Thực trạng và giải pháp thực thi chính sách an sinh xã hội tại TP. Hồ Chí Minh

Hồ Diệu Mai
NCS Trường Đại học Kinh tế Luật,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, quy mô dân số lớn và cơ cấu lao động đa dạng, chính sách an sinh xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm ổn định xã hội và phát triển bền vững của TP. Hồ Chí Minh. Giai đoạn 2020 – 2025, dưới tác động của đại dịch Covid-19, biến động thị trường lao động và yêu cầu phục hồi kinh tế – xã hội, hệ thống chính sách an sinh xã hội của Thành phố đã được triển khai đồng bộ theo các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước; đồng thời, có nhiều cơ chế, giải pháp đặc thù phù hợp với tính chất của một đô thị đặc biệt. Từ thực tiễn việc sắp xếp, mở rộng đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong giai đoạn hiện nay cũng đặt ra những yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội. Bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2026 – 2030, góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững trong bối cảnh phát triển mới của Thành phố.

Từ khóa: Bảo đảm an sinh xã hội; yêu cầu mới; thực trạng và giải pháp; TP. Hồ Chí Minh.

1. Chủ trương, chính sách, chỉ đạo của TP. Hồ Chí Minh về an sinh xã hội giai đoạn 2020 – 2025

TP. Hồ Chí Minh luôn xác định an sinh xã hội là một trong những trụ cột chiến lược của công tác phát triển kinh tế – xã hội, phù hợp với đặc thù đô thị lớn, đông dân cư và lực lượng lao động đa dạng. Điều này được thể hiện cụ thể qua các nghị quyết, quyết định và kế hoạch triển khai của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) TP. Hồ Chí Minh, phản ánh quan điểm lãnh đạo của Thành phố về bảo đảm đời sống cơ bản cho người dân, hỗ trợ các nhóm yếu thế, mở rộng bao phủ chính sách và tổ chức thực hiện linh hoạt trong bối cảnh dịch bệnh và đô thị hóa.

Một trong những chủ trương trọng tâm là giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận đa chiều, gắn kết với tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, ngày 09/12/2020, HĐND Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 13/2020/NQ-HĐND về “Chương trình Giảm nghèo bền vững TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025”, trong đó xác lập chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều, bao gồm: y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở… và giao UBND Thành phố tổ chức thực hiện. Nghị quyết này không chỉ đặt mục tiêu giảm nghèo về thu nhập mà còn nhấn mạnh “giảm nghèo bền vững”, nghĩa là tiếp cận toàn diện các điều kiện sống và dịch vụ xã hội của hộ nghèo/cận nghèo.

Trên cơ sở nghị quyết đó, UBND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành kế hoạch triển khai và hướng dẫn tổ chức thực hiện, trong đó giao Sở Lao động – Thương binh và Xã hội làm cơ quan thường trực, xây dựng công cụ quản lý và quy trình kiểm tra định kỳ nhằm bảo đảm chuẩn nghèo đa chiều được áp dụng thống nhất trên địa bàn Thành phố.

Bên cạnh chính sách giảm nghèo, TP. Hồ Chí Minh đã điều chỉnh và cập nhật chính sách trợ giúp xã hội, thể hiện ở Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 của HĐND về quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, trong đó quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 600.000 đồng/tháng đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn, với ngân sách bảo đảm theo phân cấp của Luật Ngân sách nhà nước. Ngoài khung trợ giúp xã hội thường xuyên, TP. Hồ Chí Minh cũng đã chủ động ban hành các chính sách ứng phó với cú sốc xã hội lớn, nhất là thời điểm đại dịch Covid-19. Các văn bản này nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo đảm an sinh kịp thời cho người lao động và người dân gặp khó khăn do dịch bệnh, thể hiện sự linh hoạt của chính sách an sinh xã hội trước biến động lớn.

Về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và an sinh cho lực lượng lao động đô thị, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai chủ trương mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế cho các nhóm lao động, đặc biệt là lao động nhập cư và lao động phi chính thức. Mới đây, HĐND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Nghị quyết số 84/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 quy định mức hỗ trợ thêm tiền đóng cho một số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, đề xuất nâng hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo, trong đó hỗ trợ thêm 30% và 25% mức đóng tương ứng nhằm giảm gánh nặng chi phí và khuyến khích người dân tiếp tục tham gia chính sách này1.

Trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai chính sách hỗ trợ 100% mức đóng BHYT cho người từ đủ 65 tuổi đến dưới 75 tuổi cư trú hợp pháp trên địa bàn theo Nghị quyết số 56/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025 quy định mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người cao tuổi, học sinh trên địa bàn Thành phố. Trong đó, giao UBND các phường phối hợp BHXH cơ sở rà soát đối tượng, nhằm bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế không bị gián đoạn cho người cao tuổi. Chính sách này thể hiện định hướng mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế cho nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao và nhu cầu dịch vụ ngày càng lớn2.

Về nhà ở xã hội và dịch vụ xã hội cho nhóm yếu thế, Thành phố triển khai Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định số 4151/QĐ-UBND ngày 09/12/2021, phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025 và năm 2021, 2022, trong đó bao gồm phân bổ quỹ đất và mục tiêu phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho công nhân, người thu nhập thấp. Kế hoạch này còn xác định định hướng chính sách về cung cấp nhà ở phù hợp với điều kiện thu nhập đô thị, góp phần giảm gánh nặng chi phí nhà ở cho các hộ khó khăn và người lao động.

2. Thực trạng triển khai chính sách an sinh xã hội của Thành phố giai đoạn 2020 – 2025

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, về giảm nghèo đa chiều và bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản. Đây là một trong những trụ cột an sinh xã hội của TP. Hồ Chí Minh có kết quả nổi bật trong giai đoạn 2020 – 2025. Thành phố đã triển khai giảm nghèo theo hướng đa chiều, kết hợp các chính sách tín dụng – việc làm – đào tạo nghề – hỗ trợ bảo hiểm xã hội để tạo “gói” hỗ trợ đồng bộ cho các hộ nghèo/cận nghèo. Giai đoạn 2021 – 2025, Thành phố đã chi hơn 15.000 tỷ đồng từ ngân sách và nguồn xã hội hóa để thực hiện chương trình giảm nghèo. Qua đó cho thấy, quy mô nguồn lực lớn dành cho trụ cột giảm nghèo và bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản. Tính đến ngày 30/6/2024, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn đạt 10.371,858 tỷ đồng với 179.836 hộ còn đang vay vốn. Cùng thời điểm, Thành phố hỗ trợ giải quyết việc làm trong nước cho 15.743 lao động (trong đó có phân tách theo nhóm hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo), hỗ trợ đào tạo nghề cho 3.525 người, và hỗ trợ 26.062 lượt lao động tham gia bảo hiểm xã hội với tổng số tiền hỗ trợ trên 2,4 tỷ đồng3. Nhờ các chính sách đó, đến đầu tháng 6/2025, TP. Hồ Chí Minh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 và giảm được tỷ lệ cận nghèo4. Tính đến cuối năm 2025, cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo cả nước, còn dưới 0,5% hộ nghèo theo chuẩn nghèo trước thời hạn 2 năm5.

Thứ hai, về trợ giúp xã hội (bảo trợ xã hội). Thành phố quy định cụ thể về chính sách hỗ trợ đối với các nhóm chính sách và mức hỗ trợ (ví dụ: lao động tự do mất việc; hỗ trợ bổ sung cho lao động mang thai, người nuôi con nhỏ…); trợ giúp thường xuyên theo mức chuẩn trợ giúp xã hội cao hơn để phù hợp chi phí sinh hoạt ở đô thị theo Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (hiệu lực từ ngày 01/01/2025), như: hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở với mức tối thiểu 40.000.000 đồng/hộ; hỗ trợ lương thực và nhu yếu phẩm thiết yếu (hỗ trợ 15kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ cho đối tượng thiếu đói do thiên tai); Hỗ trợ khắc phục thiệt hại về tàu cá, ngư cụ

Thứ ba, triển khai bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và an sinh cho lực lượng lao động đô thị. Đến cuối năm 2025, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn Thành phố ước đạt 4.689.023 người (trong đó bắt buộc 4.517.557, tự nguyện 171.466). Số người tham gia bảo hiểm y tế là 13.302.468, đồng thời đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội theo lực lượng lao động và bao phủ bảo hiểm y tế theo dân số6. Ở góc độ an sinh cho lực lượng lao động đô thị, Thành phố đã triển khai Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, TP. Hồ Chí Minh đã có gần 1,2 triệu lao động được hỗ trợ tiền thuê nhà. Chính sách này cho thấy kết quả thực thi của trụ cột an sinh lao động không chỉ nằm ở bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế mà còn ở các công cụ hỗ trợ thu nhập và điều kiện sống đối với người lao động thuê trọ – nhóm rất phổ biến trong số các đối tượng lao động tại TP. Hồ Chí Minh.

Thứ tư, về dịch vụ xã hội và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương. Thành phố đã củng cố khung chương trình dài hạn (bảo vệ trẻ em và tăng cường can thiệp xã hội đối với nhóm dễ tổn thương trong không gian đô thị, như: trẻ em đường phố, người lang thang xin ăn… UBND TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 4063/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, kế thừa thành quả và đặt mục tiêu – nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trong đó, đã hỗ trợ 1.813 trẻ em mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn nhận chi phí hỗ trợ (học tập, bảo hiểm y tế, trợ cấp hằng tháng…)7 và đưa 894 người lang thang, xin ăn vào cơ sở bảo trợ xã hội8.

2.2. Hạn chế, bất cập và các vấn đề đặt ra trong việc bảo đảm chính sách an sinh xã hội

Một là, bao phủ an sinh xã hội và công bằng tiếp cận chưa tương xứng với đặc thù đô thị lớn (nhất là lao động phi chính thức, nhập cư). Hiện nay, vẫn còn khoảng 97,9% lao động phi chính thức không tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó chỉ 0,2% tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 1,9% tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện9. Điều này cho thấy, dù bảo hiểm xã hội tự nguyện được thiết kế để mở rộng bao phủ, nhưng trên thực tế nhóm lao động tự do vẫn còn “đứng ngoài” trụ cột an sinh xã hội quan trọng này nên vẫn còn tạo ra rủi ro nghèo khi dịch bệnh xảy đến và suy giảm khả năng chống chịu ở đô thị.

Tại TP. Hồ Chí Minh, vẫn còn có sự chênh lệch giữa nhóm tham gia bắt buộc và nhóm tự nguyện. Sự chênh lệch này không chỉ là vấn đề tuyên truyền vận động, mà còn cho thấy vẫn còn rào cản về mức đóng – khả năng chi trả, tính hấp dẫn của chính sách và cơ chế tiếp cận đối tượng lao động tự do trong điều kiện đô thị đông dân và biến động việc làm lớn10.

Hai là, thực thi chính sách hỗ trợ khẩn cấp thời Covid-19 còn một số hạn chế, khó bao phủ hết, phụ thuộc vào năng lực cơ sở. Giai đoạn cao điểm dịch (đặc biệt năm 2021), Thành phố triển khai nhiều gói hỗ trợ và cơ chế “túi an sinh”. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện để “không chậm trễ” và “không bỏ sót” trong điều kiện giãn cách nghiêm ngặt và nhu cầu hỗ trợ tăng vọt là thách thức lớn. Bên cạnh đó, việc TP. Hồ Chí Minh tổ chức các kênh hỗ trợ như tổng đài 1022 và đội phản ứng nhanh SOS để chuyển túi an sinh theo “phản ánh cần gấp” cho thấy, hệ thống phải bổ sung cơ chế ứng cứu linh hoạt ngoài quy trình hành chính thông thường. Thực tế này cho thấy nhu cầu khẩn cấp rất cụ thể và cơ chế tiếp nhận – phản hồi nhanh là cần thiết nhưng cũng gợi mở về thực trạng trong khủng hoảng, mô hình dựa nhiều vào các kênh phản ánh có thể chưa thay thế được yêu cầu bao phủ theo danh sách chuẩn hóa, dễ phát sinh chênh lệch tiếp cận giữa các nhóm dân cư11.

Ba là, kiểm soát tuân thủ và thực thi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn hạn chế. Tình trạng nợ/chậm đóng bảo hiểm xã hội vẫn chiếm tỷ lệ cao. Tính đến hết năm 2023, số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện vẫn còn hơn 3.685 tỷ đồng12. Đặc biệt, theo phản ánh vào cuối năm 2025, có gần 18.000 doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đang nợ bảo hiểm xã hội của người lao động, với mức nợ từ vài chục triệu đến hàng chục tỷ đồng, kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp quyền lợi người lao động. Đây là vấn đề không nhỏ và có khả năng tạo “lỗ hổng an sinh” cho người lao động khi phát sinh các quyền lợi ngắn hạn (ốm đau, thai sản) hoặc dài hạn (hưu trí), đồng thời làm tăng chi phí quản trị thu – đòi và gia tăng tranh chấp lao động. Hơn nữa, thực trạng này cũng phản ánh hạn chế trong khâu thực thi vì dù chính sách và nghĩa vụ đã rõ, việc cưỡng chế/thu hồi và bảo đảm quyền lợi vẫn đang còn là thách thức, nhất là với doanh nghiệp khó khăn hoặc cố tình vi phạm13.

Bốn là, dữ liệu đối tượng, phối hợp liên ngành và chuẩn hóa quy trình chưa theo kịp yêu cầu quản lý đô thị quy mô lớn. Gần đây, chính các hoạt động gắn với Đề án 06 và làm sạch thông tin công dân đã và đang được triển khai để khắc phục các hạn chế đó, đồng thời góp phần tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, qua đó nâng chất lượng dữ liệu nền và liên thông định danh để phục vụ quản trị an sinh. Tuy nhiên, hệ thống cần phải dựa nhiều vào các kênh “điều phối xã hội” (tổng đài phản ánh, đội SOS, Mặt trận Tổ quốc…) để bổ sung cho quy trình hành chính. Sự linh hoạt này là cần thiết trong khẩn cấp, nhưng về dài hạn đặt ra vấn đề: nếu không chuẩn hóa dữ liệu đối tượng, quy trình xác minh và cơ chế phối hợp liên ngành ngay từ bây giờ thì khi khủng hoảng xảy ra, chính sách dễ chuyển sang trạng thái chạy theo nhu cầu phát sinh, khó bảo đảm đồng đều, minh bạch và đo lường hiệu quả.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội tại TP Hồ Chí Minh

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa khung chính sách an sinh xã hội phù hợp với điều kiện của TP. Hồ Chí Minh (mới).

Vai trò của an sinh xã hội như một trụ cột của phát triển bền vững đô thị, thể hiện qua mục tiêu mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế đạt khoảng 95 – 96% dân số, đồng thời thúc đẩy gia tăng số người tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động phi chính thức và người thu nhập thấp. Tuy nhiên, việc mở rộng bao phủ trong điều kiện dân số lớn, lao động nhập cư đông và mức sống chênh lệch giữa các khu vực đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa khung chính sách, từ chuẩn trợ giúp xã hội, điều kiện thụ hưởng đến cơ chế tổ chức thực hiện, nhằm bảo đảm tính công bằng và khả năng tiếp cận đồng đều giữa các nhóm dân cư trên địa bàn toàn Thành phố.

Trong bối cảnh đó, việc rà soát, thống nhất và đồng bộ các văn bản pháp luật, nghị quyết và chương trình an sinh xã hội của TP. Hồ Chí Minh theo hướng áp dụng chung cho toàn bộ không gian đô thị mở rộng là yêu cầu mang tính chiến lược và cấp bách. Chuẩn hóa khung chính sách sẽ giúp khắc phục tình trạng khác biệt về mức chuẩn, tiêu chí và thủ tục giữa các địa bàn trước đây, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả chính sách. Khi các chuẩn mực an sinh xã hội được thiết kế thống nhất và minh bạch, người dân và doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận thông tin, giảm thiểu rủi ro bỏ sót đối tượng hoặc trùng lặp trong thụ hưởng chính sách.

Việc hoàn thiện thể chế an sinh xã hội tại TP. Hồ Chí Minh mới cần gắn chặt với việc xây dựng bộ tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá hiệu quả thực thi chính sách, làm cơ sở cho việc phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp chính quyền, sở, ngành và chính quyền cơ sở. Cần xác định rõ mục tiêu đầu ra, tiêu chí đánh giá và cơ chế giám sát cũng sẽ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, đồng thời, tạo dư địa điều chỉnh chính sách kịp thời khi bối cảnh kinh tế – xã hội thay đổi hoặc khi xảy ra các cú sốc như dịch bệnh, biến động thị trường lao động. Trong dài hạn, một khung thể chế an sinh xã hội được chuẩn hóa, ổn định và linh hoạt sẽ là nền tảng quan trọng để TP. Hồ Chí Minh mới phát triển theo hướng đô thị hiện đại, đáng sống và bao trùm trong giai đoạn 2026 – 2030.

Thứ hai, mở rộng bao phủ an sinh xã hội, trọng tâm là lao động phi chính thức và các nhóm dễ bị tổn thương.

Đây là nhóm chịu rủi ro lớn về việc làm, thu nhập và hầu như không có “vùng đệm” an sinh khi gặp biến cố như dịch bệnh, suy giảm kinh tế hay tai nạn lao động. Hiện Thành phố là đô thị có quy mô dân số và lao động lớn hơn, việc mở rộng bao phủ an sinh xã hội không thể chỉ dựa vào các biện pháp tuyên truyền đơn lẻ, mà cần một cách tiếp cận chính sách linh hoạt và bao trùm hơn. Theo đó, cần thiết kế các cơ chế hỗ trợ có trọng tâm, như: hỗ trợ một phần mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tự nguyện cho lao động thu nhập thấp; đa dạng hóa phương thức đóng (theo tháng, quý, theo mùa vụ); gắn chính sách bảo hiểm xã hội với các dịch vụ xã hội thiết yếu như y tế, nhà ở, đào tạo nghề để tăng tính hấp dẫn và lợi ích thiết thực đối với người tham gia. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của chính quyền cơ sở, tổ chức công đoàn, đoàn thể và các tổ chức xã hội trong việc tiếp cận, vận động và hỗ trợ nhóm lao động phi chính thức tham gia hệ thống an sinh xã hội. Bên cạnh đó, mở rộng bao phủ an sinh xã hội cũng cần gắn với tăng cường trợ giúp xã hội và dịch vụ xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương, như: người nghèo, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật, lao động nhập cư gặp khó khăn.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và tăng cường phối hợp liên ngành trong quản trị an sinh xã hội.

Đặc biệt, trong quá trình triển khai các gói hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh, việc xác định đối tượng, lập danh sách và tổ chức chi trả phụ thuộc rất lớn vào năng lực và sự phối hợp của chính quyền cơ sở, các sở, ngành và tổ chức đoàn thể, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả và quy trình chuẩn hóa, chính sách an sinh xã hội đúng, kịp thời và không để bỏ sót đối tượng.

Để thực hiện được điều này, cần thiết lập cơ chế điều phối thống nhất về an sinh xã hội, cần chuẩn hóa quy trình tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội theo hướng rõ trách nhiệm, rõ đầu mối và rõ kết quả, đặc biệt ở cấp cơ sở – nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân. Cùng với cải cách quy trình, cần chú trọng nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội, nhất là cán bộ xã, phường và các đơn vị trực tiếp thực hiện.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Đối với Thành phố có quy mô dân số lớn và không gian quản lý mở rộng, nếu không đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, hiệu quả thực thi an sinh xã hội sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị hiện đại, bao trùm. Chủ trương thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Chính phủ số đã được xác định rõ trong Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử, coi dữ liệu dân cư là nền tảng để cung cấp dịch vụ công và quản lý xã hội hiệu quả hơn. TP. Hồ Chí Minh là một trong những địa phương được yêu cầu triển khai quyết liệt Đề án này nhằm phục vụ cải cách thủ tục hành chính và các chính sách xã hội. Việc làm sạch, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu dân cư là điều kiện quan trọng để xác định chính xác đối tượng an sinh xã hội, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ và nâng cao tính minh bạch trong chi trả chính sách.

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, thực tiễn cũng cho thấy cần tiếp tục mở rộng liên thông dữ liệu giữa bảo hiểm xã hội với các ngành lao động, y tế, chính quyền cơ sở để tạo ra một hệ thống an sinh xã hội thống nhất, thay vì vận hành theo từng “kho dữ liệu” riêng lẻ. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cung cấp dịch vụ an sinh xã hội trên môi trường số để không chỉ giúp người dân giảm chi phí tiếp cận chính sách mà còn tạo điều kiện cho cơ quan quản lý theo dõi, thống kê và đánh giá hiệu quả chính sách theo thời gian thực. Đồng thời, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu an sinh xã hội thống nhất, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành mô hình quản trị an sinh xã hội dựa trên dữ liệu (data-driven governance), cho phép dự báo sớm rủi ro, nhận diện nhóm dễ bị tổn thương và chủ động thiết kế chính sách phòng ngừa, thay vì chỉ phản ứng khi khủng hoảng xảy ra. Việc chuyển đổi số trong an sinh xã hội cũng cần gắn với bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ thực thi chính sách ở các cấp.

Thứ năm, bảo đảm tính bền vững tài chính và nâng cao năng lực ứng phó rủi ro của hệ thống an sinh xã hội.

Trong điều kiện có quy mô dân số lớn hơn, cơ cấu lao động đa dạng hơn và phạm vi quản lý rộng hơn, việc mở rộng chính sách an sinh xã hội của Thành phố nếu không đi kèm cơ chế tài chính bền vững sẽ làm gia tăng rủi ro cho toàn hệ thống. Do đó, cần đổi mới cách tiếp cận theo hướng kết hợp hài hòa giữa mở rộng bao phủ và kiểm soát rủi ro tài chính, thông qua tăng cường quản lý thu – chi, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách an sinh xã hội, đồng thời siết chặt kỷ luật tài chính trong thực hiện nghĩa vụ đóng góp của doanh nghiệp và người sử dụng lao động.

Song song với bảo đảm nguồn lực tài chính, TP. Hồ Chí Minh mới cần chú trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó rủi ro xã hội. Đồng thời, xây dựng các kịch bản an sinh xã hội cho những tình huống rủi ro lớn như dịch bệnh, thiên tai, suy giảm kinh tế, biến động thị trường lao động, gắn với phương án tài chính và tổ chức thực hiện cụ thể. Việc chủ động chuẩn bị các kịch bản sẽ giúp chính quyền Thành phố phản ứng nhanh hơn, giảm chi phí xã hội và hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống người dân. Ngoài ra, việc bảo đảm tính bền vững tài chính của an sinh xã hội cũng cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội và ổn định dài hạn.

4. Kết luận

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn chính sách an sinh xã hội tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 – 2025, bài viết cho thấy, hệ thống an sinh xã hội của Thành phố đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm an sinh, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển mới sau sắp xếp, mở rộng địa giới hành chính, hệ thống an sinh xã hội hiện hành còn bộc lộ những hạn chế về bao phủ, hiệu quả thực thi và tính bền vững. Trên cơ sở đó, việc đề xuất 5 nhóm giải pháp mang tính hệ thống và khả thi, bao gồm: (1) Hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa khung chính sách an sinh xã hội phù hợp với điều kiện của TP. Hồ Chí Minh mới; (2) Mở rộng bao phủ an sinh xã hội, trọng tâm là lao động phi chính thức và nhóm dễ bị tổn thương; (3) Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và phối hợp liên ngành; (4) Đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu an sinh xã hội; (5) Bảo đảm tính bền vững tài chính và nâng cao năng lực ứng phó rủi ro xã hội. Hi vọng những kết quả và khuyến nghị của nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, qua đó, nâng cao năng lực chống chịu và thúc đẩy phát triển bền vững của TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1. TP. HCM nâng mức đóng hỗ trợ BHXH tự nguyện, người dân hưởng nhiều quyền lợi. https://thanhnien.vn/tphcm-nang-muc-dong-ho-tro-bhxh-tu-nguyen-nguoi-dan-huong-nhieu-quyen-loi-185251231144216134.htm
2. TP.HCM lập danh sách triển khai hỗ trợ 100 kinh phí BHYT cho người từ đủ 65 đến dưới 75 tuổi. https://laodongxahoi.tcnnld.vn/pages/detail/31752/TP.HCM-lap-danh-sach-trien-khai-ho-tro-100-kinh-phi-BHYT-cho-nguoi-tu-du-65-den-duoi-75-tuoi.html
3, 5. TP.HCM chi hơn 15.000 tỷ đồng thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững. https://mst.gov.vn/tphcm-chi-hon-15000-ty-dong-thuc-hien-chuong-trinh-giam-ngheo-ben-vung-197250912141138167.htm
4. TP.HCM không còn hộ nghèo theo chuẩn đa chiều Thành phố giai đoạn 2021 – 2025. https://tcnnld.vn/news/detail/68919/TP.HCM-khong-con-ho-ngheo-theo-chuan-ngheo-da-chieu-thanh-pho-giai-doan-2021—2025..html
6. BHXH TP. Hồ Chí Minh: Năm 2025, ước thu trên 143.000 tỷ đồng. https://ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn/bhxh-tp-ho-chi-minh-nam-2025-uoc-thu-tren-143000-ty-dong-130738.html
7. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thông tin nội dung về các chính sách, hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em. https://hochiminhcity.gov.vn/vi/w/so-lao-ong-thuong-binh-va-xa-hoi-thong-tin-noi-dung-ve-cac-chinh-sach-hoat-ong-cham-soc-bao-ve-tre-em-1
8. TP.HCM đã đưa 894 người lang thang, xin ăn vào các cơ sở xã hội. https://thanhnien.vn/tphcm-da-dua-894-nguoi-lang-thang-xin-an-vao-cac-co-so-xa-hoi-185231006195035724.htm
9. Khó tiếp cận lao động phi chính thức. https://dantri.com.vn/lao-dong-viec-lam/kho-tiep-can-lao-dong-phi-chinh-thuc-20221006090535995.htm
10. Vì sao lao động phi chính thức chưa mặn mà tham gia BHXH tự nguyện. https://kinhtedothi.vn/vi-sao-lao-dong-phi-chinh-thuc-chua-man-ma-tham-gia-bhxh-tu-nguyen
11. 541 túi an sinh được gửi tới tận tay người dân Thành phố Hồ Chí Minh thông qua tổng đài tiếp nhận thông tin. https://mattran.org.vn/hoat-dong-mat-tran-dia-phuong/541-tui-an-sinh-duoc-gui-toi-tan-tay-nguoi-dan-thanh-pho-ho-chi-minh-thong-qua-tong-dai-tiep-nhan-thong-tin-39477.html
12. BHXH TP.HCM nỗ lực chuyển đổi số theo Đề án 06. https://congan.com.vn/doi-song/bhxh-tphcm-no-luc-chuyen-doi-so-theo-de-an-06_157769.html
13. Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh. https://tphcm.baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/bao-hiem-xa-hoi.aspx?CateID=0&ItemID=16393&OtItem=date
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Sỹ Lợi (2021). Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Tài chính (tháng 11/2021).
2. HĐND TP. Hồ Chí Minh (2020). Nghị quyết số 13/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 về Chương trình giảm nghèo bền vững Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025.
3. HĐND TP. Hồ Chí Minh (2024). Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
4. UBND TP. Hồ Chí Minh (2021). Quyết định số 1291/QĐ-UBND ngày 15/4/2021 phê duyệt Chương trình Giảm nghèo bền vững Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025.
5. UBND TP. Hồ Chí Minh (2021), Quyết định số 4151/QĐ-UBND ngày 09/12/2021 phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2025 và năm 2021, 2022.
6. UBND TP. Hồ Chí Minh (2022). Quyết định số 4063/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030.