc gia và được hình thành, phát triển dựa trên sở hữu của tư nhân về tư liệu sản xuất cũng như lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, quy mô và tính chất của các thành phần kinh tế này cũng không đồng nhất, trong khi kinh tế cá thể, tiểu chủ đều dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất song nguồn thu nhập của kinh tế cá thể chỉ dựa vào lao động và vốn của bản thân hay gia đình, còn kinh tế tiểu chủ có thể thuê mướn thêm lao động. Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ tư hữu tư bản (vốn, tư liệu sản xuất) và thuê mướn lao động hoàn toàn. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư bản tư nhân luôn năng động, nhạy bén với các cơ chế kinh tế, do vậy, sẽ có những đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp là động lực chủ sở hữu, đây là nguồn sức mạnh lớn nhất của kinh tế tư nhân, giúp khu vực này năng động, sáng tạo và có trách nhiệm cao. Doanh nghiệp tư nhân có chủ sở hữu trực tiếp, người này chịu trách nhiệm toàn bộ và hưởng lợi trực tiếp từ mọi quyết định kinh doanh, do đó luôn tìm cách tối ưu hóa chi phí, nâng cao hiệu suất và đổi mới liên tục. Doanh nghiệp nhà nước thường bị ràng buộc bởi các quy trình quản lý hành chính quan liêu, làm giảm khả năng ra quyết định kịp thời và thích ứng với thị trường, trong khi doanh nghiệp tư nhân có thể linh hoạt điều chỉnh chiến lược kinh doanh theo nhu cầu thực tế. Nhất là, chủ đầu tư các doanh nghiệp tư nhân chịu áp lực lớn từ thị trường và rủi ro thua lỗ, buộc họ phải dấn thân vào quản trị hiệu quả.
Về hình thức thể hiện, kinh tế tư nhân là các cơ sở sản xuất – kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất, tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể… Dù tồn tại dưới hình thức nào thì kinh tế tư nhân cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận.
Trên thế giới, không một quốc gia nào đạt được thịnh vượng mà thiếu đi một khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ. Ở các nền kinh tế đang phát triển, khu vực tư nhân là “động cơ” chính của nền kinh tế, tạo ra 90% việc làm, đóng góp tới 75% tổng đầu tư và khoảng 70% GDP của nền kinh tế. Chưa kể các quốc gia thuộc OECD, khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo trong tạo việc làm và GDP, là nguồn gốc của hầu hết các sáng kiến đổi mới sáng tạo2. Hiện tại ở Trung quốc, công ty tư nhân chiếm 92% tổng số doanh nghiệp tại nền kinh tế thứ hai thế giới. Số này đóng góp 50% ngân sách, hơn 60% GDP, 70% đổi mới công nghệ, 90% tăng trưởng xuất khẩu và 80% việc làm nơi thành thị của nước này. Năm 2021, số lượng doanh nghiệp tư nhân thành lập mới đã lên tới 8,525 triệu, tăng 11,7% so với năm 2020. Hàn Quốc với các tập đoàn tư nhân lớn như Samsung, Hyundai, LG đã vươn lên trở thành cường quốc kinh tế nhờ động lực chủ sở hữu. Tại Mỹ, các công ty tư nhân như Apple, Google, Amazon liên tục đổi mới, mở rộng thị trường và tạo ra giá trị kinh tế cao3.
3. Kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp nên kinh tế cá thể, tiểu chủ giữ vị trí quan trọng, lâu dài trong nhiều ngành nghề và ở khắp các địa phương trong cả nước. Ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thành phần này còn đóng vai trò đáng kể để phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hóa các hoạt động kinh tế, khai thác mọi nguồn vốn, giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội khác. Từ chỗ là một thành phần kinh tế yếu thế, bị kỳ thị, đến nay, kinh tế tư nhân Việt nam được xác định “làmột động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững”4.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm từ năm 1986 đến nay, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) đặt mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, mở đường cho các giải pháp toàn diện để khơi thông điểm nghẽn trong môi trường kinh doanh, bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh doanh nghiệp tư nhân. Tăng cường hợp tác giữa khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác, khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Phấn đấu đến năm 2030, khu kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, để có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, với đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP đạt khoảng 58% và tạo nhiều việc làm cho lao động như Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định5.
Với những động lực trực tiếp và môi trường thuận lợi do Đảng, Nhà nước tạo ra, kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển vượt bậc. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kém hiệu quả, với thu nhập bình quân đầu người chỉ có 96 USD vào năm 1989, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ đạt mức 5.026 USD năm 2025. Dự kiến năm 2026, sẽ bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, tương đương mức trên 5.500 USD/ người/năm6.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn cao gấp đôi mức trung bình của các quốc gia đang phát triển, bất chấp những biến động kinh tế toàn cầu. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ quốc tế, Việt Nam đã không ngừng bứt phá mạnh mẽ để trở thành nền kinh tế lớn thứ 24 thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP). Những thành tựu đạt được không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn bao gồm những tiến bộ to lớn về xã hội, góp phần mang lại đời sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. So sánh trong giai đoạn đầu đổi mới, kinh tế tư nhân chỉ giữ vai trò thứ yếu, nền kinh tế chủ yếu dựa vào khu vực nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thì trong hai thập niên trở lại đây, nhất là từ khi có Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/12/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Nghị quyết số 10-NQ/TW, khu vực kinh tế này đã thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của nền kinh tế và ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội7.
Kinh tế tư nhân không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Thực tế này cho thấy, nếu có môi trường phát triển thuận lợi, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới.
Theo số liệu của Cục Thống kê và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến đầu năm 2025, cả nước có trên 940.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động cùng hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Khu vực này đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và thu hút khoảng 82% lực lượng lao động cả nước8. Nhiều thương hiệu Việt đã hình thành và khẳng định tên tuổi trên thị trường khu vực, toàn cầu, như: Vinamilk, Vingroup/VinFast, Thaco, Vietjet, Masan… Những doanh nghiệp tư nhân tiên phong này vừa tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, vừa mang hình ảnh một Việt Nam đổi mới, năng động ra thế giới. Điều đó chứng tỏ khu vực tư nhân càng phát triển thì nền kinh tế càng năng động, sáng tạo, khả năng chống chịu và thích ứng càng cao và đã trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.
Những thành tựu phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian qua cho thấy nhiều ấn tượng sâu sắc, tuy nhiên, tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn còn chậm so với kỳ vọng. Mặc dù chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng mức tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn thấp hơn mức tăng trung bình của giai đoạn trước đại dịch Covid-19 (15%). Năm 2025, có khoảng 275,6 nghìn DNTN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, nhưng cũng có gần 205,4 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động, rút khỏi thị trường, tăng 18,6% so năm trước9.
Năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng (khoảng 166 tỷ USD) tăng 12,1% so với năm trước, trong đó khu vực nhà nước đạt 1.233,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7%;khu vực doanh nghiệp tư nhân đạt 2.237,1 nghìn tỷ đồng triệu tỷ đồng, chiếm 54%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 679 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,3%10.
Tuy vậy, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, bởi các doanh nghiệp này chủ yếu là vừa và nhỏ, năng suất và năng lực cạnh tranh thấp. Số liệu thống kê cho thấy, có tới 62,5% số doanh nghiệp có quy mô dưới 5 lao động; 18,6% doanh nghiệp có quy mô từ 5 – 9 lao động; 15,3% doanh nghiệp có quy mô từ 10 – 49 lao động, chỉ có 0,63% doanh nghiệp có quy mô từ 300 lao động trở lên. Nhiều doanh nghiệp tư nhân, nhất là các hộ kinh doanh không “chịu lớn” theo xu thế phát triển vì còn e ngại rủi ro, khó khăn trong việc tiếp cận vốn và nguồn lực, cũng như sự phức tạp trong quản lý khi quy mô lớn hơn.
Kết quả đóng góp vào GDP của nền kinh tế chỉ xoay quanh mốc 50% (từ 47,2% năm 2005, đến 50% năm 2011 và 51,8% năm 2024). Xét trên góc độ hiệu quả vốn sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân cần 1,61 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần, trong khi khối doanh nghiệp FDI là 1,03 đồng.
Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành kinh tế không hợp lý như số doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ chiếm tới 66,8% trong tổng số doanh nghiệp của toàn nền kinh tế. Trong khu vực dịch vụ, số doanh nghiệp hoạt động ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và có động cơ khác chiếm trên 50%. Sự bất hợp lý về cơ cấu doanh nghiệp là rào cản rất lớn đối với xây dựng và phát triển mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu11.
4. Những động lực cần cho kinh tế tư nhân Việt Nam
Động lực cho kinh tế tư nhân phát triển không phải là một lực đẩy đơn lẻ mà là kết quả tương tác của một hệ sinh thái cộng sinh, bao gồm: Nhà nước, các doanh nghiệp kinh tế tư nhân, hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các định chế tài chính và quỹ đầu tư, người tiêu dùng và thị trường…Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và làm trung tâm điều phối để các chủ thể khác tương tác hiệu quả, giảm thiểu xung đột lợi ích và tối đa hóa nguồn lực quốc gia.
Nhà nước tạo động lực cho kinh tế tư nhân thông qua các trụ cột chính sau đây:
4.1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý
Việc hoàn thiện khung khổ pháp lý là “viên gạch đầu tiên” và quan trọng nhất trong lộ trình Nhà nước kiến tạo động lực cho kinh tế tư nhân. Trong nghiên cứu khoa học về kinh tế chính trị, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý không chỉ là hoạt động quản lý hành chính đơn thuần mà được coi là hình thức hỗ trợ nền tảng quan trọng nhất đối với kinh tế tư nhân. Khi khung khổ pháp lý rõ ràng và nghiêm minh, các nhà đầu tư tư nhân sẽ được bảo đảm về tài sản, lợi nhuận và thành quả lao động. Một hệ thống pháp luật ổn định, nhất quán, giúp doanh nghiệp dự báo chính xác và tính toán được chi phí, lợi nhuận trong tương lai.
Khi khung khổ pháp lý về thị trường chứng khoán, trái phiếu và các quỹ đầu tư hoàn thiện sẽ làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế “thừa tiền, thiếu vốn” do người dân tự tin bỏ vốn vào sản xuất – kinh doanh thay vì tích trữ (vàng hay ngoại tệ). Nếu pháp luật về cạnh tranh và đấu thầu được hoàn thiện sẽ giúp xóa bỏ các đặc quyền dành cho doanh nghiệp nhà nước, tạo một “sân chơi phẳng”. Việc Nhà nước sớm hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) chính là mở đường cho sáng tạo, hỗ trợ để doanh nghiệp tư nhân được phép hoạt động hợp pháp, tránh tình trạng “vừa làm vừa sợ” vi phạm pháp luật.
Như vậy, việc hoàn thiện thể chế pháp lý là loại hàng hóa công cộng đặc biệt mà Nhà nước cung cấp cho doanh nghiệp. Nếu các gói hỗ trợ tiền mặt chỉ là “con cá” có tính thời điểm thì khung khổ pháp lý hoàn thiện chính là “chiếc cần câu” bền vững, giúp kinh tế tư nhân tự vận động và phát triển theo các quy luật của thị trường.
4.2. Hỗ trợ tiếp cận nguồn lực
Việc hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực sản xuất là một trong những vai trò “kiến tạo” quan trọng nhất của Nhà nước. Trong bối cảnh hiện nay, các nguồn lực không chỉ dừng lại ở đất đai, vốn mà còn mở rộng ra công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao… và ngày càng trở nên khan hiếm, khó tiếp cận. Vì vậy, cần sự hỗ trợ của Nhà nước để phân bổ các nguồn lực sao cho công bằng, hiệu quả, nhất là đối với khối tư nhân. Chẳng hạn, khi các ngân hàng thương mại ngại cho doanh nghiệp tư nhân vay vốn vì thiếu thông tin về năng lực tài chính thì Nhà nước phải đứng ra hỗ trợ. Các nguồn lực như hạ tầng giao thông, mạng lưới điện hay hệ thống dữ liệu quốc gia đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ mà một doanh nghiệp tư nhân đơn lẻ không thể tự làm nên cần phải được Nhà nước hỗ trợ.
Hiện nay, kinh tế tư nhân thu hút hơn 82% lực lượng lao động xã hội, nên Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn lực để phát triển chính là giải pháp bền vững nhất để tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội. Đồng thời, thông qua việc hỗ trợ nguồn lực cho kinh tế tư nhân là cách để xây dựng một “nền kinh tế tự chủ”, nơi các doanh nghiệp Việt nắm giữ những khâu then chốt của chuỗi giá trị.
Việc Nhà nước hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực phát triển thể hiện vai trò kiến tạo và điều chỉnh nhằm khơi thông những điểm nghẽn, giúp các nguồn lực quốc gia chảy vào khu vực có hiệu suất sử dụng cao nhất, từ đó tạo ra động lực tăng trưởng thực chất cho nền kinh tế.
4.3. Giảm thiểu chi phí tuân thủ
Trong nghiên cứu kinh tế và quản lý công, chi phí tuân thủ không chỉ là những con số trên sổ sách kế toán mà còn là “thuế ẩn” bào mòn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc Nhà nước giúp giảm thiểu loại chi phí này được coi là một hình thức hỗ trợ thiết thực cho kinh tế tư nhân phát triển. Khi thủ tục đơn giản, doanh nghiệp giảm thiểu cả chi phí hữu hình và vô hình (không phải thuê thêm nhân sự chuyên làm thủ tục hành chính hay không phải trả phí tư vấn pháp lý phức tạp hay các khoản “phí bôi trơn”). Khoản này sẽ chuyển hướng sang đầu tư vào công nghệ, nâng cấp máy móc hoặc mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời, giúp doanh nghiệp tập trung vào giá trị cốt lõi, sáng tạo, quản trị và tìm kiếm khách hàng. Ngoài ra, giảm chi phí tuân thủ cũng làm giảm rủi ro pháp lý, tăng niềm tin đầu tư và hạn chế tham nhũng, giúp doanh nghiệp tư nhân cảm thấy an toàn hơn, dám đầu tư dài hạn thay vì chỉ kinh doanh kiểu “chụp giật”, ngắn hạn.
Như vậy, giảm chi phí tuân thủ giống như một loại “trợ cấp gián tiếp” nhưng có hiệu quả cao hơn cả trợ cấp trực tiếp bằng tiền. Nó không những không tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn làm trong sạch bộ máy quản lý công quyền và kích thích sự sáng tạo của doanh nghiệp. Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của mô hình “Nhà nước kiến tạo” – không làm thay doanh nghiệp mà dọn đường cho doanh nghiệp phát triển.
4.4. Định hướng và dẫn dắt
Theo đó, đưa kinh tế tư nhân đi vào các ngành, lĩnh vực kinh tế mới có giá trị gia tăng cao và phù hợp với xu thế phát triển, như: kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế xanh … Trong lý thuyết về Nhà nước kiến tạo, vai trò “định hướng và dẫn dắt” có nghĩa là Nhà nước xác định tầm nhìn và tạo ra các tín hiệu để kinh tế tư nhân đi đúng quỹ đạo phát triển chung của quốc gia. Do doanh nghiệp tư nhân thường có xu hướng chạy theo lợi nhuận ngắn hạn hoặc đầu tư vào các ngành có tốc độ quay vòng vốn nhanh, nên khi có định hướng bằng các chiến lược quốc gia, doanh nghiệp sẽ biết đâu là lĩnh vực được ưu tiên, ưu đãi trong 10 – 20 năm tới.
Sự dẫn dắt của Nhà nước sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt sự mơ hồ về tương lai, hỗ trợ ra quyết định chiến lược, tự tin đầu tư vào các dự án lớn, đòi hỏi công nghệ cao và thời gian thu hồi vốn dài. Nhà nước dẫn dắt bằng quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng (như: trạm sạc xe điện, hạ tầng dữ liệu, sân bay, bến cảng); bằng đơn đặt hàng (với vai trò là “khách hàng lớn” đầu tiên), bằng các cơ chế ưu đãi thuế và phí để doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực có giá trị chung cho cộng đồng như: giáo dục, y tế, năng lượng tái tạo…, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí, ngăn chặn tình trạng “đám đông” cùng đổ xô vào một ngành (như bất động sản hay tiền ảo). Đồng thời, kết nối và hình thành chuỗi giá trị thông qua xây dựng hệ sinh thái kinh tế để vừa có được chuỗi cung ứng, vừa nâng tầm thương hiệu quốc gia.
Sự dẫn dắt của Nhà nước chính là “ngọn hải đăng” giúp con thuyền kinh tế tư nhân không bị lạc hướng giữa “sóng gió toàn cầu”. Đây là hình thức hỗ trợ thiết thực ở tầm vĩ mô, giúp doanh nghiệp không chỉ phát triển về số lượng mà còn nâng tầm về chất lượng và sức cạnh tranh.
5. Giải pháp đột phá tạo động lực cho kinh tế tư nhân
Thứ nhất, đột phá về tư duy và thể chế là giải pháp quan trọng nhất, đóng vai trò mở đường cho mọi giải pháp khác. Đột phá về tư duy thực chất là chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo và phục vụ nhằm củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Chấp nhận sự khác biệt và đa dạng của kinh tế tư nhân, coi thành công của doanh nghiệp là thành công của Nhà nước, lấy tư duy “chọn bỏ” thay tư duy “chọn cho” để doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm và chấp nhận những mô hình kinh doanh chưa có tiền lệ thay vì không quản được thì cấm.
Đột phá về thể chế để tạo dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản tuyệt đối, xác lập cơ chế thử nghiệm chính sách, thực hiện các cam kết quốc tế… Đồng thời, đột phá trong tổ chức thực thi chính sách thông qua việc gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu chính quyền địa phương (cấp tỉnh và cấp xã) với mức độ phát triển của kinh tế tư nhân tại địa bàn. Tăng cường phân cấp, phân quyền và tự quản cộng đồng để địa phương chủ động thí điểm các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân đặc thù, không phải chờ xin ý kiến bộ ngành trung ương. Tách bạch vai trò quản lý nhà nước với chủ sở hữu tại các doanh nghiệp nhà nước để chấm dứt tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” và ngăn ngừa hiệu quả các tập đoàn lớn lấn lướt bóp nghẹt các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ hai, khơi thông nguồn vốn và tín dụng là giải pháp cấp bách nhằm giải quyết cơn khát vốn kinh niên của kinh tế tư nhân, nhất là trong bối cảnh đang thực hiện chuyển dịch từ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sang thị trường vốn đa dạng. Nâng cao hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng để Nhà nước thực sự “chia sẻ rủi ro” với ngân hàng khi cho doanh nghiệp tư nhân vay vốn. Xây dựng gói tín dụng chuyên biệt để ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực xanh, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ…
Phát triển thị trường vốn phi ngân hàng (cổ phiếu, trái phiếu) để thoát khỏi sự phụ thuộc quá mức vào vốn vay ngân hàng. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân có năng lực, các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư tư nhân tham gia vào thị trường Việt Nam. Hỗ trợ các nền tảng số giúp doanh nghiệp tư nhân có thể thế chấp bằng hóa đơn điện tử hoặc hợp đồng kinh tế để vay vốn lưu động nhanh chóng. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chuỗi cung ứng của FDI để họ dễ dàng được các ngân hàng quốc tế tài trợ vốn nhờ có hợp đồng bảo đảm từ các tập đoàn lớn. Nhà nước chủ động khơi thông nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư vào sản xuất – kinh doanh. Khi môi trường kinh doanh minh bạch và quyền sở hữu được bảo vệ, người dân sẽ tự tin huy động vốn thành lập doanh nghiệp hoặc đầu tư vào các dự án sản xuất thay vì chỉ đầu cơ bất động sản.
Việc khơi thông nguồn vốn không chỉ là hạ lãi suất, mà là đa dạng hóa kênh tiếp cận. Khi doanh nghiệp tư nhân có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, họ sẽ thoát khỏi áp lực nợ vay và tập trung vào đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thông qua việc Nhà nước đặt hàng doanh nghiệp tư nhân thực hiện các dự án công nghệ lớn của quốc gia hay ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao nhất cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Việc Nhà nước đóng vai trò là “khách hàng lớn nhất” thông qua cơ chế đặt hàng không chỉ tạo ra dòng tiền mà còn là “bảo chứng” quan trọng nhất để doanh nghiệp tư nhân tự tin dồn lực đầu tư vào công nghệ cao. Khi doanh nghiệp này đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra, Nhà nước cam kết mua lại hoặc sử dụng dịch vụ đó trong thời hạn dài (từ 5-15 năm); đối với các dự án chưa có tiền lệ, Nhà nước áp dụng cơ chế Sandbox, như: đặt hàng thí điểm hay hỗ trợ hạ tầng dùng chung… Làm như vậy, doanh nghiệp vẫn có thị trường tiêu thụ chắc chắn để tái đầu tư vào R&D, thoát khỏi bẫy gia công, Nhà nước vẫn sở hữu các hệ thống công nghệ mang tính tự chủ, bảo mật cao và tối ưu hóa ngân sách thông qua hiệu quả của khu vực tư nhân.
Thứ tư, xây dựng các “sếu đầu đàn” tư nhân bằng cách lựa chọn và hỗ trợ một số tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực để hình thành các chuỗi giá trị do người Việt làm chủ, từ đó kéo theo các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa (SMEs) tham gia vào hệ sinh thái. Từ đó, Nhà nước định hướng mục tiêu cụ thể cho các tập đoàn lớn có tiềm lực, như: Vingroup, Thaco, FPT… tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao, như: bán dẫn, xe điện, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học và AI… Đồng thời, Nhà nước cung cấp ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế… để đổi lại những cam kết cụ thể về tỷ lệ nội địa hóa và số lượng SMEs Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của tập đoàn đó…
Để tránh tình trạng “ưu ái độc quyền”, Nhà nước cần duy trì cơ chế đấu thầu công khai giữa các tập đoàn tư nhân để chọn ra đơn vị xứng đáng nhất, đồng thời có cơ chế giám sát chặt chẽ việc tập đoàn lớn có thực sự hỗ trợ SMEs hay chỉ lợi dụng chính sách.
Thứ năm, nâng tầm nguồn nhân lực và quản trị cho kinh tế tư nhân. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ theo mô hình “Kiến tạo – Đồng hành – Chuyên nghiệp hóa”. Trong bối cảnh mới, trọng tâm không chỉ là đào tạo kỹ năng mà cần thay đổi toàn diện tư duy quản trị để thích ứng với kỷ nguyên số và xanh. Để hiện đại hóa năng lực quản trị doanh nghiệp tư nhân theo chuẩn quốc tế, với sự hỗ trợ ngân sách nhà nước để mời chuyên gia quốc tế đào tạo Giám đốc điều hành của doanh nghiệp tư nhân (CEO) về quản trị dựa trên dữ liệu, tư duy đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro. Hỗ trợ phí tư vấn cho doanh nghiệp áp dụng các bộ chỉ số, như: môi trường – xã hội – quản trị, quản lý chất lượng thế hệ mới, và các mô hình quản trị tinh gọn. Xây dựng hệ thống cố vấn giữa các doanh nhân thành đạt, các CEO tập đoàn lớn với các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và thực thi để làm chủ công nghệ mới thông qua hợp tác công – tư trong giáo dục nghề nghiệp, thúc đẩy kỹ năng số, đào tạo kỹ năng xanh…
Xây dựng thị trường lao động linh hoạt và hiện đại để lao động Việt Nam có thể tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Sử dụng Big Data để dự báo nhu cầu nhân lực theo từng ngành nghề, giúp doanh nghiệp tư nhân chủ động kế hoạch tuyển dụng và đào tạo; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chính sách đãi ngộ, visa ưu tiên cho chuyên gia nước ngoài hoặc người Việt ở nước ngoài về làm việc tại các vị trí quản trị cấp cao. Xây dựng các cơ chế hỗ trợ về tài chính như khấu trừ thuế cho chi phí R&D và Đào tạo, hỗ trợ quỹ đổi mới nhân lực, cấp voucher đào tạo…
Chú thích:
1. Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Văn Trọng (2025). Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam – Rào cản và giải pháp. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và phát triển, số 3/2025.
2. Phát triển kinh tế tư nhân: Bước đột phá để trở thành một động lực quan trọng nhất. https://vneconomy.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-buoc-dot-pha.htm
3, 7, 8. Phát triển kinh tế tư nhân: Còn nhiều rào cản, chi phí tuân thủ đang quá lớn. https://tuoitre.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-rao-can-chi-phi-lon-2025.htm
4, 5. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
6. Pháp luật về tài chính nhà nước. https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/tai-chinh-nha-nuoc, truy cập ngày 09/01/2026.
9. Cả nước có 275,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/ca-nuoc-co-2756-nghin-doanh-nghiep-dang-ky-thanh-lap-moi-va-quay-tro-lai-hoat-dong-188253.html
10. Kinh tế tư nhân: Thực trạng và giải pháp. https://congso.thongke.gov.vn/kinh-te-tu-nhan-thuc-trang-va-giai-phap
11. Phát triển kinh tế tư nhân – đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://baochinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-viet-nam-thinh-vuong-102240317105038923.htm
Tài liệu tham khảo:
1.Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Chính phủ (2023). Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 31/3/2023 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017.
4. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 20/5/2025 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
5. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 ban hành Kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
6. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.



