Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp cho Thành phố Cần Thơ

ThS. Nguyễn Thanh Tâm
Trường Chính trị Thành phố Cần Thơ

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển hợp tác xã nông nghiệp là một trong những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Trong đó, nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ quản lý hợp tác xã, giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả hoạt động và năng lực phát triển của hợp tác xã nông nghiệp. Bài viết làm rõ thực trạng phát triển nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hậu Giang (khi chưa sáp nhập tỉnh), chỉ ra những hạn chế mang tính cấu trúc đang cản trở quá trình đổi mới và phát triển của khu vực kinh tế hợp tác. Từ đó, đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp của Thành phố Cần Thơ trong bối cảnh mới (sau sáp nhập gồm Thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng).

Từ khóa: Nguồn nhân lực; hợp tác xã nông nghiệp; quản lý hợp tác xã; kinh tế tập thể; Thành phố Cần Thơ.

1. Đặt vấn đề

Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ chiến lược lâu dài trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp không chỉ là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp để liên kết nông dân mà còn là công cụ quan trọng nhằm tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và tăng cường khả năng cạnh tranh của nông sản.

Thực tiễn cho thấy hiệu quả hoạt động của nhiều hợp tác xã nông nghiệp hiện nay còn thấp, chưa phát huy được vai trò là “hạt nhân” trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ quản lý và điều hành hợp tác xã. Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi số và hội nhập thị trường ngày càng sâu rộng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp không chỉ dừng lại ở kinh nghiệm sản xuất mà còn đòi hỏi năng lực quản trị hiện đại, khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ và tư duy thị trường.

Tỉnh Hậu Giang (cũ) nay thuộc Thành phố Cần Thơ, là khu vực có đặc điểm sản xuất nông nghiệp điển hình của Đồng bằng sông Cửu Long. Việc nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp tại đây có ý nghĩa quan trọng, không chỉ phản ánh những vấn đề nội tại của khu vực kinh tế hợp tác, mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp của Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn tới.

2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp chiếm trên 80% tổng số hợp tác xã. Các hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp truyền thống như trồng lúa, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản và cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Quy mô hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp nhìn chung còn nhỏ và vừa, số lượng thành viên chủ yếu dao động từ vài chục đến hơn một trăm xã viên. Hoạt động của hợp tác xã tập trung nhiều vào cung ứng vật tư đầu vào và tổ chức sản xuất, trong khi mức độ liên kết theo chuỗi giá trị, đặc biệt là liên kết tiêu thụ ổn định với doanh nghiệp, còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực tổ chức, quản trị và điều hành của đội ngũ nhân lực hợp tác xã nông nghiệp. Mỗi hợp tác xã nông nghiệp hiện có trung bình từ 5 – 6 người tham gia bộ máy quản lý và điều hành, bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc, kế toán và một số cán bộ phụ trách kỹ thuật. Tổng số lao động tham gia hoạt động thường xuyên trong các hợp tác xã nông nghiệp đạt khoảng 6.500 người1. Cơ cấu này phản ánh đặc trưng của hợp tác xã nông nghiệp với trọng tâm là sản xuất, song cũng cho thấy sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ chuyên môn trong các lĩnh vực quản trị, thị trường và công nghệ.

Nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã nông nghiệp có xu hướng già hóa khá rõ. Tỷ lệ cán bộ quản lý dưới 40 tuổi chỉ chiếm khoảng 20-25%, trong khi nhóm từ 45 tuổi trở lên chiếm trên 50%2. Phần lớn cán bộ quản lý xuất thân từ nông dân sản xuất giỏi, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nhưng chưa được đào tạo bài bản về quản trị hợp tác xã.

Về trình độ học vấn, tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ đại học còn thấp. Trong các chức danh chủ chốt như chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc, tỷ lệ có trình độ đại học chỉ dao động từ 12-17%, số còn lại chủ yếu tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc chưa qua đào tạo chính quy về quản trị3. Ngược lại, nhóm cán bộ chuyên môn tài chính như kế toán và thủ quỹ có trình độ chuyên môn tương đối tốt, với trên 50% có trình độ đại học. Sự chênh lệch này phản ánh rõ nét hạn chế về năng lực quản trị tổng thể của bộ máy lãnh đạo hợp tác xã nông nghiệp. Trình độ tin học và khả năng ứng dụng khoa học – công nghệ của đội ngũ quản lý hợp tác xã nông nghiệp còn hạn chế. Khoảng 60-65% cán bộ quản lý chỉ sử dụng được các kỹ năng tin học cơ bản4; tỷ lệ có khả năng sử dụng thành thạo phần mềm quản lý, kế toán hoặc nền tảng số còn thấp. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chưa trở thành hoạt động phổ biến.

Về thị trường, chỉ khoảng 12,87% hợp tác xã nông nghiệp có hợp đồng liên kết tiêu thụ ổn định với doanh nghiệp hoặc tham gia chuỗi giá trị nông sản5. Phần lớn hợp tác xã vẫn phụ thuộc vào thương lái truyền thống, thiếu khả năng phân tích thị trường, xây dựng thương hiệu và phát triển kênh tiêu thụ bền vững. Điều này phản ánh mức độ năng động, nhanh nhạy trong nắm bắt, liên kết thị trường sản xuất, tiêu thụ nông sản và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ nhất là công nghệ thông tin của người quản lý, điều hành hợp tác xã nông nghiệp còn chưa cao.

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong các hợp tác xã nông nghiệp cho thấy, những hạn chế mang tính cơ cấu, thể hiện ở sự già hóa đội ngũ quản lý, trình độ quản trị thấp, kỹ năng công nghệ và tư duy thị trường còn hạn chế. Những hạn chế này đang trở thành “điểm nghẽn” cản trở quá trình đổi mới mô hình hoạt động và nâng cao hiệu quả của hợp tác xã nông nghiệp.

Khoảng cách giữa yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, hội nhập thị trường với năng lực thực tế của nguồn nhân lực hợp tác xã nông nghiệp cho thấy, sự cần thiết phải có những điều chỉnh mạnh mẽ về chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt trong bối cảnh Thành phố Cần Thơ đang hướng tới vai trò trung tâm phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, thống nhất quan điểm phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã như một trụ cột chính sách của kinh tế tập thể. Thực tiễn cho thấy, việc ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã về vốn, cơ sở vật chất và kỹ thuật sản xuất trong thời gian qua chưa tạo ra sự chuyển biến tương xứng về hiệu quả hoạt động. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở việc năng lực quản lý và điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới dẫn đến hạn chế trong tổ chức sản xuất, quản trị tài chính và liên kết thị trường. Điều này phản ánh sự mất cân đối trong cách tiếp cận chính sách, khi đầu tư cho “điều kiện vật chất” chưa gắn chặt với đầu tư cho “năng lực con người”. Vì vậy, cần thống nhất quan điểm coi phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã là trụ cột của chính sách phát triển kinh tế tập thể. Quan điểm này cần được thể chế hóa trong các chương trình, đề án phát triển hợp tác xã của Thành phố Cần Thơ theo hướng chuyển từ hỗ trợ mang tính ngắn hạn sang đầu tư dài hạn cho năng lực quản trị. Khi nguồn nhân lực quản lý được đặt ở vị trí trung tâm, các chính sách về vốn, khoa học, công nghệ và thị trường mới có điều kiện phát huy hiệu quả thực chất.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý hợp tác xã theo hướng chuyên nghiệp hóa. Kết quả khảo sát cho thấy, đội ngũ quản lý hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn Hậu Giang (cũ) phần lớn xuất thân từ nông dân sản xuất giỏi, giàu kinh nghiệm thực tiễn nhưng còn hạn chế về kiến thức quản trị hiện đại, tài chính và chiến lược phát triển. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc nhiều hợp tác xã thiếu phương án sản xuất – kinh doanh khả thi, yếu trong tổ chức liên kết thị trường và quản trị rủi ro. Do đó, cần xây dựng và áp dụng khung năng lực đối với các chức danh quản lý chủ chốt, như: chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc và phó giám đốc hợp tác xã. Khung năng lực này cần xác định rõ các nhóm năng lực cốt lõi: quản trị sản xuất – kinh doanh, quản trị tài chính, tổ chức liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Việc chuẩn hóa năng lực không chỉ căn cứ cho đào tạo, bồi dưỡng mà còn là cơ sở để đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ quản lý hợp tác xã, đồng thời gắn trực tiếp với điều kiện tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã theo hướng gắn với thực tiễn hoạt động. Một hạn chế phổ biến hiện nay là công tác đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã còn thiên về lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn sản xuất – kinh doanh của hợp tác xã. Nhiều cán bộ quản lý sau đào tạo vẫn gặp lúng túng trong xây dựng kế hoạch sản xuất, quản lý tài chính và tổ chức liên kết tiêu thụ nông sản. Vì vậy, cần đổi mới nội dung và phương thức đào tạo theo hướng lấy hoạt động thực tiễn của hợp tác xã làm trung tâm. Đào tạo cần gắn với các “bài toán cụ thể” như lập phương án sản xuất – kinh doanh, xây dựng và thực hiện hợp đồng liên kết, quản lý dòng tiền và tổ chức sản xuất theo yêu cầu thị trường. Cách tiếp cận “học đi đôi với làm” sẽ giúp nâng cao năng lực vận dụng của đội ngũ quản lý hợp tác xã, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua kết quả hoạt động thực tế của hợp tác xã.

Thứ tư, trẻ hóa đội ngũ quản lý và bảo đảm tính kế thừa trong quản trị hợp tác xã. Xu hướng già hóa đội ngũ quản lý hợp tác xã nông nghiệp đang trở thành rào cản đối với khả năng đổi mới và thích ứng của hợp tác xã trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện đại. Việc thiếu lực lượng cán bộ trẻ có trình độ về quản trị, công nghệ và thị trường làm suy giảm năng lực cạnh tranh và hạn chế khả năng tiếp cận các mô hình sản xuất – kinh doanh mới. Do đó, cần có giải pháp mang tính chiến lược nhằm trẻ hóa đội ngũ quản lý hợp tác xã thông qua cơ chế thu hút lao động trẻ, có trình độ chuyên môn tham gia quản lý hợp tác xã. Việc thu hút này cần gắn với chính sách hỗ trợ về đào tạo, thu nhập và môi trường làm việc, đồng thời kết hợp với cơ chế chuyển giao kinh nghiệm giữa đội ngũ quản lý lớn tuổi và lực lượng kế cận, bảo đảm tính ổn định và liên tục trong quản trị hợp tác xã.

Thứ năm, nâng cao năng lực ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số cho đội ngũ quản lý hợp tác xã. Hạn chế về trình độ tin học và khả năng ứng dụng công nghệ của cán bộ quản lý hợp tác xã là rào cản lớn đối với nâng cao hiệu quả quản trị và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Trong khi đó, chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa và liên kết chuỗi giá trị. Do đó, cần tập trung bồi dưỡng kỹ năng tin học ứng dụng phục vụ công tác quản lý hợp tác xã như quản lý dữ liệu thành viên, kế toán, theo dõi sản xuất, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ quản lý hợp tác xã không chỉ giúp cải thiện hiệu quả quản trị nội bộ mà còn tạo nền tảng để hợp tác xã tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị nông sản và các chương trình hỗ trợ phát triển thị trường.

Thứ sáu, phát triển năng lực thị trường và quản trị liên kết chuỗi giá trị cho đội ngũ quản lý hợp tác xã. Tỷ lệ hợp tác xã nông nghiệp có hợp đồng liên kết tiêu thụ ổn định với doanh nghiệp còn thấp phản ánh rõ hạn chế về năng lực thị trường của đội ngũ quản lý hợp tác xã. Việc thiếu kiến thức và kỹ năng về phân tích thị trường, xây dựng thương hiệu và quản trị hợp đồng khiến hợp tác xã khó chủ động trong tiêu thụ sản phẩm và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường. Vì vậy, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực thị trường cho đội ngũ quản lý hợp tác xã, bao gồm: kỹ năng phân tích nhu cầu thị trường, xây dựng thương hiệu nông sản, marketing và quản trị hợp đồng liên kết. Nâng cao năng lực thị trường sẽ giúp hợp tác xã giảm phụ thuộc vào thương lái truyền thống, từng bước chuyển sang mô hình sản xuất gắn với chuỗi giá trị và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp.

Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được đặt trong môi trường thể chế và chính sách phù hợp. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ quản lý hợp tác xã, bảo đảm tính đồng bộ, ổn định và lâu dài trong triển khai. Trong đó, cần tăng cường vai trò của Liên minh Hợp tác xã, các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước trong việc tư vấn, hỗ trợ và đồng hành cùng hợp tác xã. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tạo nền tảng bền vững cho phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã trên địa bàn Hậu Giang (cũ), đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tập thể của Thành phố Cần Thơ trong thời gian tới.

Phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã nông nghiệp không chỉ là vấn đề nâng cao năng lực nội tại của từng hợp tác xã mà là quá trình đòi hỏi sự hỗ trợ đồng bộ về thể chế, chính sách và nguồn lực quốc gia. Việc triển khai các giải pháp chỉ có thể đạt hiệu quả bền vững khi được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế tập thể và nông nghiệp của Thành phố. Do đó, từ yêu cầu thực tiễn của địa bàn nghiên cứu là tỉnh Hậu Giang (cũ), việc tiếp tục đề xuất các khuyến nghị chính sách ở cấp Thành phố Cần Thơ là cần thiết nhằm tạo khuôn khổ chính sách phù hợp, bảo đảm tính liên thông giữa giải pháp ở cơ sở và định hướng phát triển trong giai đoạn tới.

4. Khuyến nghị chính sách

Thứ nhất, thể chế hóa phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã như một nội dung trọng tâm trong chính sách kinh tế tập thể của Thành phố. Thành phố Cần Thơ cần sớm cụ thể hóa quan điểm coi nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động và khả năng phát triển bền vững của khu vực kinh tế tập thể. Quan điểm này cần được thể chế hóa trong các chương trình, đề án và kế hoạch phát triển hợp tác xã của thành phố, tránh tình trạng chính sách chỉ dừng lại ở hỗ trợ vốn, hạ tầng và kỹ thuật sản xuất. Việc đưa mục tiêu phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã trở thành một cấu phần bắt buộc trong chính sách kinh tế tập thể sẽ tạo cơ sở pháp lý và định hướng thống nhất cho các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng cán bộ quản lý hợp tác xã trong toàn Thành phố.

Thứ hai, xây dựng khung chuẩn năng lực và cơ chế đánh giá đội ngũ quản lý hợp tác xã gắn với thụ hưởng chính sách. Một trong những hạn chế hiện nay là thiếu tiêu chí thống nhất để đánh giá năng lực đội ngũ quản lý hợp tác xã, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực hỗ trợ còn mang tính bình quân. Do đó, Thành phố Cần Thơ cần xây dựng và ban hành khung chuẩn năng lực đối với các chức danh quản lý chủ chốt của hợp tác xã nông nghiệp, làm căn cứ cho đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng cán bộ. Trên cơ sở khung năng lực này, cần từng bước gắn việc thụ hưởng các chính sách hỗ trợ (vốn, đất đai, khoa học, công nghệ, xúc tiến thương mại) với mức độ đáp ứng chuẩn năng lực quản lý của từng hợp tác xã. Cách tiếp cận này vừa tạo động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

Thứ ba, đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã theo hướng dài hạn và gắn với kết quả. Thành phố cần chuyển từ mô hình đào tạo ngắn hạn, rời rạc sang xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã theo lộ trình, gắn với từng vị trí việc làm và từng giai đoạn phát triển của hợp tác xã. Nội dung đào tạo cần tập trung vào quản trị sản xuất, kinh doanh, quản trị tài chính, quản trị chuỗi giá trị và chuyển đổi số. Đồng thời, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả sau đào tạo thông qua kết quả hoạt động thực tế của hợp tác xã, coi đây là căn cứ để điều chỉnh nội dung đào tạo và phân bổ nguồn lực hỗ trợ trong các giai đoạn tiếp theo.

Thứ tư, ban hành cơ chế đặc thù thu hút và giữ chân nguồn nhân lực trẻ tham gia quản lý hợp tác xã. Để khắc phục xu hướng già hóa đội ngũ quản lý hợp tác xã, Thành phố Cần Thơ cần có chính sách khuyến khích lao động trẻ, có trình độ chuyên môn về quản trị, kinh tế và công nghệ tham gia làm việc tại hợp tác xã nông nghiệp. Các chính sách bao gồm hỗ trợ thu nhập ban đầu, đào tạo nâng cao, tạo cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc ổn định. Việc thu hút nhân lực trẻ không chỉ nhằm bổ sung nguồn nhân lực cho hợp tác xã mà còn góp phần đổi mới tư duy quản trị, nâng cao năng lực tiếp cận thị trường và khoa học, công nghệ, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của hợp tác xã trong dài hạn.

Thứ năm, tiếp tục tăng cường vai trò hỗ trợ, điều phối và kết nối của các cơ quan, tổ chức cấp thành phố. Thành phố Cần Thơ cần phát huy vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, Liên minh Hợp tác xã và các cơ sở đào tạo trong việc hỗ trợ, tư vấn và đồng hành cùng hợp tác xã trong phát triển nguồn nhân lực quản lý. Việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể này sẽ giúp khắc phục tình trạng hỗ trợ phân tán, thiếu liên kết, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Thông qua vai trò điều phối của Thành phố, các hợp tác xã nông nghiệp có điều kiện tiếp cận đồng bộ hơn với các nguồn lực đào tạo, khoa học, công nghệ và thị trường, qua đó nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả hoạt động trong bối cảnh phát triển mới.

5. Kết luận

Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn Hậu Giang giai đoạn 2021-2024 cho thấy, đội ngũ quản lý giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả hoạt động và khả năng phát triển bền vững của hợp tác xã trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Mặc dù hệ thống hợp tác xã nông nghiệp đã có bước phát triển nhất định về số lượng và quy mô, song chất lượng nguồn nhân lực quản lý vẫn còn nhiều hạn chế mang tính cơ cấu, thể hiện ở trình độ quản trị chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới, xu hướng già hóa đội ngũ, năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế, cũng như khả năng tiếp cận thị trường và tổ chức liên kết chuỗi giá trị còn yếu.

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các vấn đề đặt ra, bài viết đã luận giải hệ thống giải pháp phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã nông nghiệp theo hướng đồng bộ, coi nâng cao năng lực quản trị là nền tảng của đổi mới mô hình hợp tác xã. Các giải pháp không chỉ tập trung vào đào tạo, bồi dưỡng cá nhân mà hướng tới chuẩn hóa năng lực, trẻ hóa đội ngũ quản lý, nâng cao năng lực số và năng lực thị trường, gắn chặt với yêu cầu tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Cách tiếp cận này góp phần khắc phục tình trạng phát triển nguồn nhân lực mang tính manh mún, thiếu liên kết giữa mục tiêu, công cụ và kết quả.

Từ thực tiễn địa phương, bài viết mở rộng các khuyến nghị chính sách cho khu vực là Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập, nhấn mạnh yêu cầu thể chế hóa phát triển nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã như một trụ cột trong chính sách phát triển kinh tế tập thể. Việc đầu tư cho nguồn nhân lực quản lý hợp tác xã không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng hợp tác xã mà còn có ý nghĩa chiến lược trong thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và bảo đảm phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. Kết quả nghiên cứu, khảo sát của nhóm nghiên cứu đề tài cấp tỉnh tại Trường Chính trị Thành phố Cần Thơ, năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới. Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Chính phủ (2021). Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021–2030.
5. Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
6. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2023). Báo cáo tổng hợp về thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực hợp tác xã giai đoạn 2021-2023.
10. Liên minh Hợp tác xã tỉnh Hậu Giang (2024). Báo cáo tình hình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp năm 2024.
11. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2023. H. NXB Thống kê.