Tác động của tái cấu trúc hành chính đến hiệu quả quản trị địa phương ở Việt Nam

ThS. Lê Đức Quang
Trường Đại học Thành Đông

(Quanlynhanuoc.vn) – Tái cấu trúc hành chính, bao gồm sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, là một trong những cải cách thể chế có quy mô và tác động sâu rộng ở Việt Nam hiện nay. Bài viết phân tích tác động của tái cấu trúc hành chính đến hiệu quả quản trị địa phương trên ba phương diện trọng tâm: (1) Cung ứng dịch vụ công; (2) Minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân; (3) Phân cấp, phân quyền và quản lý ngân sách địa phương. Từ đó, đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản trị địa phương ở Việt Nam.

Từ khóa: Tái cấu trúc hành chính; hiệu quả; tác động; quản trị địa phương.

1. Đặt vấn đề

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, kết của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở thực hiện tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai vận hành chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cấp cơ sở gồm: xã, phường, đặc khu) và kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện kể từ ngày 01/7/2025. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã triển khai tái cấu trúc hành chính với quy mô lớn, bao gồm: sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, làm thay đổi căn bản không gian quản trị ở địa phương. Việc thu gọn số lượng đơn vị hành chính, giảm tầng nấc trung gian và điều chỉnh phân công thẩm quyền được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tiết kiệm chi phí hành chính và cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công.

Tuy nhiên, trên phương diện quản trị, những thay đổi này cũng đặt ra các thách thức mới liên quan đến minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân và phân bổ nguồn lực. Do đó, việc đánh giá một cách toàn diện tác động của tái cấu trúc hành chính đến hiệu quả quản trị địa phương có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, bảo đảm cải cách hành chính đi vào thực chất và hướng tới mục tiêu quản trị nhà nước tốt.

2. Tái cấu trúc hành chính và quản trị địa phương ở Việt Nam

Thời gian qua, nhằm xây dựng nền tảng chính trị và pháp lý cho quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy trong toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng mang tính định hướng. Tiêu biểu có thể kể đến Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025), có hiệu lực từ ngày 16/6/2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) được xem là văn kiện có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống chính trị, xác lập rõ mục tiêu tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, khắc phục tình trạng chồng chéo, giảm bớt các cấp trung gian và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tái cấu trúc hành chính ở Việt Nam được triển khai với mục tiêu xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo chức năng; đồng thời nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trọng tâm cải cách là sắp xếp các đơn vị hành chính chưa đạt tiêu chuẩn và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương theo hướng giảm tầng nấc trung gian.

Quản trị địa phương là hoạt động của chính quyền địa phương với sự phối hợp của các tổ chức ngoài nhà nước và người dân trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật và huy động tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội của địa phương, hướng vào việc phát triển cá nhân và cộng đồng bền vững1. Quản trị địa phương có 3 chủ thể cơ bản: chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và người dân. Mỗi chủ thể có vai trò, vị trí và phương thức khác nhau trong phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn. Theo cách tiếp cận trên về quản trị, hiệu quả quản trị địa phương là thước đo của thể chế, thể hiện qua các phương thức, nguyên tắc, quan điểm định hướng để tìm ra giải pháp, cách thức tổ chức thực hiện cho được mục tiêu đưa địa phương phát triển nhanh, bền vững thông qua các yếu tố như minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân, hiệu quả sử dụng nguồn lực2.

Tái cấu trúc hành chính tác động đến hiệu quả quản trị địa phương thông qua việc: (1) Thay đổi cấu trúc tổ chức và phân công thẩm quyền; (2) Điều chỉnh phân bổ nguồn lực tài chính và nhân sự; (3) Tác động đến quan hệ giữa chính quyền và người dân. Hiệu quả của cải cách phụ thuộc vào mức độ đồng bộ giữa các kênh này và năng lực quản trị chuyển đổi của chính quyền địa phương.

3. Quy mô và tác động của tái cấu trúc hành chính đến quản trị địa phương Việt Nam

3.1. Quy mô của tái cấu trúch hành chính

Thực hiện Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025; Kết luận số 160-KL/TW ngày 31/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Để triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã giao sở Nội vụ ban hành quy định mẫu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND xã, phường, đặc khu theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Quy mô tái cấu trúc hành chính thể hiện qua sự thay đổi mạnh mẽ về số lượng đơn vị hành chính các cấp đã tạo ra những tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả cung ứng dịch vụ công ở địa phương. Tổng số đơn vị hành chính cấp tỉnh là 34 đơn vị (gồm 28 tỉnh và 6 thành phố), kết thúc hoạt động 696 đơn vị hành chính cấp huyện và đơn vị hành chính cấp xã còn 3.321 đơn vị kể từ ngày 01/7/2025. Các địa phương cũng đã giảm 710 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (giảm hơn 60%) và giảm 8.289 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (giảm 100%)3. Công tác tinh giản biên chế đạt kết quả tích cực: giai đoạn 2022 – 2026, biên chế công chức giảm trên 5%, biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách giảm trên 15%. Hiện nay, gần 147.000 người nghỉ việc theo chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp4.

 Việc giảm số đơn vị hành chính cấp tỉnh, chấm dứt tổ chức cấp huyện và thu hẹp mạnh số lượng đơn vị hành chính cấp xã làm gia tăng đáng kể quy mô quản lý của mỗi đơn vị hành chính sau sắp xếp. Những thay đổi này cho thấy, tái cấu trúc hành chính ở Việt Nam không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật mà là sự tái thiết không gian quản trị địa phương, kéo theo những tác động sâu rộng đến hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ công.

3.2. Tác động của tái cấu trúc hành chính đến quản trị địa phương

Thứ nhất, tác động đến hiệu quả cung ứng dịch vụ công.

Việc sáp nhập đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy có thể tạo ra hiệu quả kinh tế theo quy mô trong cung ứng dịch vụ công. Quy mô quản lý lớn hơn cho phép chính quyền địa phương tập trung nguồn lực, đầu tư đồng bộ vào hạ tầng, công nghệ và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Thực tiễn cho thấy, ở nhiều địa phương, cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính và cải thiện mức độ hài lòng của người dân.

Các chỉ số PAPI năm 2023 phản ánh bức tranh đa chiều về hiệu quả quản trị địa phương trong bối cảnh tái cấu trúc hành chính. Kết quả cho thấy, một số chiều đo quan trọng có xu hướng cải thiện, song vẫn tồn tại những điểm nghẽn đáng lưu ý. Cụ thể, điểm số về kiểm soát tham nhũng trong khu vực công đạt 6,77 điểm và tăng so với năm 2022 cho thấy, các nỗ lực tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và kiểm soát quyền lực ở cấp địa phương đã bước đầu phát huy tác dụng. Tương tự, chỉ số về thủ tục hành chính công đạt 6,94 điểm và có xu hướng tăng nhẹ, phản ánh tác động tích cực của cải cách thủ tục hành chính và triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại nhiều địa phương5.

Đối với chiều đo cung ứng dịch vụ công, điểm trung bình toàn quốc đạt 7,08 điểm và duy trì ở mức ổn định, cho thấy chất lượng các dịch vụ công cơ bản chưa có biến động lớn trong ngắn hạn. Điều này hàm ý rằng, trong giai đoạn đầu của tái cấu trúc hành chính, các địa phương nhìn chung vẫn duy trì được mức độ cung ứng dịch vụ công thiết yếu, song cải thiện về chất lượng và hiệu quả chưa thực sự rõ nét. Một điểm sáng đáng chú ý là chỉ số quản trị điện tử (E-governance) đạt 3,21 điểm và tăng rõ so với năm 2022, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của chuyển đổi số trong hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ công ở địa phương6. Việc mở rộng các nền tảng dịch vụ công trực tuyến, cổng thông tin điện tử và ứng dụng số đã góp phần bù đắp một phần những hạn chế về khoảng cách địa lý và quy mô quản lý gia tăng sau tái cấu trúc hành chính.

Chỉ số minh bạch trong quyết định địa phương chỉ đạt 5,92 điểm và có xu hướng giảm so với năm trước7. Kết quả này cho thấy minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin của người dân đối với các quyết định quan trọng ở địa phương vẫn là điểm yếu trong quản trị địa phương hiện nay. Trong bối cảnh tái cấu trúc hành chính làm mở rộng không gian quản trị và gia tăng quy mô đơn vị hành chính, sự suy giảm về minh bạch có thể làm hạn chế hiệu quả tổng thể của cải cách, làm suy giảm niềm tin của người dân và cản trở sự tham gia xã hội vào quá trình quản lý nhà nước. Do đó, để tái cấu trúc hành chính thực sự nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, cần đặc biệt chú trọng các cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình song hành với cải cách tổ chức và chuyển đổi số.

Bên cạnh những cơ hội nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công, tái cấu trúc hành chính cũng làm phát sinh một số rủi ro đáng lưu ý đối với quản trị địa phương, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp, như: một là, suy giảm khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân; hai là, nguy cơ gia tăng “xa dân” trong quá trình cung ứng dịch vụ công. Việc sáp nhập đơn vị hành chính làm gia tăng quy mô địa bàn và dân số quản lý, do đó, nếu chỉ tập trung tinh gọn đầu mối mà không tổ chức lại phương thức cung ứng dịch vụ công; ba là, năng lực thực thi của bộ máy hành chính địa phương. Tái cấu trúc hành chính thường kéo theo việc điều chỉnh nhân sự, phân công lại nhiệm vụ và thay đổi quy trình làm việc; bốn là, tiềm ẩn rủi ro về bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công giữa các địa phương và nhóm dân cư. Khi quy mô đơn vị hành chính tăng lên, các địa bàn trung tâm có xu hướng được ưu tiên phân bổ nguồn lực hơn so với các khu vực xa trung tâm, dẫn đến nguy cơ chênh lệch trong chất lượng dịch vụ công.

Thứ hai, tác động đến tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân.

Tái cấu trúc hành chính tạo điều kiện để chuẩn hóa quy trình quản lý và tăng cường ứng dụng công nghệ trong công khai, minh bạch thông tin. Dữ liệu từ Chỉ số PAPI năm 2023 cho thấy tái cấu trúc hành chính tác động đáng kể đối với tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân ở cấp địa phương. Cụ thể, điểm số về minh bạch trong quyết định địa phương chỉ đạt 5,92 điểm và có xu hướng giảm so với năm 2022, phản ánh những hạn chế trong công khai thông tin quy hoạch, ngân sách và các quyết định quan trọng ở địa phương. Bên cạnh đó, chỉ số trách nhiệm giải trình với người dân đạt 5,77 điểm và hầu như không có cải thiện, cho thấy các cơ chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại và giám sát của các thiết chế dân cử vẫn chưa phát huy hiệu quả tương xứng với yêu cầu quản trị hiện đại8. Chỉ số về sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở chỉ đạt 5,73 điểm, phản ánh mức độ tham gia còn hạn chế của người dân vào quá trình ra quyết định ở địa phương9. Qua dữ liệu trên, chỉ số trách nhiệm giải trình với người dân và chỉ số về sự tham gia ở cấp cơ sở đều ở mức trung bình thấp, cơ chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tham vấn cộng đồng bước đầu phát huy đầy đủ vai trò trong bối cảnh tổ chức hành chính được tái cấu trúc.

Tái cấu trúc hành chính tiềm ẩn những rủi ro đáng kể đối với tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính và mở rộng quy mô quản lý làm gia tăng khoảng cách về không gian và tổ chức giữa chính quyền và người dân, từ đó có thể làm suy giảm hiệu quả của các cơ chế công khai, giám sát và phản hồi ở cấp cơ sở. Khi phạm vi quản lý rộng hơn và bộ máy tổ chức phức tạp hơn, việc tiếp cận thông tin về quy hoạch, ngân sách, đầu tư công và các quyết định quan trọng của chính quyền địa phương trở nên khó khăn hơn đối với người dân, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, miền núi và vùng khó khăn. Bên cạnh đó, quá trình sáp nhập đơn vị hành chính có thể làm suy yếu các thiết chế dân chủ cơ sở nếu không được thiết kế lại phù hợp với mô hình quản trị mới. Việc thu hẹp số lượng đơn vị hành chính cấp xã và mở rộng địa bàn quản lý làm giảm tần suất tiếp xúc trực tiếp giữa chính quyền và người dân, trong khi các kênh tham gia thay thế thông qua môi trường số chưa được triển khai đồng đều.

Thứ ba, tác động đến phân cấp, phân quyền và quản lý ngân sách.

Tái cấu trúc hành chính đặt ra yêu cầu điều chỉnh căn bản cơ chế phân cấp, phân quyền và quản lý ngân sách địa phương. Mặc dù chính quyền địa phương hiện nay đảm nhiệm khoảng trên 50% tổng chi ngân sách nhà nước, khả năng tự chủ tài chính còn hạn chế, khi chỉ có một bộ phận nhỏ các địa phương có thể tự cân đối thu, chi ngân sách. Thực trạng này phản ánh sự mất cân đối giữa phân cấp nhiệm vụ chi và phân cấp nguồn thu, khiến nhiều địa phương phụ thuộc lớn vào bổ sung từ ngân sách trung ương. Trong bối cảnh tái cấu trúc hành chính làm gia tăng quy mô đơn vị hành chính và phạm vi quản lý, tình trạng “nhiệm vụ tăng nhưng nguồn lực không tăng tương xứng” trở nên rõ nét hơn. Do đó, để tái cấu trúc hành chính thực sự góp phần nâng cao hiệu quả quản trị địa phương, cần đồng bộ cải cách tổ chức bộ máy với đổi mới cơ chế phân cấp tài chính, tăng tính tự chủ ngân sách và minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực công.

Tái cấu trúc hành chính tiềm ẩn những rủi ro đáng kể đối với cơ chế phân cấp, phân quyền và quản lý ngân sách địa phương: (1) Việc mở rộng quy mô đơn vị hành chính và phạm vi quản lý sau sáp nhập làm gia tăng đáng kể khối lượng nhiệm vụ của chính quyền địa phương, trong khi cơ chế phân cấp tài chính và phân bổ ngân sách chưa được điều chỉnh kịp thời; (2) Việc sáp nhập đơn vị hành chính làm gia tăng quy mô ngân sách của mỗi địa phương nhưng đồng thời cũng làm phức tạp hơn công tác lập, phân bổ và kiểm soát chi tiêu công; (3) Tái cấu trúc hành chính cũng có thể làm suy giảm tính minh bạch tài khóa ở cấp cơ sở nếu không có cơ chế giám sát phù hợp, làm gia tăng nguy cơ thất thoát, lãng phí và sử dụng nguồn lực công kém hiệu quả.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị địa phương trong bối cảnh tái cấu trúc hành chính

Một là, cần thiết kế lại mạng lưới cung ứng dịch vụ công theo hướng bảo đảm tính gần dân trong điều kiện không gian quản trị được mở rộng sau tái cấu trúc hành chính.

Việc sáp nhập đơn vị hành chính làm gia tăng quy mô địa bàn và dân số quản lý, do đó nếu chỉ tập trung tinh gọn đầu mối mà không tổ chức lại phương thức cung ứng dịch vụ công sẽ làm gia tăng nguy cơ “xa dân”. Vì vậy, chính quyền địa phương cần duy trì các điểm cung ứng dịch vụ công tại cơ sở, đồng thời triển khai linh hoạt mô hình “một cửa” lưu động và đa dạng hóa hình thức cung ứng dịch vụ, nhất là tại khu vực nông thôn, miền núi. Điều này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, hạ tầng hành chính và nguồn nhân lực, cùng với cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các sở, ngành chuyên môn và chính quyền cấp cơ sở; trong đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giữ vai trò chỉ đạo, điều phối, còn chính quyền cơ sở trực tiếp tổ chức thực hiện.

Hai, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình như một trụ cột xuyên suốt của quá trình tái cấu trúc hành chính.

Trong bối cảnh quy mô đơn vị hành chính được mở rộng, yêu cầu công khai thông tin và giải trình của chính quyền địa phương càng trở nên cấp thiết nhằm duy trì niềm tin của người dân. Theo đó, cần mở rộng và chuẩn hóa việc công khai thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngân sách và đầu tư công; đồng thời, nâng cao hiệu quả các cơ chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phản hồi kiến nghị. Việc thực hiện giải pháp này phụ thuộc vào hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về minh bạch, nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và công bố thông tin, trong đó Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện chức năng giám sát, UBND các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giải trình, còn các tổ chức chính trị – xã hội tham gia giám sát xã hội.

Ba, cần điều chỉnh cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường tự chủ ngân sách địa phương nhằm bảo đảm sự tương thích giữa nhiệm vụ quản lý và nguồn lực tài chính.

Tái cấu trúc hành chính làm gia tăng quy mô và phạm vi nhiệm vụ của chính quyền địa phương, trong khi khả năng tự chủ tài chính còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “nhiệm vụ tăng nhưng nguồn lực không tăng tương xứng”. Do đó, cần đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách theo hướng gắn với kết quả đầu ra và chất lượng dịch vụ công, từng bước tăng quyền tự chủ trong quyết định chi tiêu của chính quyền địa phương. Việc triển khai giải pháp này đòi hỏi sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về phân cấp ngân sách, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chi tiêu công và nâng cao năng lực quản lý tài chính – ngân sách của địa phương, trong đó Chính phủ và Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì hoàn thiện thể chế, còn chính quyền địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giải trình.

Bốn là, cần phát triển năng lực quản trị chuyển đổi cho đội ngũ cán bộ, công chức địa phương nhằm hạn chế các gián đoạn trong cung ứng dịch vụ công do xáo trộn tổ chức và nhân sự.

Quá trình tái cấu trúc hành chính thường kéo theo điều chỉnh về tổ chức, phân công nhiệm vụ và nhân sự, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải thích ứng nhanh với mô hình quản trị mới. Vì vậy, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản lý thay đổi, phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước; đồng thời, hoàn thiện cơ chế đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ phù hợp với mô hình tổ chức mới. Điều kiện thực hiện là phải có chương trình đào tạo bài bản và chính sách hỗ trợ phù hợp cho cán bộ bị ảnh hưởng bởi quá trình sắp xếp, trong đó Bộ Nội vụ giữ vai trò chủ trì về thể chế và đào tạo, còn chính quyền địa phương chịu trách nhiệm triển khai ở cấp cơ sở.

Năm, cần thúc đẩy chuyển đổi số như một giải pháp hỗ trợ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và cải thiện trải nghiệm của người dân.

Trong điều kiện quy mô đơn vị hành chính được mở rộng, chuyển đổi số có vai trò bù đắp những hạn chế về khoảng cách địa lý và tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ công. Theo đó, cần phát triển các nền tảng dịch vụ công trực tuyến thân thiện, dễ sử dụng, tích hợp các kênh phản hồi của người dân và hỗ trợ nhóm yếu thế trong tiếp cận dịch vụ số. Việc triển khai giải pháp này phụ thuộc vào đầu tư hạ tầng số, nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, công chức và người dân cũng như bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, trong đó Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ và chính quyền địa phương các cấp phối hợp tổ chức thực hiện.

Sáu, cần tăng cường cơ chế giám sát và đánh giá tác động của tái cấu trúc hành chính nhằm kịp thời điều chỉnh chính sách.

Việc theo dõi thường xuyên tác động của tái cấu trúc hành chính đối với hiệu quả quản trị địa phương thông qua các chỉ số đo lường độc lập và các báo cáo đánh giá định kỳ là điều kiện quan trọng để bảo đảm cải cách đi vào thực chất. Giải pháp này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu và các tổ chức độc lập, đồng thời công khai kết quả đánh giá để tăng cường trách nhiệm giải trình, trong đó Chính phủ và các bộ, ngành liên quan giữ vai trò chủ trì, còn chính quyền địa phương và các tổ chức nghiên cứu tham gia thực hiện.

5. Kết luận

Tái cấu trúc hành chính là một bước đi quan trọng trong tiến trình cải cách nhà nước ở Việt Nam nhằm xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Cải cách này có tiềm năng tạo ra những chuyển biến tích cực đối với quản trị địa phương thông qua việc tập trung nguồn lực, chuẩn hóa quy trình và thúc đẩy đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ công. Việc mở rộng không gian quản trị và quy mô đơn vị hành chính có thể làm phát sinh các rủi ro về suy giảm tính gần dân, minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực nếu thiếu các cơ chế quản trị chuyển đổi phù hợp. Do đó, tái cấu trúc hành chính chỉ thực sự tăng cường công tác quản trị địa phương khi được triển khai đồng bộ với minh bạch, điều chỉnh cơ chế phân cấp, phân quyền và bảo đảm nguồn lực tương xứng. Đây là những điều kiện để bảo đảm tái cấu trúc hành chính đạt mục tiêu tinh gọn bộ máy, góp phần nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ người dân trong dài hạn.

Chú thích:
1, 2. Lê Thị Tươi (2025). Nâng cao hiệu quả quản trị địa phương để đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia tốt trong giai đoạn hiện nay. Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động số 01/2025, tr. 34.
3, 4. Bộ máy tinh gọn: Công chức giảm 5%, biên chế sự nghiệp giảm 15%. https://dantri.com.vn/thoi-su/bo-may-tinh-gon-cong-chuc-giam-5-bien-che-su-nghiep-giam-15-20251203085413226.htm.
5, 6, 7, 8, 9. Bộ Nội vụ (2023). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
2. Nguyễn Bá Chiến (2026). Chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước số 360 (1/2026).
3. Bùi Phương Đình (2026). Quản trị hành chính hiệu quả trong chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước số 360 (1/2026).
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính.
5. Mô hình quản trị địa phương tại Việt Nam: thực trạng và một số định hướng cải cách. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/06/13/mo-hinh-quan-tri-dia-phuong-tai-viet-nam-thuc-trang-va-mot-so-dinh-huong-cai-cach/