Phản bác quan điểm lợi dụng quyền tự do sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước

NCS. Phạm Văn Chiều
TS. Lê Thị Hằng
Học viện Chính trị khu vực IV,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, việc phát huy vai trò của nghệ thuật trong việc phản ánh chân thực, sâu sắc đời sống xã hội, truyền tải giá trị lịch sử là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, việc xuất hiện một số luận điệu mang tính xuyên tạc, đội lốt tự do sáng tạo nghệ thuật để cổ súy cho tư tưởng phản lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng và đòi hỏi một không gian tự do, sáng tạo để nghệ thuật “thỏa sức nhìn lại lịch sử”. Đây là luận điệu nguy hiểm cần được nhận diện và phê phán một cách nghiêm túc.

Từ khóa: Phản bác; lợi dụng quyền tự do sáng tác; lĩnh vực nghệ thuật; lịch sử.

1. Đặt vấn đề

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, trong đó có văn học – nghệ thuật, luôn là mặt trận trọng điểm. Việc sử dụng chiêu bài nghệ thuật cần tự do tuyệt đối để nhìn lại lịch sử thực chất là thủ đoạn “mượn tay” nghệ sĩ để gieo rắc mầm mống hoài nghi, gây chia rẽ trong nội bộ xã hội, từng bước làm “mềm hóa” nhận thức của công chúng đối với những vấn đề lịch sử cốt lõi. Những âm mưu, chiêu trò của các thế lực thù địch đó cần được nhận diện rõ và xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

2. Nhận diện việc lợi dụng nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch

Các thế lực phản động, thù địch luôn đòi hỏi phải “tự do sáng tạo” để “phản biện lịch sử”, “nhìn lại lịch sử” nhưng lại cố tình né tránh trách nhiệm phải trung thực với sự thật lịch sử, phải xây dựng hệ giá trị văn hóa, đạo đức đúng đắn và phải phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, dân tộc. Đó không còn là nghệ thuật đúng nghĩa mà là hành vi “tự do trá hình” nhằm phục vụ mưu đồ cá nhân hoặc nhóm lợi ích. Ngoài ra, với tính chất thương mại hoá trong các sản phẩm nghệ thuật hiện nay, chúng ta cũng không khó bắt gặp các sản phẩm tuy không thể hiện đúng bản chất của lịch sử, không tôn trọng tính hiện thực, tính sự thật trong từng sự kiện, từng nhân vật nhưng vẫn được cường điệu hóa. Nắm bắt điều này, một số đối tượng thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu nhằm tách rời mối quan hệ giữa nghệ thuật và lịch sử, sâu xa đó là việc tách dần sự quản lý của Nhà nước đối với nghệ thuật.

Một là, trong giai đoạn hiện nay cần một không gian tự do sáng tạo để nghệ thuật thỏa sức nhìn lại lịch sử. Chúng cho rằng, sản phẩm nghệ thuật cũng như nghệ sĩ cần được thỏa sức nhìn lại lịch sử, kể cả các nhân vật lịch sử theo cách của mình. Chúng cũng lợi dụng chiêu bài “tự do ngôn luận”, tự do sáng tạo về nghệ thuật để xây dựng hình tượng nhân vật trong nghệ thuật với màu sắc hoài nghi các anh hùng dân tộc, về vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, từ đó gieo rắc sự hoài nghi, chia rẽ niềm tin của quần chúng nhân dân với vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Hai là, với những sản phẩm mang yếu tố lịch sử nên mở lòng hơn nữa với biên độ sáng tạo của những người làm nghệ thuật. Trong đó, cần quan tâm, khích lệ những người làm nghệ thuật có yếu tố lịch sử. Chúng cho rằng, nhiều giai đoạn thiếu tư liệu chính xác và ngay cả khi có tài liệu thì những sản phẩm nghệ thuật cũng cần có nhiều góc nhìn từ sự sáng tạo của người làm nghệ thuật. Chúng biện luận, lịch sử đã qua có tính chất mơ hồ, chi phối trong cách diễn ngôn thời đại, thể chế, chính trị, văn hóa và cả sự vây bọc của thời gian đã làm cho lịch sử khó có thể minh định và từ đó cần một sự tự do, sáng tạo cho người làm nghệ thuật có yếu tố lịch sử.

Ba là, âm mưu trong sáng tác và đòi hỏi tôn trọng tính giải trí hơn là tính hiện thực trong các sản phẩm nghệ thuật. Do đó, chúng yêu cầu có cái nhìn công tâm, cởi mở hơn dù có những thiếu sót trong sự sai lệch về lịch sử thông qua việc tôn trọng tính giải trí và không nên so sánh với những tác phẩm kinh điển phản ánh đúng thực chất lịch sử trước đây.

Bốn là, chúng cho rằng sự kiểm duyệt và kêu gọi Nhà nước kiểm duyệt trong ngôn luận và sáng tạo với các sản phẩm nghệ thuật cũng là những hành vi của những người mang tâm thức nô lệ. Qua đó, âm mưu của chúng muốn Nhà nước không nên quá khắc khe với việc kiểm duyệt nghệ thuật, không nên có những “định kiến văn hóa, lịch sử” và nên “kiểm duyệt trong ngôn luận và sáng tạo” để phát triển văn hóa và nghệ thuật Việt Nam. Chúng cho rằng, việc xây dựng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực nghệ thuật cần “thoáng” hơn, cần để nghệ thuật và “nghệ sĩ” có cái nhìn mới và khác biệt với cái đã từng là lịch sử, từ đó cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận để đóng góp về lịch sử”, về quá trình xây dựng, phát triển cũng như trong công tác quản lý nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ năm, lợi dụng những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhiều đối tượng đã xoáy sâu vào sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và cho rằng, những hạn chế, bất cập tồn tại trong xã hội hiện nay xuất phát từ đó. Chúng hô hào đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm bịa đặt, khuếch trương những tiêu cực trong quản lý lĩnh vực nghệ thuật mang tính chất cục bộ, địa phương hoặc “đánh lận con đen” nhằm làm nghiêm trọng hoá các vấn đề tiến tới phức tạp, ảnh hưởng vĩ mô và hướng đến xây dựng một nền “nghệ thuật dân chủ”, “nghệ thuật tự do sáng tạo” nhưng hòng làm mất niềm tin đối với Hiến pháp, pháp luật cũng như công tác quản lý nhà nước về nghệ thuật trong các cơ chế, chính sách của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. “Tự do sáng tạo” không đồng nghĩa với “tự do bóp méo lịch sử”

Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, là thể hiện cảm xúc và tư duy cá nhân, nhưng không có nghĩa là được phép bẻ cong sự thật, xuyên tạc hiện thực. Việc “thỏa sức nhìn lại lịch sử” nếu không dựa trên tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và sự trung thực với quá khứ thì chẳng khác nào tạo điều kiện cho những kẻ cơ hội lợi dụng nghệ thuật để “viết lại lịch sử” theo ý đồ cá nhân hoặc phục vụ cho mưu đồ chính trị phản động.

Những năm gần đây, không ít tác phẩm nghệ thuật dưới danh nghĩa “tự do sáng tạo” đã cố tình xây dựng hình ảnh méo mó về những người anh hùng dân tộc, hạ thấp vai trò của Đảng, phủ nhận giá trị của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thậm chí cổ xúy cho tâm lý hoài nghi lịch sử dân tộc, làm xói mòn niềm tin của thế hệ trẻ. Đó là một dạng “phi nghệ thuật hóa lịch sử” đầy nguy hiểm.

Tự do sáng tạo là quyền thiêng liêng của người nghệ sĩ nhưng không phải là quyền tuyệt đối, càng khôngphải là giấy phép để lạm dụng lịch sử cho những mục tiêu lệch chuẩn. Sự sáng tạo nghệ thuật phải gắn liền với tính trung thực kể cả trong cảm xúc lẫn thông tin. Khi nghệ thuật đi vào lịch sử, nghệ sĩ không chỉ là người kể chuyện mà còn là người “chứng ngôn tinh thần” cho một thời đại, một dân tộc. Họ không có quyền bóp méo sự thật lịch sử chỉ để tạo hiệu ứng thị giác, gây sốc truyền thông hay thỏa mãn “cái tôi” cá nhân.

Một trong những đặc điểm cốt lõi của lịch sử là tính khách quan. Lịch sử không phải là chuyện cá nhân, không phải là cảm nhận riêng của người kể, mà là một quá trình vận động của xã hội, được kiểm chứng qua nhiều nguồn, được xây dựng trên nền tảng sự thật và trí tuệ tập thể. Việc nghệ sĩ nhân danh sáng tạo để “tái hiện” lịch sử theo cảm tính, thậm chí trái với những chứng cứ đã được khẳng định là biểu hiện của sự thiếu trách nhiệm nghiêm trọng.

Sự nguy hiểm không nằm ở hình thức tác phẩm mà nằm ở hệ giá trị mà nó truyền tải. Nếu công chúng tiếp nhận những tác phẩm xuyên tạc lịch sử một cách thụ động, nhất là thế hệ trẻ chưa đủ nền tảng để kiểm chứng, thì những hình ảnh sai lệch đó có thể “neo đậu” vào nhận thức xã hội, tạo ra hệ quả lâu dài và sâu rộng. Đó không còn là một “sáng tạo cá nhân” mà là một sự can thiệp vào trí nhớ tập thể, một hành vi cần được cảnh báo và ngăn chặn.

Khi nghệ thuật trở thành công cụ để xuyên tạc lịch sử, hậu quả của nó không chỉ dừng lại ở giới nghệ sĩ hay khán giả mà lan rộng tới toàn bộ không gian văn hóa, tinh thần của quốc gia. Những tác phẩm phản lịch sử có thể: (1) Gây hoang mang trong nhận thức cộng đồng, làm xói mòn niềm tin vào lịch sử chính thống; (2) Làm tổn thương đến danh dự của những anh hùng, liệt sĩ, thế hệ đi trước đã hy sinh vì độc lập, tự do dân tộc; (3) Tạo ra tâm lý hoài nghi, tiêu cực trong công chúng về vai trò của Đảng, Nhà nước, quân đội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; (4) Vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng làm công cụ tuyên truyền chống phá đất nước…

4. Không gian sáng tạo nghệ thuật chân chính phải đặt trong khuôn khổ đạo đức và pháp luật

Việt Nam nhất quán quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền tự do sáng tạo nghệ thuật, coi đây là một nguồn lực tinh thần quan trọng để bồi đắp văn hóa, xây dựng con người và phát triển đất nước. Điều cần nhấn mạnh là việc tôn trọng tự do sáng tạo không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý hay “thả nổi” giá trị. Trái lại, Nhà nước không cấm đoán hay can thiệp phi lý vào tác phẩm nghệ thuật miễn là hoạt động sáng tạo ấy không đi ngược lại lợi ích quốc gia, không xâm phạm sự thật lịch sử và đạo đức xã hội. Ranh giới này không phải là hạn chế sáng tạo, mà là chuẩn mực văn hóa, pháp lý cần thiết để bảo đảm nghệ thuật phát triển lành mạnh, không bị lợi dụng, không bị đẩy lệch khỏi sứ mệnh phụng sự con người và cộng đồng quốc gia dân tộc.

Trên bình diện nguyên tắc, tự do sáng tạo là một quyền chính đáng, song quyền ấy luôn gắn với trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội. Nghệ thuật là sự kết tinh của tư tưởng, cảm xúc và trí tuệ, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, tác động đến nhận thức xã hội, đặc biệt trong các vấn đề nhạy cảm như lịch sử, chủ quyền, danh dự dân tộc và các giá trị đạo đức. Bởi vậy, một Nhà nước tôn trọng tự do sáng tạo không thể đứng ngoài nhiệm vụ bảo vệ những nền tảng chung của quốc gia. Nếu không có giới hạn chính đáng, không gian sáng tạo có thể bị biến dạng thành nơi hợp thức hóa sự xuyên tạc, kích động, hoặc phủ định những giá trị đã được lịch sử và Nhân dân khẳng định. Do đó, điều kiện không đi ngược lợi ích quốc gia, không xâm phạm sự thật lịch sử và đạo đức xã hội là điểm cân bằng giữa quyền tự do sáng tạo và lợi ích công cộng, giữa cái tôi của nghệ sĩ và cái chung của quốc gia dân tộc.

Ở góc độ chính sách, có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Việt Nam là khuyến khích tìm tòi, mở rộng biên độ sáng tạo, đồng thời, xây dựng cơ chế để nghệ thuật phát triển trong khuôn khổ hiến định. Nói cách khác, Nhà nước không chọn cách ứng xử cực đoan theo hướng hoặc tự do tuyệt đối, hoặc kiểm soát tuyệt đối mà chọn cách tiếp cận vừa bảo đảm quyền sáng tạo, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia và nền tảng giá trị. Quan điểm này thể hiện rõ trong định hướng: “Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích mọi tìm tòi, tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”1. Điều này cho thấy tinh thần nhất quán của mối quan hệ: khuyến khích – tôn trọng – tạo cơ chế; tức là Nhà nước mở đường bằng chính sách, bằng điều kiện phát triển, bằng sự ghi nhận vai trò của văn nghệ sĩ. Dựa trên lợi ích quốc gia dân tộc và các chuẩn mực đạo đức, pháp lý của một xã hội muốn phát triển bền vững không thể dung dưỡng những sản phẩm làm sai lệch hệ giá trị, làm lệch lạc nhận thức, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Cần nhìn nhận rằng, tự do sáng tạo được bảo vệ không phải để tạo ra một đặc quyền miễn trừ cho nghệ sĩ mà để nghệ sĩ có điều kiện phát huy tài năng, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần xây dựng con người. Khi luận điệu tự do tuyệt đối bị đẩy lên cực đoan, dễ trở thành công cụ “lập lờ” giữa sáng tạo và phá hoại khi lấy danh nghĩa nghệ thuật để hợp thức hóa sự bôi nhọ, phủ định, làm nhòe ranh giới đúng – sai, thật – giả. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ quyền tự do sáng tạo chân chính cũng đồng thời là đấu tranh chống sự lợi dụng tự do sáng tạo nhằm đi ngược lợi ích quốc gia, xâm phạm sự thật lịch sử và đạo đức xã hội.

Một cách nhìn nhận rõ ràng và nhất quán rằng, nghệ thuật không tồn tại như một “vùng xám” đứng ngoài đạo lý xã hội. Nghệ thuật là sản phẩm của hoạt động có ý thức, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và hệ giá trị của chủ thể sáng tạo; đồng thời, có khả năng tác động sâu sắc đến nhận thức, tình cảm và hành vi của con người. Chính vì vậy, mỗi tác phẩm nghệ thuật, dù mang đậm dấu ấn cá nhân đến đâu, cũng không thể được đặt ra ngoài các chuẩn mực đạo đức xã hội, ngoài lợi ích chung của cộng đồng và dân tộc.

Trong quá trình phát triển văn học, nghệ thuật, Đảng đã nhiều lần cảnh báo về những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo khi nghệ thuật bị đẩy ra ngoài ranh giới đạo lý. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Trong một số trường hợp, có biểu hiện cực đoan, chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại, thậm chí xuyên tạc, bóp méo lịch sử hoặc bị các thế lực thù địch lôi kéo, đã sáng tác và truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược lại với lợi ích của Nhân dân và đất nước…”2. Đây không chỉ là cảnh báo mang tính thời điểm mà là lời nhắc nhở có giá trị lâu dài về nguy cơ đạo lý khi nghệ thuật bị tách rời khỏi trách nhiệm xã hội.

Đáng chú ý hơn, không ít trường hợp đã xuất hiện khuynh hướng đề cao cái “tôi” cá nhân một cách cực đoan, biến tự do sáng tạo thành cái cớ để phủ nhận các giá trị chung. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng chỉ ra rằng “Cá biệt có hiện tượng “bôi đen” giá trị thiêng liêng của lịch sử, của chế độ, đề cao quá mức cái ‘tôi’ để kêu gọi tự do sáng tác”3… Khi cái “tôi” cá nhân được đặt cao hơn đạo lý xã hội, cao hơn lợi ích dân tộc thì nghệ thuật không còn là phương tiện bồi đắp con người mà trở thành công cụ gây nhiễu loạn nhận thức và làm tổn hại không gian văn hóa lành mạnh nhất là trong không gian xã hội hiện nay.

Chính vì vậy, việc xã hội lên án và loại bỏ những sản phẩm nghệ thuật bóp méo lịch sử, xuyên tạc giá trị truyền thống không phải là hành động phủ nhận tự do sáng tạo, mà là sự khẳng định vai trò của đạo lý như một chuẩn mực nền tảng. Nghệ thuật không thể được trao đặc quyền miễn trừ khỏi phán xét đạo đức. Trái lại, càng có sức lan tỏa lớn, nghệ thuật càng phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước xã hội. Điều này cũng phù hợp với quan điểm xuyên suốt của Đảng về mối quan hệ giữa tự do sáng tạo và trách nhiệm công dân, khi yêu cầu “Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá” 4.

Ở góc độ xây dựng con người và môi trường văn hóa, nghệ thuật không thể trung tính về giá trị. Một không gian văn hóa lành mạnh đòi hỏi phải có sự sàng lọc, phân định rõ ràng giữa cái tích cực và cái lệch chuẩn. Những tác phẩm cổ súy tư tưởng sai trái, làm méo mó lịch sử hoặc hạ thấp giá trị truyền thống không thể được dung dưỡng chỉ vì được gắn nhãn “nghệ thuật”. Định hướng này được thể hiện rõ trong yêu cầu: nghệ thuật phải góp phần “tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc”5, chứ không phải làm suy giảm niềm tin xã hội hay gây hoài nghi về các giá trị đã được khẳng định.

Cùng với đó, việc bảo vệ không gian văn hóa lành mạnh cũng gắn liền với yêu cầu hạn chế các khuynh hướng lệch lạc trong sáng tạo. Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”6 và tiếp tục được khẳng định rõ trong Báo cáo Chính trị của Đảng (khóa XIV). Điều này cho thấy, tự do sáng tạo luôn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đạo lý xã hội và trách nhiệm bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc. Việc kiên quyết lên án và loại bỏ những sản phẩm nghệ thuật đi ngược lại các chuẩn mực đạo lý không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là điều kiện cần thiết để bảo vệ sự trong sáng của đời sống văn hóa, giữ vững niềm tin xã hội và bảo đảm cho nghệ thuật phát triển đúng với sứ mệnh nhân văn vốn có của nó.

5. Giữ gìn sự thật lịch sử – trách nhiệm của nghệ sĩ chân chính

Trong thực tiễn sáng tạo, việc nhìn lại lịch sử bằng nghệ thuật cần được đặt trên cơ sở phân biệt rạch ròi giữa tái hiện và xét lại. Tái hiện lịch sử là làm sáng tỏ, làm sâu sắc thêm những giá trị đã được xác lập; còn xét lại lịch sử theo hướng phủ định bản chất, đảo lộn đúng – sai lại dẫn đến nguy cơ phá vỡ niềm tin xã hội. Bởi vậy, tự do sáng tạo không thể được hiểu là quyền “viết lại” lịch sử theo cảm xúc chủ quan. “Bản chất quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ nằm trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và được quy định bởi trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi con người đối với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”7. Trách nhiệm ấy đặc biệt quan trọng khi nghệ thuật tiếp cận các vấn đề lịch sử.

Trong bối cảnh hội nhập, sức ép từ các trào lưu tư tưởng, thị hiếu và vấn đề trao đổi toàn cầu lại có thể tác động mạnh mẽ đến cách nhìn nhận quá khứ. Điều này càng đòi hỏi nghệ sĩ phải có bản lĩnh chính trị và nền tảng tri thức vững vàng để không bị cuốn theo những cách tiếp cận phiến diện, cực đoan. Nhìn lại lịch sử để rút ra bài học cũng là cách để nghệ thuật góp phần củng cố niềm tin xã hội. Niềm tin ấy không đến từ việc che giấu hay né tránh lịch sử mà đến từ cách tiếp cận trung thực, nhân văn và có trách nhiệm. Khi nghệ thuật phản ánh lịch sử một cách chân thực, sinh động, nó giúp công chúng hiểu sâu hơn về những hy sinh, gian khổ và giá trị của độc lập, tự do. Đây cũng là nền tảng để nghệ thuật “phản ánh chân thật, sinh động sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước”8, qua đó góp phần xây dựng đồng thuận xã hội và tăng cường sức mạnh tinh thần của cộng đồng.

Đảng luôn khẳng định sự tôn trọng đối với cá tính sáng tạo và dấu ấn cá nhân của nghệ sĩ, song sự tôn trọng đó không tách rời mục đích chung. Các nghị quyết của Đảng cũng đã nhiều lần nhấn mạnh rằng “Tự do trong sáng tạo nghệ thuật và sự đa dạng về nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểu hiện được tôn trọng; dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo được khẳng định”9. Tuy nhiên, sự khẳng định cá tính sáng tạo phải được đặt trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích dân tộc và sự thật lịch sử, bởi chính lịch sử là điểm tựa để cá tính sáng tạo không rơi vào chủ nghĩa hư vô hay phủ định. Tinh thần này tiếp tục được củng cố qua yêu cầu “bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo”10. Như vậy, nhìn lại lịch sử bằng nghệ thuật không phải là hành động đơn lẻ của cá nhân mà là hoạt động mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, đòi hỏi sự tự giác, trách nhiệm và ý thức về mục đích sáng tạo.

Không gian sáng tạo mà xã hội dành cho nghệ sĩ là một bộ phận đặc biệt của đời sống văn hóa, nơi nuôi dưỡng cảm hứng, cá tính sáng tạo và những tìm tòi nghệ thuật đa dạng. Tuy nhiên, cần khẳng định dứt khoát rằng, không gian ấy không thể và không được hiểu như một “vùng trắng” vô giới hạn, đứng ngoài mọi chuẩn mực giá trị, để từ đó sản sinh ra những sản phẩm văn hóa độc hại, lệch chuẩn, thậm chí bị lợi dụng cho các mục đích chống phá. Tự do sáng tạo chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần yêu nước của người nghệ sĩ.

Ở góc độ xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, yêu cầu đặt ra không phải là hạn chế tự do sáng tạo mà là bảo đảm sự hài hòa giữa tự do cá nhân và trách nhiệm xã hội. Điều này được thể hiện rõ trong chủ trương “bảo đảm thực hiện quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật”11, đồng thời gắn chặt với việc định hướng mục đích đúng đắn của sáng tạo. Nghệ sĩ được quyền thể hiện cá tính, phong cách và dấu ấn riêng nhưng không được tách mình khỏi cộng đồng dân tộc và những giá trị nền tảng đã được xã hội thừa nhận. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã nêu rõ “quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng”12 và yêu cầu “tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật”13. Điều này cho thấy, không gian sáng tạo được bảo đảm không phải để dung dưỡng các khuynh hướng lệch lạc mà để thúc đẩy sự ra đời của những tác phẩm có chiều sâu tư tưởng, có giá trị bền vững đối với xã hội.

Tuy nhiên, chính trong bối cảnh mở rộng không gian sáng tạo ấy, vấn đề bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của nghệ sĩ trở nên đặc biệt quan trọng. Khi thiếu bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm, nghệ sĩ rất dễ bị lôi kéo, lợi dụng, biến sáng tạo thành công cụ phục vụ cho những mục đích ngoài nghệ thuật, thậm chí đi ngược lại lợi ích dân tộc. Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm vừa khuyến khích sáng tạo, vừa yêu cầu trách nhiệm xã hội, khi khẳng định: “Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ”14, đồng thời “nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc”15.

Ở đây, trách nhiệm công dân không phải là rào cản của sáng tạo mà là thước đo đạo đức nghề nghiệp. Người nghệ sĩ chân chính không sáng tạo để gây sốc, để thỏa mãn cái tôi cực đoan hay để đổi lấy sự chú ý nhất thời, mà sáng tạo để cống hiến, để làm giàu đời sống tinh thần của xã hội. Điều này gắn liền với nguyên tắc “tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”16, một nguyên tắc có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với việc xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ trong thời kỳ mới.

Như vậy, không gian sáng tạo không thể trở thành “vùng trắng” phi trách nhiệm. Đó là không gian của tự do có định hướng, của sáng tạo có ý thức và của cống hiến tự giác. Nghệ sĩ chân chính phải đủ bản lĩnh để không bị lợi dụng, đủ đạo đức nghề nghiệp để không đánh đổi giá trị dân tộc lấy lợi ích cá nhân và đủ tinh thần yêu nước để đặt sáng tạo của mình trong mối quan hệ với vận mệnh chung của đất nước. Chỉ khi đó, không gian sáng tạo mới thực sự trở thành môi trường sản sinh các giá trị văn hóa tích cực, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và phục vụ sự phát triển bền vững của dân tộc.

6. Kết luận

Tự do và sáng tạo trong nghệ thuật cần được tôn trọng và khuyến khích nhằm để nghệ thuật phục “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”17. Tuy nhiên, tự do và sáng tạo với các sản phẩm nghệ thuật cần tôn trọng những giá trị đã được lưu giữ, ghi nhận và phải quan tâm giữa cái tự do, sáng tạo cá nhân cùng trách nhiệm với xã hội, dân tộc và Nhân dân. Không lợi dụng quyền tự do, sáng tạo của cá nhân để xúc phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, Nhân dân và nguỵ biện cho những hành động xét lại. Cần quyết tâm đấu tranh, phản bác với những ý đồ rất xảo biện, thâm độc dựa vào quyền tự do, sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật để che giấu âm mưu “diễn biến hoà bình” trên mặt tư tưởng tại Việt Nam nói chung và hướng đến việc chống phá Đảng, Nhà nước nói riêng.

Chú thích: 
1, 3. Nguyễn Phú Trọng (2024). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 289, 285 – 286.
2, 9, 14, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006).Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 67. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 648, 645, 654.
4, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006).Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 57. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 309, 308, 322.
5, 8, 10, 12, 13, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014).Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 49, 55, 58 – 59, 44, 55, 53.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 145.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006).Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 48. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 484.
17. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự Thật, tr. 246.