Trung tá, TS. Lục Anh Tuấn
Hội đồng Lý luận Trung ương
Trung tá, NCS. Đỗ Năng Trung
Học viện Quốc tế, Bộ Công an
(Quanlynhanuoc.vn) – Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, có mối quan hệ biện chứng với nhau, không thể tách rời. Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có tính lịch sử cụ thể và được xác định phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, phải đồng thời coi trọng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, có bảo vệ tốt mới tạo được điều kiện thuận lợi cho xây dựng đất nước. Xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc là một trong những phương thức có vai trò quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ khóa: Thế trận bảo vệ Tổ quốc; kỷ nguyên mới; một số khuyến nghị; bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước.
1. Cơ sở lý luận
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng, xác định: “Trên cơ sở phát triển kinh tế, đáp ứng ngày càng đầy đủ và ổn định các nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của các lực lượng vũ trang; củng cố thế trận bảo vệ Tổ quốc cả về quốc phòng và an ninh; bảo đảm cơ sở vật chất – kỹ thuật và từng bước trang bị cho các lực lượng vũ trang; bảo đảm vật tư, tài chính cho sản xuất quốc phòng”1. Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của “thế trận bảo vệ Tổ quốc”.
Thế trận bảo vệ Tổ quốc là khái niệm bao trùm, gồm cả thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân. Theo tác giả Trần Vi Dân: thế trận bảo vệ Tổ quốc là sự liên kết chặt chẽ trong – ngoài, trên – dưới với trụ cột là thế trận lòng dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc2.
Bảo vệ Tổ quốc được hiến định là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân (khoản 1 Điều 45 Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mọi công dân, không phân biệt thành phần, dân tộc, giới tính đều có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị số quyết 44) xác định mục tiêu chung của bảo vệ Tổ quốc là: bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở trong nước; dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình khu vực, thế giới.
Thế trận thường được hiểu là một phạm trù cơ bản trong nghệ thuật quân sự, phản ánh phương thức, cách thức bố trí các lực lượng sao cho đạt hiệu quả tối ưu của từng lực lượng cũng như tạo nên sức mạnh liên kết, hỗ trợ, hợp đồng tác chiến của các lực lượng theo phương án tác chiến thống nhất.
Thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Những nội dung cơ bản của công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân bao gồm: xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh; xây dựng quân khu vững mạnh toàn diện, hợp thành hệ thống phòng thủ đất nước; xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân3.
Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia. Theo tác giả Bùi Quảng Bạ: thế trận an ninh nhân dân là hình thái tổ chức, bố trí lực lượng và các nguồn lực theo một ý đồ chiến lược để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, nòng cốt là lực lượng Công an nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, nhằm chủ động bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự4. Như vậy, có thể hiểu xây dựng thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực an ninh trên toàn bộ lãnh thổ nhằm bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Thế trận lòng dân là trạng thái tinh thần của dân tộc, được khơi dậy, hội tụ, kết tinh bởi tổng hòa các phẩm chất, chuẩn mực, truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi người dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam, kế thừa có chọn lọc các giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại, sẵn sàng chuyển hóa thành hành động, sức mạnh nội sinh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống5.
Xây dựng thế trận lòng dân trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩalà tổng thể hoạt động của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân trong việc khơi dậy, quy tụ, phát huy sức mạnh chính trị – tinh thần của Nhân dân, của dân tộc, được kết tinh bởi lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, phát triển của đất nước, ý chí, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận, lòng tin của Nhân dân sẵn sàng chuyển hóa thành hành động thực tiễn, sức mạnh nội lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa6.
2. Một số vấn đề đặt ra trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Nhân loại đang ở trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đang diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng có và quy mô ảnh hưởng bao trùm mọi lĩnh vực; với các sản phẩm đặc trưng là: trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và robot thông minh, công nghệ chuỗi khối (Blockchain), công nghệ in 3D,…
Thuật ngữ Industrie 4.0 được sử dụng lần đầu vào năm 2011 tại Hội chợ Công nghiệp Hannover (Đức), gắn với việc Chính phủ Liên bang Đức công bố định hướng chiến lược nhằm tái cấu trúc nền sản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại, thông minh và dựa nhiều hơn vào công nghệ cao. Tuy nhiên, trên thực tế, cách mạng công nghiệp 4.0 đã nhanh chóng vượt ra ngoài khuôn khổ một chiến lược công nghiệp quốc gia. Những biến đổi công nghệ diễn ra, đồng thời tại nhiều trung tâm kinh tế lớn trên thế giới đã tạo ra làn sóng chuyển đổi sâu rộng ở quy mô toàn cầu.
Sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ kỹ thuật số, vật lý và sinh học xóa nhòa ranh giới giữa thế giới thực và thế giới ảo. Cuộc cách mạng này đã và đang định nghĩa lại cách chúng ta sống, làm việc và tương tác với nhau; đặt ra yêu cầu cho các chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức xã hội phải điều chỉnh tư duy phát triển, phương thức quản trị và chiến lược dài hạn để thích ứng với bối cảnh mới.
Một là, dưới tác động của sự phát triển khoa học – công nghệ trong cách mạng công nghiệp 4.0, phạm vi, địa bàn cần triển khai nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được mở rộng. Hiện nay, nội hàm khái niệm an ninh quốc gia và khái niệm bảo vệ Tổ quốc không chỉ còn giới hạn ở trên đất liền mà đã mở rộng xuống ngầm, trên không, trên biển và trên không gian mạng.
Như đã chứng kiến trong vụ việc chính quyền Tổng thống Donald Trump tập kích, bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro vào rạng sáng 03/01/2026. Với ưu thế vượt trội về khoa học – công nghệ và vũ khí (hệ thống khí tài đa tầng: các tiêm kích tàng hình F-35 Lightning II, F-22 Raptor, các máy bay ném bom siêu thanh B-1B Lancer, máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker…), quân đội Mỹ đã kiểm soát hoàn toàn không phận Venezuela, vô hiệu hóa hệ thống phòng không và tạo điều kiện để lực lượng đặc nhiệm nước này bắt giữ được ông Nicolas Maduro7.
Không gian mạng thực tế đã trở thành môi trường thứ Năm với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh của mọi quốc gia8. Công nghệ thông tin tạo ra những thách thức lớn đối với bảo đảm an ninh quốc gia, đặc biệt là vấn đề tội phạm công nghệ cao, an ninh thông tin, an ninh mạng9, vấn đề AI được ứng dụng trong quân sự (như đã chứng kiến trong các cuộc xung đột quân sự gần đây trên thế giới) trong khi Việt Nam chưa tự chủ hoàn toàn về công nghệ, gây nguy cơ mất chủ quyền an ninh thông tin và yêu cầu cần cập nhật chiến lược, nghệ thuật quân sự để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Một xu hướng đáng lưu ý là những cuộc tấn công mạng không còn đơn thuần là khai thác lỗ hổng, phá hoại thông thường mà mục tiêu rõ rệt là nhắm tới các tổ chức tài chính, hệ thống máy tính của ngân hàng, hệ thống thương mại điện tử, chính phủ điện tử…
Ví dụ, sự phát triển nhanh chóng của AI thời gian qua đem lại những thay đổi to lớn đối với đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trên thế giới. Tuy nhiên, AI cũng đặt ra nhiều thách thức như: sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng thông qua AI (gây thiệt hại kinh tế thế giới khoảng 8.000 tỷ USD năm 2023, ảnh hưởng đến 353 triệu người; dự kiến con số thiệt hại kinh tế sẽ là 9.500 tỷ USD năm 2024)10; nguy cơ các đối tượng khủng bố lợi dụng AI để thực hiện các mục đích xấu như gửi email độc hại, phát tán thông tin sai lệch, thu hút người ủng hộ, lên kế hoạch tấn công khủng bố; hay việc các đối tượng lợi dụng công nghệ deepfake để tạo ra ảnh khỏa thân giả nhằm vào phụ nữ và trẻ em tại Mỹ, Hàn Quốc…11
Một số xu hướng đáng chú ý khác thời gian qua là: AI đã được ứng dụng trong một số cuộc xung đột vũ trang để xử lý thông tin nhanh chóng, nhận dạng mục tiêu, đưa ra quyết định chính xác, dự báo và phân tích tình hình chiến sự; IoT được ứng dụng để giám sát và thu thập dữ liệu theo thời gian thực; bigdata được ứng dụng để phân tích khối lượng dữ liệu khổng lồ để đưa ra những hiểu biết sâu sắc, hỗ trợ hoạch định chiến lược và quản lý quân sự hiệu quả; máy bay không người lái (drone) và robot được sử dụng để tăng khả năng tác chiến trong môi trường nguy hiểm… Thực tế trên minh chứng cho tác động nhiều mặt của cách mạng công nghiệp 4.0. Các quốc gia đều phải tư duy lại cách thức quản trị, phát triển theo hướng tận dụng mặt tích cực của khoa học công nghệ để phát triển, tăng tính cạnh tranh quốc gia, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực mà cách mạng công nghiệp 4.0 có thể mang lại.
Hai là, sự phát triển của khoa học – công nghệ tạo ra những tác động kinh tế, xã hội sâu sắc, ở cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. khoa học – công nghệ tân tiến giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tối ưu hóa quy trình vận hành, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và hình thành những ngành nghề mới. Tuy nhiên, tự động hóa cũng gây ra tình trạng mất việc làm; gia tăng nguy cơ bất bình đẳng kinh tế, cả ở phạm vi quốc gia lẫn giữa các doanh nghiệp, nhất là những quốc gia không tự chủ được về công nghệ, phải nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Thực tế, khoa học – công nghệ tạo ra những thay đổi nhiệm vụ, công việc và kỹ năng việc làm. Theo một khảo sát, khoảng 43% doanh nghiệp cho biết rằng họ sẽ giảm lực lượng lao động vì áp dụng công nghệ, 34% có kế hoạch tuyển dụng lực lượng lao động mới do tích hợp công nghệ. Việc robot thay thế con người là một nguy cơ đáng lo ngại đối với các ngành nghề thâm dụng lao động (như may mặc, sản xuất giày dép, lắp ráp linh kiện…).
Bên cạnh đó, khoa học – công nghệ đã giúp thu hẹp khoảng cách địa lý, cho phép con người kết nối, trao đổi thông tin và hợp tác với nhau không giới hạn về thời gian và không gian. Người dân được tiếp cận dịch vụ tốt hơn và cải thiện chất lượng sống tốt hơn nhờ chuyển đổi số. Tuy nhiên, cũng đặt ra yêu cầu phải giải quyết tình trạng gia tăng khoảng cách số ngày càng nghiêm trọng khi các nhóm yếu thế hoặc vùng kém phát triển không đủ điều kiện tiếp cận công nghệ mới. Người dùng internet và các nền tảng truyền thông xã hội phải đối mặt với các nguy cơ về an ninh thông tin và quyền riêng tư. Đồng thời, sự lan truyền nhanh chóng của thông tin sai lệch và tin giả trên các nền tảng số có thể gây nhiễu loạn dư luận, làm xói mòn niềm tin xã hội…
Ba là, sự phát triển của khoa học – công nghệ tạo ra những tác động đối với môi trường. Những tiến bộ khoa học – công nghệ đã mở ra nhiều giải pháp quan trọng nhằm xử lý những vấn đề môi trường đã tồn tại từ lâu như công nghệ sản xuất năng lượng mặt trời, công nghệ sinh học giúp tái chế rác thải, công nghệ cố định đạm xanh (Green nitrogen fixation) giúp giảm đáng kể lượng khí thải carbon, công nghệ in 3D góp phần giảm lãng phí vật liệu so với phương thức sản xuất truyền thống12… Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra áp lực mới lên môi trường, từ việc khai thác tài nguyên cho sản xuất thiết bị điện tử, pin cho xe điện, đến sự gia tăng nhanh chóng của rác thải điện tử và mức tiêu thụ năng lượng khổng lồ của các trung tâm dữ liệu…
3. Một số khuyến nghị
Thứ nhất, thống nhất nhận thức, đổi mới tư duy trong toàn bộ hệ thống chính trị về yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh khoa học – công nghệ phát triển rất nhanh chóng; những nguy cơ, thách thức đặt ra từ sự phát triển của khoa học công nghệ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; vai trò, tầm quan trọng, sự bức thiết phải tranh thủ được những thành tựu khoa học – công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vận dụng trong công tác lãnh đạo, quản lý, quản trị, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh. Giải quyết hài hòa được mối quan hệ giữa an ninh và phát triển; mục tiêu cao nhất là vì sự phát triển thịnh vượng của đất nước, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.
Thứ hai, tập trung xây dựng hành lang pháp lý cho chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để Việt Nam nắm bắt cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0. Quá trình chuyển đổi số cần được thực hiện toàn diện, đồng bộ, vừa phát huy sức mạnh của lực lượng sản xuất hiện đại, vừa bảo đảm bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân. Thường xuyên rà soát, sửa đổi kịp thời các quy định không còn phù hợp, tạo hành lang pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo… bảo đảm khung pháp lý không trở thành rào cản của sự phát triển, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Thứ ba, đổi mới phương thức, triết lý giáo dục phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, tiệm cận với tiêu chuẩn khu vực, quốc tế. Nhấn mạnh yêu cầu của giáo dục, đào tạo phải phù hợp với yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0 quá trình nghiên cứu, đào tạo tập trung vào nghiên cứu, phát triển một số lĩnh vực công nghệ chiến lược phù hợp để từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ tiên phong của thế giới như: công nghệ chip bán dẫn; trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn (AI & Big Data); công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ y – sinh tiên tiến; công nghệ lượng tử; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; nông nghiệp thông minh; công nghệ môi trường và phát triển bền vững…
Chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức, kỹ năng số (tập trung vào phân tích dữ liệu, tận dụng AI và khoa học – công nghệ phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung vì sự phát triển bền vững của nhân loại), năng lực sáng tạo, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, có khát vọng, lý tưởng chung tay xây dựng đất nước hùng cường; am hiểu xu hướng phát triển của khoa học – công nghệ; có tư duy đổi mới, sáng tạo, thích ứng nhanh chóng với sự phát triển của khu vực và thế giới. Đồng thời, có cơ chế đột phá thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ tư, triển khai hiệu quả, đầu tư nghiên cứu, phát triển có trọng tâm, trọng điểm 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược Thủ tướng Chính phủ đã xác định trong Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025. Căn cứ tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, có kế hoạch và chiến lược đầu tư, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả những công nghệ và nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược đã xác định; từ việc phát triển kinh tế địa phương và đất nước, nâng cao đời sống, vật chất tinh thần của nhân dân, để Nhân dân vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng hành cùng đất nước vươn mình phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ, đồng thời phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học, công nghệ tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và an ninh mạng, nhất là các đối tác có quan hệ chính trị tốt và có thiện chí cùng hợp tác phát triển khoa học – công nghệ, chuyển giao công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ với hợp tác kinh tế quốc tế.
Phát huy vai trò chủ động trong kiến tạo cũng như dẫn dắt, định hình các luật chơi toàn cầu, tham gia thúc đẩy các tiến trình, các thể chế, cơ chế đa phương về bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tác động ngày càng sâu rộng của cách mạng công nghiệp 4.0 để vừa phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc, vừa nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 47. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 379.
2. Trần Vi Dân (2023). Thế trận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Công an nhân dân, kỳ 2, số 5/2023.
3. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. https://mod.gov.vn/home/intro/detail?1dmy¤t=true&urile=wcm%3Apath%3A/mod/sa-mod-site/sa-qpvn/sa_qpvn_csqp/sa-qpvn-csqp-csqpvn/xay-dung-the-tran-quoc-phong-toan-dan
4. Bùi Quảng Bạ (2015). Xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội, tr. 9.
5, 6. Trần Vi Dân (chủ biên) và Mai Văn Đức (2024). Xây dựng “thế trận lòng dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. H.NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 47, 51.
7. Công nghệ nào giúp Mỹ vô hiệu hóa phòng không Venezuela chỉ trong vài giờ? https://tuoitre.vn/cong-nghe-nao-giup-my-vo-hieu-hoa-phong-khong-venezuela-chi-trong-vai-gio-20260108112551165.htm
8. Adib Farhadi, Ronald P. Sanders, and Anthony Masys, eds (2022). The Great Power Competition Volume 3: Cyberspace: The Fifth Domain. Springer Nature.
9. Theo số liệu của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an, chỉ tính riêng các đơn vị trọng yếu đã có tới hơn 74.000 cảnh báo tấn công mạng, trong đó có 83 chiến dịch tấn công có chủ đích APT.
10. Tấn công mạng thông qua AI gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/tan-cong-mang-thong-qua-ai-gay-ton-that-kinh-te-nghiem-trong-151964.html.
11. Giới chuyên gia lo ngại khủng bố lợi dụng trí tuệ nhân tạo. https://baotintuc.vn/khoa-hoc-cong-nghe/gioi-chuyen-gia-lo-ngai-khung-bo-loi-dung-tri-tue-nhan-tao-ai-20240901203018287.htm
12. Top 10 công nghệ mới nổi năm 2025. https://c4ir.vn/top-10-cong-nghe-moi-noi-nam-2025/



