Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

ThS. Trần Thị Huyền
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên

(Quanlynhanuoc.vn) – Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước ở cơ sở. Đảng ủy cấp xã là hạt nhân lãnh đạo toàn diện, trong đó chất lượng đội ngũ đảng ủy viên có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước ở địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ đảng ủy viên cấp xã ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2015 – 2025, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng ủy viên cấp xã ở tỉnh Hưng Yên hiện nay.

Từ khóa: Đảng ủy viên; cán bộ nữ; chất lượng cán bộ; cấp xã; nâng cao; Hưng Yên.

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống hành chính nhà nước và hệ thống chính trị ở Việt Nam, cấp xã là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội. Hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở phụ thuộc rất lớn vào vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, trong đó, đội ngũ đảng ủy viên cấp xã giữ vị trí nòng cốt, quyết định chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, yêu cầu đối với đội ngũ đảng ủy viên cấp xã ngày càng cao và toàn diện hơn. Không chỉ bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức, đội ngũ này còn phải có năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực tiễn, khả năng phối hợp các chủ thể trong hệ thống chính trị và năng lực thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế – xã hội.

Tỉnh Hưng Yên là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế – xã hội nhanh, chịu tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập. Quá trình này đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước ở cơ sở, đồng thời, đòi hỏi đội ngũ đảng ủy viên cấp xã phải không ngừng nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng đội ngũ đảng ủy viên cấp xã ở tỉnh Hưng Yên vẫn còn những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo của cấp uỷ và hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. Xuất phát từ yêu cầu đó, việc phân tích thực trạng và chỉ ra những vấn đề đặt ra trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng ủy viên cấp xã ở tỉnh Hưng Yên hiện nay là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở.

2. Thực trạng chất lượng đội ngũ đảng ủy viên cấp xã tỉnh Hưng Yên

Một là, về số lượng và cơ cấu đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã.

Giai đoạn từ năm 2015 – 2025, đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên có xu hướng tăng cả về số lượng và tỷ lệ tham gia, phản ánh hiệu quả bước đầu của sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy đối với công tác cán bộ nữ ở cơ sở. Việc quán triệt và triển khai Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 29-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp ủy về vị trí, vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở cấp xã. Báo cáo của Tỉnh ủy khẳng định việc thực hiện các chỉ thị này đã “từng bước làm thay đổi nhận thức” và tạo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị về công tác phụ nữ, bình đẳng giới1.

Theo Báo cáo số 324-BC/TU ngày 11/9/2023 của Tỉnh uỷ Hưng Yên2, toàn tỉnh có 161 xã, phường, thị trấn với 536 tổ chức cơ sở đảng và 70.446 đảng viên; tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy cơ sở đạt 20,11%, tăng 3,25% so với nhiệm kỳ 2015 – 2020. Mức tăng này cho thấy xu hướng mở rộng sự tham gia của phụ nữ vào cấp ủy cơ sở là tương đối rõ, đồng thời, phản ánh nỗ lực của địa phương trong cụ thể hóa chủ trương của Trung ương.

Xét về cơ cấu, đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên cơ bản được hình thành theo hướng hợp lý, thể hiện xu hướng kế thừa và đổi mới. Về độ tuổi, nhóm 35 – 50 tuổi chiếm khoảng 68%, nhóm dưới 35 tuổi gần 20%, nhóm trên 50 tuổi khoảng 12%. Cơ cấu này cho thấy, đội ngũ cán bộ nữ có nền tảng khá tốt về độ “chín” công tác và kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời, đã xuất hiện xu hướng trẻ hóa so với giai đoạn trước. Dẫu vậy, tỷ lệ cán bộ nữ dưới 35 tuổi chưa đủ lớn để hình thành nguồn kế cận vững chắc và ổn định, nhất là ở các địa bàn có tốc độ phát triển nhanh, yêu cầu nhiệm vụ cao và cường độ công việc lớn. Ở một số nơi, “trẻ hóa” về độ tuổi mới là xu hướng, chưa trở thành sức bật rõ ràng để bảo đảm tính liên tục của đội ngũ nữ trong cấp ủy qua nhiều nhiệm kỳ.

Hai là, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và sức khỏe.

Về tổng thể, đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên có phẩm chất chính trị tương đối vững vàng, lập trường tư tưởng ổn định, thể hiện sự trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nghiêm túc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên hằng năm cho thấy có trên 90% đảng ủy viên nữ cấp xã được xếp loại hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; tỷ lệ đảng viên nữ bị xử lý kỷ luật rất thấp, không có trường hợp vi phạm nghiêm trọng liên quan đến chính trị, tư tưởng.

Về đạo đức, lối sống, đa số đảng ủy viên nữ có ý thức tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gần gũi nhân dân. Thực tiễn ở cơ sở cho thấy đội ngũ này thường được đánh giá cao về tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính. Trong sinh hoạt đảng, các đồng chí cơ bản chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ, tích cực tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng nghị quyết, chương trình công tác của cấp ủy. Đặc biệt, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai nghiêm túc; trên 95% đảng ủy viên nữ hằng năm đăng ký và thực hiện nội dung tu dưỡng, rèn luyện gắn với chức trách, nhiệm vụ, nhiều đồng chí có việc làm cụ thể tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Về sức khỏe, nhìn chung đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã bảo đảm điều kiện để thực hiện nhiệm vụ. Phần lớn cán bộ nữ thuộc nhóm tuổi 35 – 50, có sức khỏe tương đối ổn định, đáp ứng yêu cầu công tác thường xuyên, liên tục ở cơ sở. Kết quả rà soát đội ngũ cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh cho thấy đa số đảng ủy viên nữ đủ sức khỏe đảm nhiệm chức trách được giao, rất ít trường hợp phải điều chỉnh nhiệm vụ do hạn chế sức khỏe. Đây là điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ nữ đảm đương công việc với áp lực ngày càng tăng ở cấp xã.

Tuy nhiên, một số cán bộ nữ chưa thật sự mạnh dạn, quyết liệt trong đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương của Đảng khi xử lý vấn đề phức tạp ở cơ sở; bản lĩnh chính trị trong tình huống nhạy cảm đôi khi còn dè dặt. Tinh thần tự phê bình và phê bình ở một số nơi chưa cao; vẫn tồn tại hiện tượng nể nang, ngại va chạm, ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt Đảng và hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy. Đồng thời, do đặc thù giới và “áp lực kép” giữa công tác – gia đình, một bộ phận đảng ủy viên nữ gặp hạn chế nhất định về sức khỏe, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tham gia công việc ngoài giờ và xử lý nhiệm vụ đột xuất, nhất là giai đoạn công việc ở cơ sở phát sinh nhiều, yêu cầu cao về cường độ và thời gian.

Ba là, về năng lực công tác và trình độ mọi mặt.

Năng lực công tác của đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên từng bước được nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Trên nền tảng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ theo hướng coi trọng năng lực, hiệu quả công tác và “sản phẩm” cụ thể, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và kỹ năng xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ nữ được cải thiện rõ rệt. Nhiều đảng ủy viên nữ đã phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, chủ động điều phối công việc, đề xuất giải pháp phù hợp và xử lý linh hoạt các vấn đề phát sinh trong thực tiễn địa phương.

Về năng lực nghiên cứu, tham mưu và ra quyết định, đội ngũ đảng ủy viên nữ thể hiện khả năng phân tích, tổng hợp và vận dụng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng vào điều kiện cụ thể của cơ sở trong các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự và phát huy vai trò phụ nữ. Chủ trương tăng cường luân chuyển, đào tạo, thử thách cán bộ nữ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện để đội ngũ này tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực tham mưu và ra quyết định trong hoạt động lãnh đạo ở cơ sở. Trong công tác kiểm tra, giám sát, nhiều đảng ủy viên nữ thể hiện tinh thần trách nhiệm, khách quan, sâu sát cơ sở; tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp phần nâng cao tính khả thi của các chủ trương, chính sách địa phương. Điểm mạnh của cán bộ nữ ở cấp xã thường thể hiện rõ trong công tác dân vận, tiếp cận nhóm yếu thế, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và duy trì đồng thuận xã hội.

Về trình độ, đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị theo quy định. Trong 5 năm qua, toàn tỉnh có 48 cán bộ nữ được đào tạo đại học và trên đại học; 84 cán bộ được đào tạo trung cấp và cao cấp lý luận chính trị; 214 cán bộ được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành. Đáng chú ý, 100% chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó 5,2% thạc sĩ, 77,9% đại học, 16,9% cao đẳng và trung cấp3. Các dữ liệu này cho thấy, xu hướng chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ nữ cơ sở. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức và khả năng vận dụng tri thức mới từng bước được nâng cao; nhiều đồng chí chủ động ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, quản lý công việc, tuyên truyền chính sách và phục vụ người dân, phù hợp yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số.

Tuy vậy, năng lực lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ nữ chưa đồng đều; khả năng tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp còn nặng về kinh nghiệm, thiếu tính phân tích khoa học và dự báo. Việc cụ thể hóa nghị quyết của cấp trên vào thực tiễn ở một số xã còn lúng túng, chưa thật sự chủ động, nhất là trong các lĩnh vực mới như quản lý kinh tế, đô thị và chuyển đổi số. Trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin của một số đảng ủy viên nữ còn hạn chế; việc tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên sâu chưa nhiều. Ngoài ra, do kiêm nhiệm nhiều chức danh và áp lực công việc lớn, việc tự học tập, cập nhật tri thức mới của một bộ phận cán bộ nữ gặp khó khăn, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng tham mưu và hiệu quả lãnh đạo ở cơ sở.

Bốn là, về kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Thời gian qua, đội ngũ này đã khẳng định vai trò và hiệu quả công tác thông qua kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Theo Báo cáo số 324-BC/TU ngày 11/9/2023 của Tỉnh uỷ Hưng Yên, đội ngũ cán bộ nữ, trong đó có các đảng ủy viên nữ cấp xã, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao; chủ động tham mưu, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở địa phương4. Thực tiễn cho thấy, đa số đảng ủy viên nữ cấp xã hoàn thành tốt, nhiều đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; phát huy tính năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành; tạo chuyển biến tích cực trong xây dựng Đảng, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, giữ gìn an ninh trật tự và chăm lo đời sống nhân dân.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ đảng ủy viên nữ còn được phản ánh gián tiếp qua kết quả chung của hệ thống chính trị cơ sở. Theo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2025 – 2030, tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 91,88%, trong đó 20% hoàn thành xuất sắc; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trên 80%. Trong công tác xây dựng Đảng, giai đoạn 2021 – 2025, toàn tỉnh kết nạp 13.562 đảng viên mới, trong đó đảng viên nữ chiếm khoảng 38%5. Tỷ lệ này cho thấy công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên nữ được quan tâm; đồng thời phản ánh sự tham gia của cán bộ nữ, trong đó có đảng ủy viên nữ, vào công tác vận động, bồi dưỡng, phát hiện và giới thiệu quần chúng ưu tú. Bên cạnh đó, cán bộ nữ giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào thi đua, công tác dân vận, an sinh xã hội và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Sự tham gia này góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với cấp ủy và chính quyền địa phương; đồng thời, nâng cao hiệu quả triển khai chính sách ở cơ sở thông qua kênh vận động quần chúng, kênh giám sát, phản biện xã hội và hoạt động của các đoàn thể.

Tuy nhiên, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ giữa các địa phương chưa thật sự đồng đều. Ở một số xã, hiệu quả tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đảng ủy viên nữ chưa tương xứng với yêu cầu phát triển nhanh của địa phương; việc xử lý các vấn đề phức tạp, phát sinh đột xuất còn gặp khó khăn; tính chủ động, quyết đoán trong một số tình huống chưa cao. Do kiêm nhiệm nhiều chức danh và khối lượng công việc lớn, một số đảng ủy viên nữ chưa dành được nhiều thời gian cho công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, dẫn đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ ở một số lĩnh vực chưa thật sự bền vững. Những hạn chế này tác động trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo ở cơ sở, nhất là trong điều kiện yêu cầu quản trị ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nhiều và gắn với chuyển đổi số, cải cách hành chính, quản lý phát triển.

Năm là, về uy tín và mức độ tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân

Đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên ngày càng khẳng định uy tín chính trị và uy tín xã hội, tạo ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng dân cư. Thông qua việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, nhiều đảng ủy viên nữ tạo dựng được niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, trở thành lực lượng quan trọng góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân ở cơ sở.

Báo cáo số 324-BC/TU ngày 11/9/2023 của Tỉnh ủy Hưng Yên ghi nhận đội ngũ cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ giữ cương vị trong cấp ủy xã, phường, thị trấn, có tác phong gần dân, sát dân, có khả năng vận động, thuyết phục quần chúng và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh ở địa phương6. Những phẩm chất này tạo nên “vốn tín nhiệm” quan trọng, góp phần tăng cường tính chính danh và hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy cơ sở. Uy tín của đội ngũ đảng ủy viên nữ còn thể hiện qua vai trò nòng cốt trong công tác dân vận, công tác phụ nữ và phong trào thi đua yêu nước. Các đồng chí tham gia tuyên truyền, vận động hội viên, phụ nữ và Nhân dân thực hiện nhiều phong trào xã hội, gắn với xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự…

Qua hoạt động thực tiễn, nhiều đảng ủy viên nữ trở thành hạt nhân đoàn kết, góp phần tạo đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả triển khai chủ trương, chính sách ở cơ sở. Với lợi thế về giới, đội ngũ này cũng có khả năng tiếp cận, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, nhóm yếu thế, từ đó, phản ánh kịp thời đến cấp ủy, chính quyền để có điều chỉnh phù hợp.

Tuy nhiên, ở một số địa phương, uy tín của cán bộ nữ chưa đồng đều; một bộ phận đảng ủy viên nữ chưa phát huy đầy đủ vai trò, vị thế trong cộng đồng, nhất là khi xử lý những vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến lợi ích người dân. Khả năng tập hợp, vận động quần chúng của một số cán bộ nữ còn giới hạn trong phạm vi lĩnh vực phụ trách, chưa tạo được sức lan tỏa mạnh trong toàn xã hội. Trong bối cảnh yêu cầu đối với cán bộ cấp xã ngày càng cao, nếu không thường xuyên rèn luyện bản lĩnh, nâng cao năng lực và kỹ năng xử lý tình huống, uy tín cá nhân của một số đảng ủy viên nữ có nguy cơ suy giảm, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo và mức độ đồng thuận xã hội ở cơ sở.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên

Thứ nhất, thống nhất nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu về công tác cán bộ nữ.

Thực tiễn cho thấy, kết quả phát triển đội ngũ cán bộ nữ tham gia cấp ủy có sự khác nhau giữa các địa phương, trong đó yếu tố quyết định thường nằm ở nhận thức và mức độ quan tâm của cấp ủy, nhất là vai trò người đứng đầu. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tạo sự thống nhất cao về nhận thức chính trị, phát triển đội ngũ cán bộ nữ không chỉ là câu chuyện bình đẳng giới mà là nhiệm vụ chiến lược trong xây dựng đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở. Sự thống nhất này phải được chuyển hóa thành cam kết trách nhiệm của cấp ủy, thành định hướng rõ ràng trong nghị quyết, chương trình hành động và các kế hoạch công tác cán bộ ở cấp xã.

Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực chất để khắc phục hình thức trong triển khai chủ trương về cán bộ nữ.

Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động không thể bền vững nếu thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên và đánh giá khách quan. Vì vậy, phải coi kiểm tra, giám sát là khâu bảo đảm chất lượng, tập trung vào các điểm then chốt như quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng và đánh giá sau bổ nhiệm. Cùng với đó là yêu cầu đổi mới phương thức đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, dựa trên kết quả và sản phẩm công việc, hạn chế nể nang, cảm tính, đồng thời, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các biểu hiện làm cho đủ cơ cấu nhưng chưa bảo đảm chất lượng.

Thứ ba, chăm lo chế độ, chính sách và tạo động lực làm việc bền vững cho cán bộ nữ cấp xã.

Ở cấp xã, áp lực công việc ngày càng lớn, trong khi cán bộ nữ thường chịu thêm gánh nặng gia đình. Nếu chế độ, chính sách thực hiện chậm, thiếu công bằng hoặc thiếu ghi nhận sẽ làm giảm động lực phấn đấu và ảnh hưởng sự ổn định đội ngũ. Vì vậy, phải bảo đảm thực thi đầy đủ, kịp thời, công khai và minh bạch các chính sách đối với cán bộ nữ; đồng thời, chú trọng các cơ chế khuyến khích để tạo động lực phát triển lâu dài. Việc kết hợp hài hòa giữa động viên vật chất và khích lệ tinh thần, tôn vinh kịp thời cá nhân tiêu biểu, xây dựng môi trường làm việc nhân văn, tôn trọng và khích lệ phụ nữ là điều kiện quan trọng để cán bộ nữ yên tâm, gắn bó và cống hiến.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí và khung năng lực đối với đảng ủy viên nữ cấp xã.

Một khó khăn thực tiễn là việc đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ nữ ở một số nơi còn thiếu tiêu chí cụ thể, dễ dẫn đến cảm tính hoặc chạy theo tỷ lệ cơ học. Do đó, phải xây dựng hệ tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá thống nhất, rõ ràng, có khả năng lượng hóa và phù hợp đặc thù cấp xã; gắn quy hoạch, bổ nhiệm với năng lực thực tiễn, kết quả công tác và uy tín xã hội. Đồng thời, phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan trong quy trình đánh giá – lựa chọn – đề bạt, tránh biểu hiện định kiến giới, cục bộ hoặc thiên lệch trong sử dụng cán bộ.

Thứ năm, đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức xã hội và khắc phục định kiến giới.

Sự tham gia của phụ nữ vào cấp ủy không chỉ phụ thuộc cơ chế nội bộ mà còn chịu ảnh hưởng mạnh từ môi trường xã hội và quan niệm truyền thống. Vì vậy, cần phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng về vai trò phụ nữ trong hệ thống chính trị; đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền theo hướng thiết thực, phù hợp cơ sở; kết hợp tuyên truyền trực tiếp với truyền thông hiện đại, nhất là nền tảng số, nhằm lan tỏa hình ảnh tích cực về cán bộ nữ. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, đặc biệt Hội Liên hiệp Phụ nữ trong tham mưu, giám sát, phản biện và vận động xã hội.

Thứ sáu, phát huy yếu tố tự thân và tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng linh hoạt cho đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã.

Chất lượng đội ngũ phụ thuộc không nhỏ vào ý chí tự học, tự rèn, tinh thần cầu thị và khát vọng cống hiến của từng cán bộ nữ. Do đó, phải thường xuyên, liên tục khơi dậy tinh thần tự giác học tập, rèn luyện bản lĩnh, phẩm chất và phong cách công tác; đồng thời, mở rộng cơ hội đào tạo, bồi dưỡng theo hướng linh hoạt, gắn với điều kiện công tác và đời sống của cán bộ nữ ở cơ sở. Đào tạo cần gắn chặt với quy hoạch và sử dụng, chú trọng cập nhật kiến thức quản lý hiện đại, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng xử lý tình huống và năng lực thích ứng với yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số.

4. Kết luận

Đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã ở tỉnh Hưng Yên trong những năm qua đã có bước phát triển tích cực về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Đội ngũ này cơ bản giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và ý thức đổi mới trong thực hiện nhiệm vụ, từng bước khẳng định vai trò trong hệ thống chính trị cơ sở. Thực tiễn cho thấy, sự tham gia của cán bộ nữ đã góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền địa phương. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã vẫn còn những hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn. Cơ cấu đội ngũ chưa thật sự đồng đều, nguồn cán bộ nữ trẻ còn mỏng; năng lực tham mưu, xử lý các vấn đề mới, phức tạp của một bộ phận cán bộ nữ chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng và tạo động lực ở một số nơi còn thiếu tính chiến lược, chưa gắn chặt với yêu cầu lâu dài. Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới toàn diện công tác xây dựng đội ngũ đảng ủy viên nữ cấp xã, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp trong chương tiếp theo.

Chú thích:
1, 2, 4, 6. Tỉnh ủy Hưng Yên (2023). Báo cáo số 324-BC/TU ngày 11/9/2023 về sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.
3. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2021 – 2026.
5. Tỉnh ủy Hưng Yên (2025). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.
3. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hưng Yên (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, nhiệm kỳ 2016 – 2021.
4. Tỉnh ủy Hưng Yên (2025). Sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XII) về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới.
5. Tỉnh ủy Hưng Yên (2025). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
6. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2016). Tăng tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử. Tạp chí Cộng sản số 112/2016, tr. 32 – 35.
7. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị các cấp ở nước ta trong thời gian tới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/819812/tang-cuong-su-tham-gia-cua-phu-nu-trong-he-thong-chinh-tri-cac-cap-o-nuoc-ta-trong-thoi-gian-toi.aspx, ngày 14/10/2020.
8. Phát triển nguồn lực cán bộ nữ trong hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/06/04/phat-trien-nguon-luc-can-bo-nu-trong-he-thong-chinh-tri-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-hien-nay, ngày 04/6/2024.