Trung tá Hoàng Tiến Thật
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Thế kỷ XXI được xem là “Thế kỷ của đại dương”, là cơ hội và thách thức của các quốc gia ven biển trong phát triển kinh tế – xã hội. Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3.260 km, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ và vùng biển rộng lớn gấp ba lần diện tích đất liền. Biển không chỉ là không gian địa lý quan trọng mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc bảo vệ môi trường biển không chỉ là yêu cầu cấp thiết của phát triển bền vững mà còn là trách nhiệm quốc tế của Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã có những quan điểm, chính sách nhất quán và toàn diện về bảo vệ môi trường biển, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược phát triển bền vững đất nước.
Từ khóa: Quan điểm; chính sách; môi trường biển; hội nhập quốc tế; vai trò chiến lược.
1. Đặt vấn đề
Biển Việt Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước, với hệ sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao và nguồn lợi thủy sản dồi dào. Không chỉ là không gian kinh tế giàu tiềm năng về dầu khí, năng lượng tái tạo, vận tải và du lịch, vùng biển còn gắn liền với chủ quyền, quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, dân tộc. Bên cạnh tiềm năng to lớn, môi trường biển Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng: ô nhiễm từ đất liền ngày càng gia tăng, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp chưa qua xử lý, rác thải nhựa và hóa chất độc hại; thủy sản khai thác quá mức, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang tác động mạnh mẽ đến vùng ven biển, gây xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển; các hoạt động khai thác khoáng sản, dầu khí chưa được quản lý chặt chẽ gây ô nhiễm và suy thoái môi trường biển.
2. Kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển thời gian qua
Sau khi quán triệt, triển khai các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, công tác bảo vệ môi trường biển Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đánh dấu bước tiến quan trọng trong công cuộc phát triển bền vững. Nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường biển được nâng cao đáng kể, thể hiện qua sự tham gia tích cực của người dân vào các hoạt động bảo vệ và giám sát môi trường biển. Nhiều mô hình bảo vệ môi trường biển hiệu quả đã được nhân rộng trên phạm vi cả nước, tạo thành mạng lưới bảo vệ rộng khắp các vùng biển.
Chất lượng môi trường nước biển ở nhiều khu vực được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp kiểm soát ô nhiễm nguồn chặt chẽ và hiệu quả. Một số hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, rừng ngập mặn đang dần được phục hồi, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học biển. Đặc biệt, diện tích các khu bảo tồn biển được mở rộng đáng kể, hiện có 16 khu bảo tồn biển trên cả nước với tổng diện tích hơn 160.000 ha, tạo nên những “lá phổi xanh” cho đại dương1. Công tác quản lý khai thác thủy sản được tăng cường thông qua các quy định nghiêm ngặt hơn, góp phần bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản, bảo đảm sinh kế lâu dài cho ngư dân. Nhiều tỉnh ven biển đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, giảm thiểu đáng kể lượng ô nhiễm từ đất liền xả ra biển. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong giám sát môi trường biển đã giúp cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về chất lượng môi trường biển, tạo cơ sở cho việc ra quyết định và xử lý các vấn đề môi trường một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường biển vẫn còn nhiều hạn chế, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: “Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn,… Khả năng ứng phó, giảm thiểu tác hại của thiên tai và biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu”2. Năng lực giám sát, cảnh báo môi trường biển chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều vùng biển chưa được giám sát thường xuyên. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển vẫn diễn ra phổ biến, nhất là và ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp… vẫn để xảy ra một số sự cố môi trường gây hậu quả nghiêm trọng.
Việc phối hợp liên ngành trong quản lý môi trường biển chưa thực sự hiệu quả, còn tình trạng chồng chéo, trùng lặp chức năng. Nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường biển còn hạn chế so với yêu cầu, do ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, rác thải nhựa gây ra cái chết của nhiều loài sinh vật biển và phá hủy, suy giảm đa dạng sinh học biển; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều hạn chế, bất cập. Một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn, thiếu tính khả thi. Cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường biển chưa hiệu quả. Việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong bảo vệ môi trường biển còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.
3. Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường biển trong thời gian tới
Thứ nhất, Đảng luôn nhất quán quan điểm về bảo vệ môi trường biển.
Tại Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo… thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”3; “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường, tăng cường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường”4. Điều này thể hiện tư duy đồng bộ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường và an ninh – quốc phòng.
Tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định định hướng phát triển kinh tế biển bền vững, trong đó bảo vệ môi trường biển là yêu cầu xuyên suốt. Đảng xác định rõ: “Phát triển bền vững kinh tế biển phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, kiểm soát khai thác tài nguyên biển, phục hồi hệ sinh thái biển, gắn liền với bảo đảm quốc phòng an ninh,… tăng cường bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững các hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển”5. Quan điểm này cho thấy, sự nhất quán và vượt thời đại của Đảng trong nhìn nhận vai trò của môi trường biển.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển, đặt vấn đề bảo vệ môi trường ngang hàng với phát triển kinh tế – xã hội và là nhiệm vụ trung tâm của sự phát triển đất nước: “Phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”6. Đại hội XIV cũng đặt ra chỉ tiêu đến hết nhiệm kỳ 2030: “Tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia”7.
Đảng vận dụng sáng tạo tư tưởng phát triển bền vững vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định rõ mục tiêu tổng quát: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển”.
Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ phê duyệt chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục xác định: “Tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, công bằng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế;…”. Điều này được Đảng nhấn mạnh cần phải có cái nhìn tổng thể, liên ngành về môi trường biển, không tách rời bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế. Mọi hoạt động phát triển kinh tế biển phải bảo đảm hài hòa với khả năng chịu tải của môi trường biển, không hy sinh môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường biển.
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đảng xác định rõ bảo vệ môi trường biển cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam tích cực tham gia các tổ chức quốc tế, ký kết và thực hiện các công ước, hiệp định về bảo vệ môi trường biển như Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Công ước về đa dạng sinh học, các cam kết trong khuôn khổ ASEAN và các diễn đàn quốc tế. Đảng chủ trương phát huy vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về môi trường biển, đồng thời tranh thủ nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm từ cộng đồng quốc tế để nâng cao năng lực bảo vệ môi trường biển. Việt Nam cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp quốc, trong đó có mục tiêu 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển8.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển
Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật khá đồng bộ về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có nhiều quy định mới tiến bộ về quản lý, bảo vệ môi trường biển, trong đó xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong bảo vệ môi trường biển. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 là văn bản pháp luật chuyên ngành quan trọng, quy định toàn diện về điều tra cơ bản, quản lý tổng hợp, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Luật đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác quản lý môi trường biển. Ngoài ra, còn có nhiều luật khác có liên quan, như: Luật Biển Việt Nam, Luật Thủy sản, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản, Luật Đa dạng sinh học… cùng nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể các hoạt động liên quan đến môi trường biển. Hệ thống pháp luật này được liên tục hoàn thiện, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tiễn và các cam kết quốc tế.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý có hiệu quả vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường”.
Nhà nước đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó bảo vệ môi trường biển là một trong những trụ cột quan trọng. Chiến lược xác định “mục tiêu đến năm 2030, 100% nước thải công nghiệp, y tế, làng nghề ven biển phải được xử lý đạt quy chuẩn trước khi thải ra môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển có hệ thống xử lý nước thải tập trung”. Quy hoạch không gian biển quốc gia được xây dựng nhằm phân vùng chức năng, xác định các khu vực ưu tiên bảo vệ và phát triển, bảo đảm sử dụng không gian biển một cách hợp lý, hiệu quả. Các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng đều phải tích hợp yêu cầu bảo vệ môi trường biển.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm.
Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình, đề án quan trọng về bảo vệ môi trường biển. Chương trình quốc gia về quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ tập trung vào quản lý các hoạt động ven bờ, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường. Chương trình giám sát môi trường biển quốc gia được triển khai rộng khắp, cung cấp dữ liệu quan trọng về chất lượng môi trường biển. Đề án “Tăng cường năng lực ứng phó sự cố tràn dầu” nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và xử lý các sự cố môi trường biển nghiêm trọng.
Chương trình phục hồi rạn san hô, bảo vệ rừng ngập mặn được triển khai tại nhiều địa phương, góp phần khôi phục hệ sinh thái biển quan trọng. Đặc biệt, Nghị định số 48/NĐ-CP ngày 03/4/2023 đã đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030: “Ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát, ngăn ngừa và giảm thiểu; các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền và trên biển, các vấn đề về ô nhiễm xuyên biên giới, sự cố môi trường biển, ô nhiễm rác thải nhựa đại dương được quan trắc, kiểm soát và quản lý hiệu quả. Đến năm 2030, ở các đô thị ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định về môi trường và sức tải môi trường biển, khả năng phục hồi, chống chịu của hệ sinh thái biển, đảo”.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh vai trò của bảo vệ môi trường, đề ra phương hướng quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái: “Bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển, các khu bảo tồn thiên nhiên… Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; nâng cao năng lực dự báo và giám sát môi trường biển… Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển”.
Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi để khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào bảo vệ môi trường biển. Chính sách hỗ trợ tài chính cho các dự án công nghệ xanh, công nghệ sạch trong khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản được triển khai. Các ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển được quy định cụ thể. Chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề, chuyển đổi công cụ đánh bắt phù hợp với bảo vệ nguồn lợi thủy sản được triển khai. Cơ chế đền bù, hỗ trợ cho các cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ rừng ngập mặn, bảo tồn đa dạng sinh học biển được thiết lập, tạo động lực cho người dân tham gia bảo vệ môi trường.
4. Kết luận
Bảo vệ môi trường biển là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao và hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những quan điểm đúng đắn, chính sách toàn diện về bảo vệ môi trường biển. Từ các Nghị quyết Đại hội Đảng đến các văn bản pháp luật, chiến lược phát triển, chương trình hành động cụ thể, đều thể hiện sự nhất quán trong tư duy và quyết tâm bảo vệ môi trường biển gắn liền với phát triển kinh tế bền vững. Những kết quả đạt được trong thời gian qua là minh chứng cho tính đúng đắn của đường lối, chính sách.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường đầu tư nguồn lực, ứng dụng khoa học – công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Quan trọng hơn cả là cần huy động sự tham gia tích cực của toàn xã hội, để công tác bảo vệ môi trường biển trở thành trách nhiệm và ý thức tự giác của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp. Với tiềm năng biển to lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia biển phát triển bền vững, góp phần tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ đại dương, bảo vệ hành tinh xanh cho các thế hệ tương lai.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 11, 19, 21.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 94 – 95, 144.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 257 – 258.
8. Việt Nam tích cực chung tay bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương. https://vneconomy.vn/viet-nam-tich-cuc-chung-tay-bao-ton-va-su-dung-ben-vung-dai-duong.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Chính phủ (2023). Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 03/4/2023 phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
3. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
4. Quốc hội (1982). Luật Biển năm 1982.
5. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1316/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 phê duyệt Đề án tăng cường quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.
6. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2021). Hiện trạng môi trường biển Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020. H. NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.



