Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Bắc Ninh – Từ góc nhìn điều tra xã hội học

ThS. Lê Đình Vĩ
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh
ThS. Nguyễn Thị Dung
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở kết quả điều tra xã hội học đối với 1.000 người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh1, bài viết phân tích thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã có những chuyển biến tích cực bước đầu, thể hiện ở nhận thức xã hội được nâng lên, xu hướng giảm của một số biểu hiện tham nhũng và mức độ hài lòng tương đối cao của người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi giữa các cơ quan, địa phương còn chưa đồng đều; tình trạng tham nhũng vặt, nhũng nhiễu ở một số lĩnh vực vẫn tồn tại; niềm tin xã hội đối với cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo chưa thật sự vững chắc. Từ những kết quả điều tra và phân tích, bài viết luận giải một số vấn đề đặt ra và đề xuất các định hướng nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, gắn với cải thiện chất lượng quản trị địa phương trong thời gian tới.

Từ khóa: Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; điều tra xã hội học; quản trị công; Bắc Ninh.

1. Đặt vấn đề

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Tham nhũng, tiêu cực không chỉ gây thất thoát nguồn lực công, làm “méo mó” các quan hệ kinh tế – xã hội, mà còn trực tiếp làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng quản trị quốc gia. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa là yêu cầu cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành và triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp nhằm tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao, cách làm ngày càng bài bản, chặt chẽ, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy nhà nước và từng bước khôi phục, tăng cường niềm tin xã hội.

Ở cấp địa phương, đặc biệt là tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã, nơi trực tiếp tổ chức thực thi chính sách và thường xuyên tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây vừa là “tuyến đầu” trong cung ứng dịch vụ công, vừa là nơi dễ phát sinh các biểu hiện tham nhũng vặt, nhũng nhiễu nếu thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả. Do đó, đánh giá đúng thực trạng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở cấp này có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh các báo cáo hành chính và kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước, việc tiếp cận công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ góc nhìn của người dân và doanh nghiệp, những chủ thể trực tiếp chịu tác động của hoạt động quản lý nhà nước ngày càng được coi trọng. Các kết quả điều tra xã hội học không chỉ cung cấp những bằng chứng định lượng khách quan, mà còn phản ánh mức độ cảm nhận, niềm tin và sự hài lòng của xã hội đối với hiệu quả thực thi các chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thông qua kết quả điều tra xã hội học đối với người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở nhận diện những kết quả đạt được, những hạn chế và vấn đề đặt ra, bài viết góp phần luận giải một số định hướng nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, gắn với cải thiện chất lượng quản trị địa phương trong bối cảnh hiện nay.

2. Thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Bắc Ninh qua kết quả điều tra xã hội học 

Trên cơ sở kết quả điều tra xã hội học đối với 1.000 người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, có thể nhận diện tương đối toàn diện thực trạng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã hiện nay. Các kết quả khảo sát không chỉ phản ánh mức độ nhận thức, thái độ và niềm tin của xã hội, mà còn cho thấy hiệu quả thực thi các chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thực tiễn quản trị địa phương.

Trước hết, về nhận thức và mức độ quan tâm của người dân, doanh nghiệp đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kết quả điều tra cho thấy sự đồng thuận xã hội rất cao. Có tới 98,6% số người được hỏi cho rằng việc xây dựng Bộ chỉ số đánh giá phòng, chống tham nhũng là cần thiết hoặc rất cần thiết, trong đó gần một nửa đánh giá ở mức “rất cần thiết”2. Con số này phản ánh rõ xu hướng chuyển biến trong nhận thức xã hội: phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ nội bộ của các cơ quan nhà nước, mà là yêu cầu khách quan của quản trị công hiện đại, gắn chặt với quyền lợi và kỳ vọng chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Sự quan tâm ở mức cao đối với các công cụ đánh giá và giám sát cho thấy người dân và doanh nghiệp không chỉ mong muốn có chủ trương đúng, mà còn đòi hỏi các kết quả phòng, chống tham nhũng phải được đo lường, kiểm chứng và so sánh một cách minh bạch. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành áp lực xã hội tích cực, thúc đẩy các cơ quan hành chính nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi nhiệm vụ.

Liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thông tin về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kết quả khảo sát cho thấy đã có những chuyển biến nhất định, song mức độ và hiệu quả còn chưa đồng đều. Cụ thể, 63,2% số người được hỏi cho rằng các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng được phổ biến thường xuyên, trong khi vẫn còn 36,8% đánh giá việc phổ biến chưa thường xuyên hoặc còn hạn chế3. Đáng chú ý, một bộ phận người dân và doanh nghiệp cho rằng thông tin về vai trò tham gia, giám sát của xã hội trong phòng, chống tham nhũng chưa thật sự đầy đủ và dễ tiếp cận.

Thực trạng cho thấy, công tác tuyên truyền vẫn còn thiên về truyền đạt quy định pháp luật, chưa chú trọng đúng mức đến việc khuyến khích, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tham gia chủ động vào quá trình phòng, chống tham nhũng. Khi nhận thức chưa được chuyển hóa đầy đủ thành hành động giám sát cụ thể, vai trò của xã hội trong kiểm soát quyền lực nhà nước khó có thể phát huy hiệu quả như kỳ vọng.

Đánh giá về mức độ và xu hướng tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã, đa số ý kiến cho rằng, tình trạng này có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Theo kết quả điều tra, 82,2% số người được hỏi nhận định tham nhũng, tiêu cực đã giảm, trong đó 31,8% cho rằng giảm rõ rệt và 50,4% đánh giá giảm ở mức độ nhất định4. Kết quả này phản ánh những nỗ lực đáng ghi nhận của tỉnh Bắc Ninh trong việc triển khai các giải pháp phòng, chống tham nhũng gắn với cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, việc vẫn còn 17,8% số người được hỏi cho rằng tham nhũng, tiêu cực có xu hướng tăng cho thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng chưa thực sự đồng đều giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương5. Đặc biệt ở cấp xã, nơi diễn ra nhiều giao dịch hành chính trực tiếp – các biểu hiện tham nhũng vặt, nhũng nhiễu tuy không lớn về giá trị vật chất nhưng lại gây bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp, từ đó làm suy giảm niềm tin xã hội đối với bộ máy chính quyền cơ sở.

Về mức độ hài lòng và niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kết quả khảo sát cho thấy xu hướng tích cực nhưng vẫn mang tính thận trọng. Có 87,4% số người được hỏi bày tỏ sự hài lòng hoặc hài lòng một phần đối với kết quả phòng, chống tham nhũng, trong đó tỷ lệ hài lòng hoàn toàn đạt 39,4%, còn 48,0% cho rằng mới hài lòng ở mức độ nhất định6. Điều này cho thấy mặc dù các chuyển biến tích cực đã được ghi nhận, song kỳ vọng xã hội đối với hiệu quả phòng, chống tham nhũng vẫn còn ở mức cao.

Tỷ lệ “hài lòng một phần” chiếm ưu thế phản ánh tâm lý dè dặt của người dân và doanh nghiệp, xuất phát từ việc các kết quả phòng, chống tham nhũng chưa thực sự bền vững và còn phụ thuộc vào từng lĩnh vực, từng cấp chính quyền. Niềm tin xã hội vì vậy mới chỉ được củng cố bước đầu, chưa đạt đến mức ổn định lâu dài.

Một nội dung đáng chú ý khác từ kết quả điều tra là thái độ và tâm lý của người dân, doanh nghiệp khi phát hiện hoặc đối mặt với các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Chỉ 15,8% số người được hỏi cho biết cảm thấy rất an toàn khi phản ánh, tố cáo; 60,8% cảm thấy tương đối an toàn, trong khi có tới 23,4% cho rằng không an toàn hoặc hoàn toàn không an toàn7. Những con số này cho thấy tâm lý e ngại, lo lắng khi thực hiện quyền phản ánh, tố cáo vẫn là rào cản lớn đối với việc phát huy vai trò giám sát của xã hội.

Thực trạng trên phản ánh hạn chế trong việc bảo đảm thực thi hiệu quả các cơ chế bảo vệ người tố cáo trên thực tế. Khi người dân và doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào khả năng được bảo vệ, việc phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi tham nhũng, tiêu cực sẽ gặp nhiều khó khăn, làm giảm hiệu quả chung của công tác phòng, chống tham nhũng.

Tổng hợp các kết quả điều tra xã hội học cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, thể hiện ở sự chuyển biến trong nhận thức xã hội, xu hướng giảm của các biểu hiện tham nhũng và mức độ hài lòng tương đối cao của người dân, doanh nghiệp.

Song từ kết quả điều tra xã hội học cũng có thể nhận diện rõ một số hạn chế, tồn tại và vấn đề đặt ra cần được tập trung giải quyết trong thời gian tới như:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thông tin về phòng, chống tham nhũng tuy đã được triển khai nhưng chưa đồng đều và chưa thật sự hiệu quả.
Điều này phản ánh thực trạng tuyên truyền còn mang tính hình thức, nặng về truyền đạt văn bản mà chưa chú trọng hướng dẫn người dân và doanh nghiệp tham gia giám sát một cách chủ động.

Thứ hai, hiệu quả thực thi công tác phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương chưa đồng đều. Dù đa số đánh giá tham nhũng, tiêu cực có xu hướng giảm, nhưng vẫn còn một số đánh giá tình trạng này có xu hướng tăng. Điều đó cho thấy sự chuyển biến tích cực chưa mang tính ổn định và chưa được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp, ngành. Đặc biệt, ở cấp xã – nơi tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên với người dân và nguy cơ phát sinh tham nhũng vặt vẫn còn hiện hữu. Hạn chế này đặt ra yêu cầu cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đồng thời gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực thi nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, tình trạng tham nhũng vặt, nhũng nhiễu trong giải quyết thủ tục hành chính vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Các biểu hiện nhũng nhiễu tuy giá trị vật chất không lớn nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp, làm gia tăng chi phí không chính thức và gây bức xúc xã hội. Đây là dạng tham nhũng phổ biến ở cơ sở, khó phát hiện qua thanh tra định kỳ vì thường xảy ra tinh vi, “mềm hóa” dưới dạng gợi ý, gây khó dễ. Điều này đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình xử lý hồ sơ và giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân với cán bộ, công chức.

Thứ tư, niềm tin xã hội đối với cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo chưa thật sự vững chắc. Đây là hạn chế mang tính “điểm nghẽn” vì nếu người dân và doanh nghiệp e ngại, thiếu niềm tin, thì vai trò giám sát xã hội khó phát huy hiệu quả. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả cơ chế bảo vệ người tố cáo, đồng thời công khai minh bạch kết quả xử lý phản ánh để tạo niềm tin và hiệu ứng lan tỏa trong xã hội.

Thứ năm, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tuy tương đối cao nhưng vẫn mang tính thận trọng và chưa bền vững. Điều này cho thấy người dân và doanh nghiệp ghi nhận nỗ lực của chính quyền nhưng vẫn còn tâm lý dè dặt, kỳ vọng cao hơn về sự minh bạch và công bằng trong xử lý công việc. Do đó, giải pháp đặt ra là cần tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình, đồng thời gắn kết quả cải thiện chất lượng phục vụ với công tác đánh giá cán bộ, công chức.

Thứ sáu, cơ chế đo lường, đánh giá hiệu quả phòng, chống tham nhũng tuy được xã hội ủng hộ nhưng chưa được vận hành theo hướng tạo sức ép cải thiện thường xuyên. Đây là cơ sở để khẳng định xã hội kỳ vọng cao vào công cụ đo lường, giám sát khách quan. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở mức khảo sát, chưa gắn với cơ chế trách nhiệm, chưa công bố rộng rãi hoặc chưa sử dụng làm căn cứ cải thiện quản trị công thì hiệu quả tác động sẽ hạn chế. Vì vậy, cần xây dựng một bộ chỉ số đánh giá của người dân và doanh nghiệp về phòng chống tham nhũng, tiêu cực và gắn bộ chỉ số với mục tiêu cải thiện quản trị địa phương, đồng thời công khai hóa kết quả đánh giá theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận.

Từ những hạn chế về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tính đồng đều trong thực thi, sự tồn tại của tham nhũng vặt và niềm tin xã hội chưa thật sự vững chắc cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng vẫn đứng trước nhiều thách thức.

Những kết quả và vấn đề đặt ra từ điều tra xã hội học là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo hướng thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời gắn chặt với nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong giai đoạn hiện nay.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Bắc Ninh hiện nay

Từ những kết quả điều tra xã hội học và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, việc đề xuất các giải pháp cần được tiếp cận theo hướng vừa bảo đảm tính nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị địa phương và trải nghiệm thực tế của người dân, doanh nghiệp.

Một là, tiếp tục đổi mới hình thức tuyên truyền và hoàn thiện thể chế, tăng cường công khai, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình.

Cần tiếp tục đổi mới hình thức tuyên truyền theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp cận, gắn với các tình huống thực tiễn và trách nhiệm công dân trong phòng, chống tham nhũng. Kết quả điều tra cho thấy kỳ vọng xã hội rất cao đối với việc đo lường và giám sát hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, song mức độ hài lòng tuyệt đối của người dân và doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng. Điều này đòi hỏi các quy định về công khai, minh bạch không chỉ dừng lại ở việc công bố thông tin theo quy định, mà phải bảo đảm thông tin đó thực sự dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ kiểm chứng và có khả năng giám sát xã hội. Trước hết, cần rà soát, hoàn thiện các quy định về công khai quy trình, thời hạn, phí, lệ phí và kết quả giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, tài chính công. Công khai phải đi liền với minh bạch, tức là thông tin được cung cấp đầy đủ, kịp thời, không bị “phân mảnh” hoặc gây khó khăn cho người dân trong tiếp cận.

Bên cạnh đó, cần nâng cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Trách nhiệm giải trình không chỉ là nghĩa vụ pháp lý khi có yêu cầu, mà phải trở thành văn hóa quản trị – nơi mỗi quyết định hành chính đều có cơ sở pháp lý rõ ràng, có lập luận thuyết phục và sẵn sàng được kiểm tra, giám sát. Việc gắn mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp với đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý sẽ tạo động lực cải thiện thực chất, hạn chế tình trạng hình thức trong thực hiện công khai, minh bạch.

Hai là, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số như một giải pháp phòng ngừa tham nhũng mang tính nền tảng.

Thực tiễn cho thấy cải cách thủ tục hành chính, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ, công chức với người dân, doanh nghiệp đã góp phần làm giảm đáng kể các biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà. Vì vậy, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn là giải pháp phòng ngừa tham nhũng có tính hệ thống. Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục chuẩn hóa, đơn giản hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo hướng rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Việc xây dựng quy trình xử lý hồ sơ trên môi trường số phải bảo đảm tính công khai, có thể theo dõi tiến độ trực tuyến, hạn chế tối đa sự can thiệp chủ quan của cá nhân.

Chuyển đổi số cần được coi là “hạ tầng chống tham nhũng” hiện đại. Khi dữ liệu được số hóa, lưu trữ tập trung và liên thông, việc kiểm tra, đối chiếu, phát hiện bất thường sẽ thuận lợi hơn, đồng thời giảm cơ hội “xin – cho” trong xử lý công việc. Tuy nhiên, chuyển đổi số không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn đòi hỏi thay đổi tư duy quản trị, đào tạo đội ngũ cán bộ có kỹ năng sử dụng công nghệ và xây dựng cơ chế kiểm soát, bảo mật thông tin hiệu quả. Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là giải pháp căn cơ nhằm thu hẹp “không gian tham nhũng” ở cấp cơ sở.

Ba là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, công chức.

Kết quả khảo sát cho thấy mặc dù xu hướng tham nhũng, tiêu cực được đánh giá là giảm, song các biểu hiện tham nhũng vặt vẫn tồn tại, nhất là ở những lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với người dân. Điều này cho thấy bên cạnh hoàn thiện thể chế, việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ có ý nghĩa quyết định. Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, đồng thời kết hợp giữa kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất. Việc xử lý vi phạm phải bảo đảm nghiêm minh, công bằng, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, qua đó tạo hiệu ứng răn đe và phòng ngừa chung. Đặc biệt, phải đề cao vai trò nêu gương của người đứng đầu. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị không chỉ chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng tại đơn vị mình mà còn phải gương mẫu trong thực hành liêm chính, minh bạch. Việc đưa tiêu chí phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vào đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, nhất là ở cấp xã, sẽ tạo cơ chế gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả thực thi nhiệm vụ, hạn chế tình trạng “khoán trắng” cho bộ phận chuyên môn.

Bốn là, nâng cao hiệu quả kiểm soát xung đột lợi ích và kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập.

Niềm tin xã hội đối với các biện pháp phòng ngừa từ bên trong bộ máy nhà nước còn chưa thật sự vững chắc, thể hiện qua tâm lý thận trọng của người dân và doanh nghiệp. Vì vậy, các công cụ kiểm soát xung đột lợi ích và kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập cần được triển khai theo hướng thực chất, minh bạch và có cơ chế giám sát hiệu quả. Trước hết, cần rà soát, cụ thể hóa các tình huống xung đột lợi ích trong từng lĩnh vực quản lý, bảo đảm cán bộ, công chức nhận diện rõ các rủi ro tiềm ẩn và có cơ chế báo cáo, xử lý phù hợp. Việc luân chuyển vị trí công tác ở những lĩnh vực nhạy cảm cần được thực hiện nghiêm túc, tránh để hình thành lợi ích nhóm hoặc quan hệ thân quen kéo dài. Đối với kê khai tài sản, thu nhập, cần tăng cường xác minh khi có dấu hiệu bất thường, không để việc kê khai chỉ mang tính hình thức. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế xử lý đối với trường hợp kê khai không trung thực, bảo đảm tính răn đe và nghiêm minh. Khi các biện pháp phòng ngừa từ bên trong được thực hiện thực chất, niềm tin xã hội sẽ từng bước được củng cố, tạo nền tảng bền vững cho công tác phòng, chống tham nhũng.

Năm là, phát huy vai trò giám sát của xã hội và bảo đảm thực thi hiệu quả cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo.

Tâm lý e ngại khi phản ánh, tố cáo tham nhũng, tiêu cực là rào cản lớn đối với việc phát huy vai trò giám sát xã hội. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo cần được coi là giải pháp mang tính đột phá. Bảo vệ không chỉ dừng ở quy định trên giấy, mà phải bảo đảm an toàn thực tế về pháp lý, công việc, thu nhập và danh dự cho người tham gia tố cáo. Cần tăng cường tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi phản ánh, tố cáo; đồng thời xây dựng các kênh tiếp nhận thông tin đa dạng, thuận tiện, có thể phản ánh ẩn danh khi cần thiết. Việc công khai kết quả xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực theo quy định cũng có ý nghĩa quan trọng trong củng cố niềm tin và tạo hiệu ứng lan tỏa.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Khi giám sát xã hội được tổ chức bài bản, có cơ chế phản hồi rõ ràng, sự tham gia của người dân và doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực, hiệu quả hơn.

Sáu là, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với nâng cao chất lượng quản trị địa phương.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không thể tách rời mục tiêu xây dựng nền hành chính liêm chính, phục vụ và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Do đó, các giải pháp phòng, chống tham nhũng cần được đặt trong tổng thể chiến lược nâng cao chất lượng quản trị địa phương. Việc sử dụng thường xuyên kết quả điều tra xã hội học, bộ chỉ số đánh giá của người dân và doanh nghiệp, công khai và so sánh giữa các cơ quan, địa phương sẽ tạo động lực cải thiện liên tục. Khi các kết quả đánh giá được công bố minh bạch, có đối chiếu qua các năm, các đơn vị sẽ có thêm áp lực tích cực để nâng cao chất lượng phục vụ. Quan trọng hơn, cần coi phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một tiêu chí cốt lõi trong đánh giá hiệu quả quản trị địa phương, gắn với cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố niềm tin xã hội. Khi chất lượng quản trị được nâng lên, môi trường hành chính trở nên minh bạch, chuyên nghiệp và trách nhiệm hơn thì phòng, chống tham nhũng sẽ không chỉ là biện pháp xử lý vi phạm mà trở thành một thuộc tính tự nhiên của nền hành chính hiện đại.

4. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận. Tuy nhiên, những hạn chế về tính đồng đều trong thực thi, tham nhũng vặt và niềm tin xã hội chưa vững chắc vẫn là những thách thức lớn.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp được đề xuất trên cơ sở bằng chứng điều tra xã hội học thông qua bộ chỉ số đánh giá của người dân và doanh nghiệp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với cấp sở, ban, ngành và UBND cấp xã sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, cải thiện chất lượng quản trị địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh năm 2025: “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá của người dân và doanh nghiệp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với cấp sở, ban, ngành và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (nay là Bắc Ninh)”.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
3. Chính phủ (2019). Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.
4. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI (2023). Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
5. Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
6. Thanh tra Chính phủ (2022). Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
7. UNDP Việt Nam (2023). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI).
8. World Bank (2020). Enhancing Government Effectiveness and Transparency: The Fight Against Corruption. Washington, DC.