(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng 7/2, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp từ Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội và kết hợp trực tuyến tới 31.097 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh/thành phố, các xã, phường, đặc khu, các tổ chức đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp với hơn 1,9 triệu đại biểu tham dự tại các điểm cầu. Hội nghị cũng được truyền hình trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam, cùng các nền tảng số. Tổng Bí thư Tô Lâm dự, chỉ đạo hội nghị.

Cùng dự Hội nghị có nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (dự tại điểm cầu Thành phố Hồ Chí Minh); Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng (dự tại điểm cầu Văn phòng Trung ương Đảng).
Hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Bí thư; Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; các đồng chí Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước; Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương; các đồng chí Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy Các cơ quan đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương; lãnh đạo cấp cục, vụ, viện thuộc các ban, bộ, ngành, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Trung ương…
Dự tại các điểm cầu tỉnh, thành ủy và các địa phương có các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành các tỉnh, thành ủy; cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu trên địa bàn; lãnh đạo chủ chốt cấp ủy, chính quyền các cấp; lãnh đạo và đảng viên các xã, phường, đặc khu và các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn.
Hội nghị tập trung nghiên cứu, làm rõ những nội dung trọng tâm, cốt lõi và điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thông qua 10 chuyên đề.
Chuyên đề 1: “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng”

Đồng chí Trịnh Văn Quyết khẳng định, văn kiện Đại hội chính là sự kết tinh cao nhất của trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng, phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và tư duy chỉ đạo thực tiễn. Điểm nổi bật của Văn kiện lần này không chỉ nằm ở những mục tiêu cụ thể mà sâu xa hơn là những chuyển biến căn bản về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và phương thức tổ chức đất nước trong kỷ nguyên mới.
Những vấn đề cốt lõi thể hiện ở một số trụ cột chiến lược là: bổ sung và phát triển “lý luận về đường lối đổi mới”, bước trưởng thành mới về tư duy lý luận của Đảng. Xác lập tư duy “tự chủ chiến lược” – định vị mới của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động. Hoàn thiện thể chế phát triển, khâu đột phá chiến lược mang tính quyết định. Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc: văn hóa, con người, giáo dục, đào tạo và kinh tế tư nhân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển đối ngoại tương xứng tầm vóc đất nước…
Đồng chí Trịnh Văn Quyết nêu một số yêu cầu và giải pháp căn bản đưa Nghị quyết vào đời sống. Cụ thể, cần thống nhất cao về nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển. Trong đó, trước hết phải bắt đầu từ nhận thức bởi lẽ, mọi hành động đều bắt nguồn từ nhận thức; nhận thức không thống nhất, hành động sẽ phân tán. Do đó, việc học tập, quán triệt Nghị quyết không thể làm hình thức, chiếu lệ mà phải làm rõ tinh thần cốt lõi, làm rõ điểm mới, làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ. Cần chuyển mạnh từ cách học “đọc – chép – nghe báo cáo” sang thảo luận vấn đề, liên hệ thực tiễn địa phương, đơn vị mình, của tổ chức mình để xác định việc làm, lộ trình, giải pháp tổ chức thực hiện và các mục tiêu cụ thể. Đặc biệt, phải ưu tiên thể chế hóa các đột phá chiến lược: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, vận hành thông suốt hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã, phường, đặc khu.
Vấn đề cấp bách trước mắt là phải nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện, ban hành các văn bản, hoàn thiện hành lang pháp lý để các quyết sách chiến lược của Đảng đi vào thực tế, phát huy tác dụng, hiệu quả sớm nhất có thể. Thể chế càng minh bạch, hành lang pháp lý càng thông thoáng, thủ tục hành chính càng đơn giản, thuận tiện thì nguồn lực xã hội càng được giải phóng, động lực phát triển càng phát huy mạnh mẽ.
Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện theo tư duy quản trị hiện đại. Một yêu cầu rất quan trọng là phải chuyển mạnh từ cách điều hành hành chính sang tư duy quản trị phát triển hiện đại. Nghị quyết không thể triển khai chung chung mà phải được cụ thể hóa thành chương trình, đề án, dự án, sản phẩm và hiệu quả cụ thể. Mỗi việc phải rõ mục tiêu, rõ lộ trình, rõ nguồn lực, rõ người chịu trách nhiệm, rõ kết quả và hiệu quả. Lấy kết quả cuối cùng làm thước đo đánh giá năng lực, phẩm chất của cán bộ, không phải báo cáo hình thức. Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm phương thức hành động chủ đạo. Triển khai Nghị quyết trong thời đại số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà còn phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ phương thức quản trị quốc gia.
Xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định của mọi quyết định. Thực tiễn đã chứng minh, đường lối đúng đến đâu mà cán bộ yếu kém cũng không thành công; ngược lại, cán bộ tốt có thể biến chủ trương đúng đắn, hợp lý thành kỳ tích. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm; thực hiện cơ chế “có vào có ra, có lên có xuống”. Cán bộ thời kỳ mới phải có tầm nhìn chiến lược, có năng lực quản trị hiện đại, có bản lĩnh đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chỉ khi mỗi cán bộ thực sự là “hạt nhân hành động” Nghị quyết mới đi vào cuộc sống thực sự.
“Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV đòi hỏi một tinh thần mới: Nhanh hơn, quyết liệt hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn. Không chấp nhận: Trì trệ, né tránh trách nhiệm, nói nhiều làm ít. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự hỏi: Mình đã làm gì cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu Đại hội? Bởi thành công của Đại hội không được đo bằng lời nói mà được đo bằng sự tăng trưởng của nền kinh tế, chất lượng sống của Nhân dân, niềm tin xã hội và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”, đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh.
Chuyên đề 2: “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, Đại hội lần này có nhiều đổi mới về xây dựng văn kiện, tổ chức Đại hội; trong đó lần đầu tiên ban hành Chương trình hành động – bước đột phá nhằm góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội với mục tiêu phải giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số; không ngừng cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân hướng đến thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm; đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Với tinh thần “nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, tầm nhìn; động lực bắt nguồn từ sự đổi mới, sáng tạo; sức mạnh bắt nguồn từ Nhân dân, doanh nghiệp” và “tiết kiệm thời gian, coi trọng trí tuệ, sự quyết đoán kịp thời, đúng thời điểm”, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, các địa phương, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị tập trung quán triệt nghiêm túc, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả Chương trình hành động với phương châm:
“1 mục tiêu” xuyên suốt là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. “2 bảo đảm” là bảo đảm phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và bảo đảm an ninh, an toàn, an dân. “3 có” trong đóng góp nguồn lực là: có sự đóng góp của Nhà nước, của doanh nghiệp, của Nhân dân. “4 không” để chống lãng phí thời gian: không lãng phí một ngày; không chậm trễ trong một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. “5 hóa” cho phát triển: xanh hóa; số hóa; tối ưu hóa nguồn lực; thông minh hóa trong quản trị; hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. “6 rõ” trong phân công nhiệm vụ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả.
Thủ tướng Chính phủ khẳng định, với phương châm “Đảng đã lãnh đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè quốc tế giúp đỡ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi”, “không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm”, nhất định sẽ thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng XIV, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chuyên đề 3: “Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 – 2025); phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV”

Đồng chí Lê Minh Hưng nêu rõ, thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu phải chủ động chuyển từ “nhận thức đúng” thành “tổ chức triển khai có hiệu quả”; từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”; kết hợp “chỉ đạo, điều hành” với “kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm” triển khai 10 nhóm nhiệm vụ.
Nhóm nhiệm vụ 1, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị.
Nhóm nhiệm vụ 2, xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng
Nhóm nhiệm vụ 3, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức.
Nhóm nhiệm vụ 4, tăng cường công tác dân vận, thắt chặt và làm sâu sắc hơn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng.
Nhóm nhiệm vụ 5, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Nhóm nhiệm vụ 6, tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
Nhóm nhiệm vụ 7, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.
Nhóm nhiệm vụ 8, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.
Nhóm nhiệm vụ 9, tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nhóm nhiệm vụ 10, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Trong số các nhiệm vụ trên, đồng chí Lê Minh Hưng cho biết, Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng Trung ương và các cơ quan liên quan, nhất là Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc tập trung đánh giá 2 năm, 5 năm việc thực hiện 6 tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo mô hình mới, vào năm 2027 và năm 2030; hoàn thiện chức năng tham mưu, tổ chức thực hiện công tác dân vận, tập hợp vận động quần chúng. Đổi mới, hoàn thiện mô hình quản lý các cơ quan truyền thông, báo chí quốc gia, 2 viện hàn lâm khoa học xã hội và khoa học công nghệ, hoàn thành trong quý IV/2026. Tham mưu Bộ Chính trị ban hành quy định về quản lý biên chế của hệ thống chính trị theo hướng phân cấp quản lý biên chế cho các cấp uỷ trực thuộc Trung ương, hoàn thành trong năm 2026…
Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng Trung ương và các cơ quan liên quan tập trung tham mưu các nhiệm vụ, đề án, trọng tâm là: Kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW (khoá XIII) ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XIII) về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, hoàn thành tháng 6/2026; Kết luận của Ban Bí thư về việc thực hiện Chỉ thị về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương về đảng viên làm kinh tế tư nhân, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tham mưu xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; nghiên cứu cơ chế tạo sự liên thông giữa khu vực công và khu vực tư, hoàn thành trong tháng 4/2027.
Đảng ủy Chính phủ, Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức. Thực hiện số hóa hồ sơ cán bộ từ cơ sở và kết nối liên thông đồng bộ giữa các cơ quan, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng Chương trình quốc gia về giáo dục liêm chính, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo ủy ban kiểm tra các cấp chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm; không chờ có vụ việc mới kiểm tra tập trung kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn. Tiếp tục thực hiện nghiêm việc bố trí chức danh chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp tỉnh, cấp xã không phải là người địa phương…
Chuyên đề 4: “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2026 – 2030”

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, để thực hiện thành công các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, Đại hội XIV đã đề ra các nhóm nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trung tâm và các thể chế khác phải đồng bộ.
Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế.
Phát triển các thành phần, khu vực kinh tế. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính.
Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân.
Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại.
Thực hiện ba đột phá chiến lược tập trung vào những nội dung then chốt:
(1) Đột phá thứ nhất là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, thúc đẩy đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ kiến tạo phát triển. Kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
(2) Đột phá thứ hai là tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.
(3) Đột phá thứ ba là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chuyên đề 5: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong Kỷ nguyên mới”

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài cho biết, để cụ thể hoá và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Tập trung xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách để bảo đảm quyền Nhân dân được tham gia góp ý vào quá trình xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan Đảng, Nhà nước trước Nhân dân. Cùng với đó, cụ thể hóa các giải pháp, điều kiện để thực hiện dân chủ ở cơ sở; xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xây dựng đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân; các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và người Việt Nam ở nước ngoài.
Tổ chức các đề án, đề tài nghiên cứu thực tiễn về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, tăng cường công tác dân vận, thắt chặt và làm sâu sắc hơn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Khẳng định đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của Nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chuyên đề 6: “Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đại hội XIV”

Đồng chí Phan Văn Giang cho biết, Đại hội XIV của Đảng đã bàn thảo kỹ lưỡng, quyết định những chủ trương chiến lược về quốc phòng với tư duy nhận thức mới, trong đó, có 5 nội dung.
Thứ nhất, về mục tiêu quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIV xác định bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên định bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng…
Thứ hai, về nhiệm vụ quốc phòng. Đại hội XIV đã xác định tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là nòng cốt nhưng có bước phát triển. Khẳng định tăng cường quốc phòng an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu thường xuyên. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc; xây dựng quy hoạch tổng thể thế trận quốc phòng gắn với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đối ngoại của đất nước cũng như từng khu vực, từng địa phương phù hợp với địa giới hành chính mới và các hình thái chiến tranh, các phương thức tác chiến mới hiện đại. Đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ dân sự, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, phương án để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội trong thời bình. Đại hội XIV cũng xác định tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao khả năng huy động đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống quốc phòng…
Thứ ba, về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đại hội XIII xác định, đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa”, “5 vững” và mục tiêu “quyết tâm nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị tiên tiến, hiện đại”.
Thứ tư, về xây dựng công nghiệp quốc phòng. Đại hội XIV xác định đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Cùng với tiếp tục khẳng định tính lưỡng dụng, hiện đại trong Văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV bổ sung thêm các thành tố “tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại” trong phát triển công nghiệp quốc phòng nhằm phát huy nội lực, tự lực tiến tới tự chủ chiến lược trong suốt quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất và phát triển; không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm chất lượng ngày càng cao…
Thứ năm, về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh theo phương châm chủ động, linh hoạt, thực chất, hiệu quả, toàn diện cả song phương và đa phương, là một trụ cột đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Chuyên đề 7: “Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV”

Theo Bộ trưởng Bộ Công an, “Tự chủ chiến lược về an ninh” là nhận thức, tư duy mới thể hiện xuyên suốt các văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trong đó, để thực hiện tự chủ chiến lược về an ninh, Đảng ta yêu cầu 5 trụ cột: Chủ động nhận diện, ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm, từ xa các nguy cơ, rủi ro an ninh; Chủ động chuẩn bị nguồn lực quốc gia, nâng cao khả năng huy động, đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống quốc phòng, an ninh; Xây dựng và củng cố năng lực tự chủ, tự cường về công nghệ, nhân lực chất lượng cao trong bảo đảm an ninh; Tạo đột phá về phát triển công nghiệp an ninh tự lực, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại gắn với tăng cường đầu tư hợp lý nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền an ninh hiện đại, vững mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao; Chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, vì “Thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững”; đồng thời “Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại an ninh, tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm hoạ”…
Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Phụ lục Danh mục các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến” để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Trong đó, Chương trình hành động xác định 9 nhóm nhiệm vụ triển khai các quan điểm, chủ trương về an ninh. Theo đó, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế an ninh. Thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng về an ninh nhân dân; rà soát, đôn đốc triển khai thực hiện có hiệu quả các cam kết, thoả thuận quốc tế trên lĩnh vực an ninh. Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hòn Khoai và các đảo tiền tiêu khác.
Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tiến tới xây dựng nền an ninh hiện đại gắn với phát triển công nghiệp an ninh. Tăng cường xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống. Tăng cường đầu tư, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực an ninh. Xây dựng công nghiệp an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bảo đảm an ninh số, an ninh mạng, an ninh, an toàn thông tin; bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bảo đảm chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống và bảo đảm môi trường số an toàn, ổn định cho phát triển. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh và Tăng cường, mở rộng tiềm lực đối ngoại an ninh.
Chuyên đề 8: “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”

Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh đường lối đối ngoại Đại hội XIV là một bộ phận trong tổng thể đường lối của Đảng, kế thừa truyền thống đối ngoại, ngoại giao của dân tộc ta, các nội hàm cốt lõi, xuyên suốt từ các kỳ Đại hội trước và phản ánh các thành tựu đạt được trong suốt lịch sử Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thế và lực mới của đất nước ta sau 40 năm Đổi mới. Đường lối đối ngoại Đại hội XIV có nhiều đổi mới về tư duy, có tính đột phá mạnh mẽ đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và những biến động lớn hết sức nhanh, phức tạp trong tình hình thế giới, khu vực hiện nay. Theo đó, tại văn kiện Đại hội lần thứ XIV, Đảng khẳng định “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”.
Mục tiêu của đường lối đối ngoại Đại hội Đảng XIV là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Theo Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, trong kỷ nguyên mới, đối ngoại phải thể hiện rõ tâm thế mới, khát vọng mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, phải góp phần hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm mà Đảng đã đề ra và mong ước của Bác Hồ là đưa Việt Nam “sánh vai các cường quốc năm châu”. Theo đó, để tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước, đối ngoại trong kỷ nguyên mới cần đáp ứng 3 yêu cầu.
(1) Góp phần giữ vững môi trường hòa bình, nhận diện và hóa giải các nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tranh thủ thời cơ, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi cho đất nước, tạo dựng các khuôn khổ quan hệ bền vững, có chiều sâu, ổn định, thực chất với các đối tác; định vị đất nước một cách có lợi nhất trong trật tự thế giới mới.
(2) Chủ động phát huy vai trò đi trước, mở đường trong việc tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để phục vụ các lợi ích an ninh, phát triển của đất nước, đóng góp thiết thực cho mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội mới, 3 đột phá chiến lược và các chuyển đổi quan trọng của đất nước. Đặc biệt, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ sau Đại hội Đảng XIV.
(3) Góp phần nâng cao vị thế, uy tín, hình ảnh đất nước trên trường quốc tế; huy động được sự giúp đỡ, tin tưởng và đồng hành của bạn bè, đối tác quốc tế đối với vai trò, vị thế lớn hơn của ta trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới, đúng như tinh thần văn kiện là “tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”, góp phần xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế.
Chuyên đề 9: “Đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 – 2030), định hướng, lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 – 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”

Về Đề án tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930- 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 – 2130), dự kiến tập trung vào 3 nội dung lớn:
Thứ nhất, nội dung tổng kết quá trình 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam vừa theo từng giai đoạn, chặng đường; vừa kết hợp với tổng kết theo các vấn đề lớn xuyên suốt 100 năm. Thời điểm bắt đầu tính 100 năm lãnh đạo là từ ngày 3/2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Nhóm nội dung này nhằm làm rõ quá trình hình thành, bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng, sự vận động, điều chỉnh kịp thời của các chủ trương, chính sách của Đảng trước những biến đổi lớn của tình hình trong nước và quốc tế.
Thứ hai, về những bài học lớn, mang tính quy luật trong 100 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dự kiến tập trung làm rõ, bổ sung, làm sâu sắc các bài học lớn, mang tính quy luật trên các tuyến vấn đề: về kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; về lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, nhóm nội dung về Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới đến năm 2045 và tầm nhìn 100 năm thứ hai. Trên cơ sở nhìn lại 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đúc kết những bài học lớn, mang tính quy luật, phân tích dự báo những xu thế lớn của thế giới trong 100 năm tới, nội dung này sẽ xác định tầm nhìn của Đảng trong 100 năm tiếp theo (2030 – 2130) cùng với những chiến lược lớn, định hướng lớn nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng để lãnh đạo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2130.
Về Đề án Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội dự kiến tập trung vào 5 nội dung lớn:
Một là, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phần này dự kiến sẽ làm rõ bối cảnh, xu thế phát triển, đặc điểm của thời đại và đặc điểm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong 40 năm qua; lộ trình, bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; các trụ cột phát triển của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ đó đề xuất kiến nghị một số vấn đề về quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Hai là, một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực hiện các định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Phần này dự kiến sẽ đánh giá sự phát triển nhận thức, lý luận, kết quả thực hiện, nêu rõ những thành tựu và hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong triển khai các phương hướng lớn trong Cương lĩnh trên các lĩnh vực trọng yếu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế… trong suốt chặng đường 40 năm.
Ba là, một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Phần này dự kiến sẽ tổng kết sự phát triển lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng cầm quyền, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; qua đó đề xuất định hướng tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn mới.
Bốn là, đánh giá tổng quát, bài học và những vấn đề đặt ra sẽ đánh giá khái quát những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong 40 năm thực hiện Cương lĩnh; rút ra các bài học lớn, đồng thời xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và những điểm nghẽn cần tháo gỡ; dự kiến tập trung vào các tuyến vấn đề: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; dân là gốc, nhân dân làm trung tâm, nhân dân là chủ thể; phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, bối cảnh mới và những đề xuất, kiến nghị sẽ dự báo bối cảnh đến năm 2045, tầm nhìn đến cuối thế kỷ XXI; làm rõ những chuyển biến lớn của bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước; nhận diện kịp thời thời cơ, thách thức và các xu hướng chi phối sự phát triển đất nước; xác lập mô hình phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới; đề xuất định hướng mục tiêu và giải pháp lớn phát triển đất nước, những nội dung cần thiết phục vụ việc xây dựng dự thảo Cương lĩnh xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Đồng chí Đoàn Minh Huấn đề nghị trong quá trình tổng kết, cần nghiên cứu hệ thống các văn kiện của Đảng trong từng thời kỳ để làm rõ đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng; đồng thời xem xét, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện. Kết hợp chặt chẽ, bảo đảm sự liên thông, thống nhất giữa tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam với tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh. Đồng thời, tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới về lịch sử Đảng và cách mạng Việt Nam; phát huy dân chủ rộng rãi, tạo diễn đàn để các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, đảng viên và nhân dân trao đổi, thảo luận, đóng góp ý kiến. Ứng dụng công nghệ thông tin vào tổng kết; xây dựng trang web, cơ sở dữ liệu về tổng kết 100 năm Đảng, tạo nền tảng trực tuyến để lưu trữ, chia sẻ thông tin, tài liệu và kết quả nghiên cứu; sử dụng các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền, tương tác và thu thập ý kiến đóng góp từ cộng đồng trực tuyến.
Về tổ chức thực hiện, đồng chí Đoàn Minh Huấn cho biết dự kiến sẽ thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 – 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban; lập Cơ quan Thường trực, Tổ Biên tập tổng kết và các nhóm Tổng kết ở Trung ương, mỗi nhóm do một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị hoặc Ủy viên Ban Bí thư làm trưởng nhóm, để làm lực lượng nòng cốt thực hiện tổng kết. Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng các Đề cương nội dung tổng kết. Phối hợp chặt chẽ giữa các nhóm tổng kết.
Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương; giao Hội đồng Lý luận Trung ương là Cơ quan Thường trực, giúp Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung công việc tổng kết. Ban Chỉ đạo ra quyết định thành lập Tổ Biên tập tổng kết.
Căn cứ vào nội dung tổng kết, Ban Chỉ đạo Trung ương yêu cầu các bộ, ngành và tỉnh, thành phố thành lập các ban chỉ đạo tổng kết của bộ, ngành, tỉnh, thành phố do đồng chí bí thư cấp uỷ làm trưởng ban; xây dựng kế hoạch; tiến hành tổng kết các chuyên đề phù hợp, tập trung vào các vấn đề của bộ, ngành, địa phương có ý nghĩa đối với toàn Đảng, toàn đất nước. Phân công Ban Bí thư có công văn giao nhiệm vụ tổng kết cho Đảng ủy Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và cấp ủy địa phương.
Chuyên đề 10: “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV”

Đồng chí Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, coi đây là một trong những phương thức hành động nhằm đảm bảo các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực hiện nghiêm túc, kịp thời và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động ngành kiểm tra; từng bước chuyển sang kiểm tra, giám sát trên dữ liệu số. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả và tạo bước tiến mới trong công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng, Ủy ban Kiểm tra các cấp. Triển khai thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và những nhiệm vụ do cấp ủy giao. Không để có “vùng trống” hoặc “vùng tối” mà công tác kiểm tra, giám sát không vươn tới được. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng giữa cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố và xét xử, giám sát xã hội.
6 nhiệm vụ trọng tâm triển khai công tác kiểm tra, giám sát được đồng chí Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh thời gian tới, đó là:
(1) Xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, có khả năng cảnh báo sớm, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành vi phạm lớn và nghiêm trọng.
(2) Đẩy mạnh tập trung hoàn thành việc thực hiện kiểm tra, xử lý dứt điểm đối với các tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm liên quan đến các vụ án, vụ việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo đúng tiến độ.
(3) Tiếp tục hoàn thiện quy trình, quy định về công tác kiểm tra, giám sát đảm bảo khoa học, chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
(4) Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, tạo bước tiến mới trong công tác kiểm tra, giám sát. Chú trọng công tác kiểm tra giám sát ngay từ cơ sở, chủ động phòng ngừa, cảnh báo, xử lý vi phạm, tăng cường tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ ngay từ chi bộ. Kịp thời phát hiện, kiểm tra và xử lý với nguyên tắc “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.
(5) Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan, thận trọng và chặt chẽ. Có cơ chế chính sách đãi ngộ phù hợp để động viên cán bộ kiểm tra yên tâm công tác. Đây cũng là một cái nội dung rất quan trọng để chúng ta xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đáp ứng được yêu cầu.
(6) Tăng cường hơn nữa hiệu quả phối hợp và liên thông thông tin giữa cơ quan kiểm tra, giám sát với cơ quan tổ chức, tuyên giáo và dân vận, chính sách chiến lược, nội chính trong công tác kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng ngay từ khi mới ban hành góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Rà soát, xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp với các cơ quan thanh tra, kiểm toán, công an, viện kiểm sát, tòa án và thi hành án dân sự và các cơ quan liên quan trong phòng chống tham nhũng, lãng phí…
Đặc biệt, Hội nghị đã nghe bài phát biểu chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về những nội dung, nhiệm vụ định hướng hành động và yêu cầu trong tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu ngay sau Hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn. Xác định rõ những việc cần làm ngay, những khâu đột phá cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể.

Tiếp thu và đáp từ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và phát biểu kết thúc Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt, phổ biến, tuyên truyền Nghị quyết; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết theo hướng hành động, phát huy cao độ tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập, quán triệt” sang “hiểu sâu – hành động đúng – làm đến cùng”. Đồng thời, kết hợp hài hòa giữa phương thức truyền thống với phát huy hiệu quả các ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chú trọng kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả thực chất trong nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và trong từng bước triển khai thực hiện, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Thúy Vân



