Hoàn thiện thể chế kinh tế – bước đột phá nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

PGS.TS. Phạm Thị Hồng Điệp
Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. Nguyễn Thị Nhung
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nhấn mạnh, hoàn thiện thể chế, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm là nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 2026 – 2035. Thể chế kinh tế giữ vai trò trung tâm vì quyết định quyền tài sản, cấu trúc sở hữu, cơ chế vận hành thị trường và năng lực quản trị rủi ro của Nhà nước. Tuy nhiên, tiến trình hoàn thiện thể chế hiện nay vẫn đang đối mặt với những “điểm nghẽn” lớn. Sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật cùng môi trường kinh doanh chưa thực sự bình đẳng đã tạo ra những rào cản vô hình cho sự phát triển. Điều này, đòi hỏi cần phải đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, minh bạch và hiện đại nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo nền tảng đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khóa: Thể chế, cải cách thể chế kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia.

1. Đặt vấn đề

Trong thập niên qua, Việt Nam đã duy trì được đà tăng trưởng ổn định đi kèm với những bước tiến vượt bậc về các chỉ số phát triển con người, đặc biệt là nỗ lực xóa đói, giảm nghèo. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng xác định rõ: “Thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”. Chủ trương này không chỉ kế thừa mà còn nâng tầm tư duy đổi mới, khẳng định thể chế phát triển là trụ cột trung tâm trong chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Đặc biệt, thể chế kinh tế được nhấn mạnh là động lực dẫn dắt năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn tồn tại những “điểm nghẽn” về hệ thống pháp lý thiếu đồng bộ, môi trường kinh doanh chưa thực sự bình đẳng cùng với những bất cập trong phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình. Do đó, việc khơi thông các “điểm nghẽn” thể chế không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết để giải phóng mọi nguồn lực xã hội mà còn là điều kiện tiên quyết để tạo bước đột phá về năng suất và chất lượng tăng trưởng. Đây chính là chìa khóa để kiến tạo một môi trường phát triển minh bạch, an toàn, nơi mọi chủ thể kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân và người nông dân có đủ niềm tin và động lực để bứt phá, đóng góp vào khát vọng vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng, yêu cầu hoàn thiện thể chế trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Một thể chế phát triển hiện đại không chỉ là khung khổ pháp lý hoàn chỉnh mà còn phải tái cấu trúc quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – xã hội, kiến tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng bền vững.

Kể từ dấu mốc lịch sử năm 1986, Việt Nam đã trải qua 40 năm đổi mới với những bước tiến vượt bậc về cả tư duy lý luận lẫn thực tiễn phát triển. Qua tám kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII), nhận thức của Đảng về quản trị quốc gia đã chuyển biến mạnh mẽ, từ cơ chế quản lý hành chính, bao cấp sang hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện. Nếu Đại hội VI mở đường cho đổi mới tư duy, Đại hội IX xác lập nền tảng lý luận về kinh tế thị trường thì Đại hội X và XI đã định hình cấu trúc thể chế hiện đại. Đến Đại hội XII và XIII, tư duy thể chế đã bứt phá theo hướng kiến tạo phát triển và hội nhập sâu rộng. Đây là một tiến trình nhất quán, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc xây dựng hệ thống quản trị năng động, minh bạch tạo nền tảng vững chắc để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới.

Tiếp nối đà phát triển đó, Đại hội XIV xác định rõ chủ trương: “Thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”. Đây không chỉ là sự kế thừa mà còn là một bước ngoặt về tư duy, định vị thể chế là “trụ cột của các trụ cột” để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên của kinh tế số, kinh tế xanh và khát vọng vươn mình dân tộc.

Thứ nhất, chủ trương này khẳng định việc coi thể chế phát triển là một hệ sinh thái tổng thể. Thay vì chỉ tập trung vào các khía cạnh kinh tế đơn thuần như các giai đoạn trước, tầm nhìn lần này yêu cầu sự vận hành đồng bộ, liên thông giữa thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Sự chuyển dịch này bảo đảm cho bộ máy quốc gia không chỉ vận hành trơn tru mà còn có khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến động phức tạp của bối cảnh toàn cầu, tạo môi trường thuận lợi nhất để giải phóng mọi nguồn lực nội sinh.

Thứ hai, khẳng định vai trò quyết định của thể chế trong phát triển nhanh và bền vững. Thực tiễn cho thấy, quốc gia nào có thể chế minh bạch, năng động, có khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế thì quốc gia đó có năng suất và năng lực cạnh tranh cao hơn. Việc xác định thể chế chính trị là then chốt thể hiện yêu cầu tăng cường năng lực lãnh đạo, bảo đảm ổn định chính trị, nền tảng của phát triển; còn việc đặt thể chế kinh tế là trọng tâm khẳng định kinh tế là trụ cột tạo nguồn lực vật chất cho sự phát triển.

Thứ ba, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thách thức, tăng trưởng chậm lại, đổi mới sáng tạo còn yếu, năng lực cạnh tranh chưa cao, biến đổi khí hậu và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Một thể chế phát triển đồng bộ, minh bạch và hiệu quả sẽ là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực, nhất là khu vực tư nhân, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao vị thế quốc gia.

Thứ tư, chủ trương này thể hiện tư duy “phát triển dựa vào thể chế”, coi thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà là động lực phát triển, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, phù hợp với xu thế quản trị hiện đại và mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

2. Những “điểm nghẽn thể chế kinh tế” và sự ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia

2.1. Điểm nghẽn về thể chế kinh tế

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện có hơn 300 luật và bộ luật với nhiều văn bản luật quan trọng đã được ban hành1, song tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán vẫn đang là “điểm nghẽn” then chốt. Sự xung đột giữa các văn bản pháp lý không chỉ làm chậm tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN mà còn tạo ra rào cản vô hình, gây lúng túng cho công tác quản lý và rủi ro cho các hoạt động đầu tư. Đơn cử, trong lĩnh vực đất đai – đầu tư – đấu thầu, sự thiếu nhất quán và chồng chéo thể hiện khá rõ, điển hình sự thiếu nhất quán giữa Luật Đấu thầu năm 2023 và Luật Đất đai năm 2024 về tư cách chủ thể và phạm vi điều chỉnh dự án sử dụng đất.

Một là, về tư cách chủ thể. Điều 4, khoản 25 Luật Đấu thầu năm 2023 quy định “nhà đầu tư” có thể là cá nhân, tổ chức hoặc liên danh tham dự thầu, trong khi đó, Điều 126 Luật Đất đai năm 2024 lại chỉ cho phép giao hoặc cho thuê đất cho “tổ chức kinh tế theo Luật Đầu tư” nhưng không làm rõ liệu “liên danh” có được coi là chủ thể sử dụng đất hay không. Vì vậy, khi một liên danh trúng thầu lựa chọn nhà đầu tư, việc xác định chủ sử dụng đất (liên danh hay một thành viên liên danh) trở nên mơ hồ. Do đó, việc ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành hoặc các Nghị quyết thí điểm để “khâu nối” tư cách chủ thể giữa hai bộ luật này là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực đất đai.

Hai là, về phạm vi áp dụng đối với dự án sử dụng đất.

Luật Đất đai năm 2024 yêu cầu các dự án đầu tư có sử dụng đất phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; trong khi Luật Đấu thầu năm 2023 điều chỉnh “lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh” mà chưa phân định rõ dự án sử dụng đất không nhằm mục tiêu kinh doanh có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không. Điều này, tạo ra “khoảng trống pháp lý” dẫn tới lúng túng trong xác định căn cứ pháp lý áp dụng. Hệ quả là, cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc xác định quy trình, thủ tục và chủ thể áp dụng, khiến nhiều dự án bị kéo dài thời gian, tăng chi phí tuân thủ và giảm tính minh bạch. Ví dụ, một dự án nhà ở thương mại do liên danh trúng thầu theo Luật Đấu thầu nhưng khi giao đất lại không rõ liên danh hay một tổ chức kinh tế mới được đứng tên, dẫn đến ách tắc thủ tục.

Ba là, về quyền sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quyền sở hữu, bao gồm: tài sản hữu hình, như: đất đai, nhà xưởng, máy móc và tài sản vô hình, như: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, sáng chế, nhãn hiệu là yếu tố then chốt bảo đảm phân bổ nguồn lực hiệu quả và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Thể chế quyền sở hữu ở Việt Nam cả hữu hình và vô hình đang ở điểm giao giữa lý luận và thực tiễn vận hành.

Với tài sản hữu hình, giới hạn sở hữu và thủ tục hành chính vẫn là nút thắt. Luật Đất đai năm 2024 đã tạo khung pháp lý hỗ trợ kinh tế tư nhân, song vẫn còn một số điểm thiếu, như: quy định về hoàn trả khi chuyển đổi thuê đất, sự chồng chéo giữa bảng giá đất cũ và mới hay mức độ độc lập của địa phương trong xác định giá đất. Trong thực thi, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định 30 ngày nhưng thực tế kéo dài 2 – 3 tháng, khiến doanh nghiệp gặp khó trong thế chấp, chuyển nhượng, mở rộng dự án và làm giảm động lực đầu tư dài hạn. Việc hoàn thiện cơ chế sử dụng và sở hữu đất đai theo hướng minh bạch, ổn định vì thế mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân, với tài sản vô hình khung pháp lý đã được cải thiện đáng kể nhưng kết nối với thị trường vốn, thương mại hóa và hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp vẫn còn chưa hoàn thiện. Việc hoàn thiện thể chế quyền sở hữu vừa là điều kiện để kích thích khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn, vừa là nhân tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Với tài sản vô hình, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022) và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ, quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản có thể định giá, chuyển giao và khai thác trong kinh doanh; đồng thời, Việt Nam đã cam kết các hiệp định quốc tế, như: Hiệp định TRIPS, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và 27 nước thành viên Liên minh châu Âu (EVFTA), nhằm nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa theo kịp các xu hướng mới, như: tài sản số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và các dạng tài sản trí tuệ mới trong kinh tế số. Vì vậy, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện và bảo đảm thực thi hiệu quả các quy định về quyền tài sản, đặc biệt là quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình, nhằm tăng niềm tin thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.

Bốn là, về tiếp cận nguồn lực. Trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong việc vay vốn tín dụng do thiếu tài sản thế chấp, hồ sơ phức tạp và phải chịu lãi suất cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc tiếp cận đất đai, hạ tầng sản xuất vẫn ưu tiên cho doanh nghiệp có quy mô lớn khiến kinh tế tư nhân chịu bất lợi, có tới 74% doanh nghiệp phải hoãn hoặc hủy kế hoạch kinh doanh do thủ tục đất đai quá phức tạp (VCCI, 2024)2. Ngoài ra, cơ chế hỗ trợ chuyển giao và ứng dụng công nghệ mới chưa thực sự hiệu quả, khiến kinh tế tư nhân khó đổi mới và nâng cao năng suất. Hệ quả là doanh nghiệp tư nhân khó tích lũy đủ nguồn lực để đầu tư cho đổi mới sáng tạo, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó, làm chậm quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm vai trò của khu vực tư nhân trong việc dẫn dắt tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Năm là, tình trạng bất bình đẳng giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế. Những năm gần đây, các doanh nghiệp tư nhân trong nước đã gia tăng đầu tư vào nhiều lĩnh vực vốn trước đây do doanh nghiệp nhà nước chi phối, bao gồm: các sân bay, đường cao tốc, cảng biển, viễn thông và năng lượng tái tạo (Economica Vietnam & VCCI, 2023)3. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai, vốn, tín dụng (thậm chí được miễn tiền thuê đất hoặc thuê đất với giá rẻ) (Bertelsmann Stiftung, 2024)4 và doanh nghiệp nước ngoài thường được hỗ trợ tốt hơn về thuế, thủ tục hải quan và cả tiếp cận đất đai5.

Về thủ tục hành chính, có tới 68% doanh nghiệp tư nhân cho rằng thời gian giải quyết hồ sơ đất đai dài hơn so với thời hạn niêm yết của văn bản quy định (năm 2023 là 64%); có 59% doanh nghiệp tư nhân cho rằng, các thủ tục xác định giá trị quyền sử dụng đất mất nhiều thời gian (năm 2023 là 44%); có 51% doanh nghiệp phản ánh cán bộ nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục hành chính không hướng dẫn chi tiết, đầy đủ (năm 2023 là 46%) và 49% doanh nghiệp cho biết quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ đất đai không đúng với nội dung được niêm yết hoặc văn bản quy định (năm 2023 là 46%) (VCCI, 2024)6.

Về lãi suất, theo Thông tư số 14/2017/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước và các quyết định điều hành của ngân hàng nhà nước thì các ngân hàng thương mại được quyền tự thỏa thuận lãi suất với khách hàng đối với các khoản vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, ngân hàng nhà nước vẫn áp dụng lãi suất trần đối với cho vay ngắn hạn phục vụ lĩnh vực ưu tiên (bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa), hiện dao động mức 4,5 – 5,5%/năm7. Nếu doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm, đó là dự án vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) áp dụng từ 20258.

Bảng: Chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp tư nhân
áp dụng từ năm 2025

Loại ưu đãiDoanh nghiệp FDIDoanh nghiệp tư nhân
Thuế doanh nghiệp tư nhân– Ngành công nghệ cao, năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng được miễn thuế doanh nghiệp tư nhân trong 4 năm và tiếp tục giảm 50% thuế suất trong 9 năm tiếp theo. – Thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm khi đầu tư vào khu vực kinh tế đặc biệt khó khăn, khu công nghệ cao– Miễn thuế doanh nghiệp tư nhân cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong 3 năm – Thuế suất ưu đãi 10% cho doanh thu dưới 3 tỷ đồng, 17% cho doanh thu từ 3 – 50 tỷ đồng và 20% cho trên 50 tỷ – Miễn thuế doanh nghiệp tư nhân trong thời hạn 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Thuế nhập khẩuMiễn với máy móc, nguyên liệu đến 5 nămKhông áp dụng
Thuê đất, sử dụng đấtMiễn giảm từ 7 – 15 năm, có nơi miễn toàn bộGiảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong vòng 5 năm với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Nguồn: tác giả tổng hợp qua các văn bản, 2025.

Như vậy, Nhà nước đã có những ưu đãi thuế phí cho kinh tế tư nhân nhưng so với các kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa thực sự công bằng.

2.2. Ảnh hưởng tổng thể của những “điểm nghẽn thể chế kinh tế” đến đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia

Khu vực tư nhân hiện là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 50% GDP và tạo việc làm cho gần 85% lực lượng lao động (VCCI, 2024)9. Tuy nhiên, khi thể chế thiếu tính khuyến khích phát triển, thông qua các thủ tục hành chính phức tạp, quyền tiếp cận nguồn lực bị hạn chế thì doanh nghiệp tư nhân không thể phát huy vai trò đổi mới sáng tạo như kỳ vọng 35% doanh nghiệp cho biết họ vẫn phải “trả thêm chi phí không chính thức” để hoàn tất thủ tục đầu tư (VCCI, 2024)10. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp chỉ dừng ở khâu gia công, thiếu đầu tư công nghệ và không đủ lực để dẫn dắt chuỗi giá trị cao hơn.

Về chất lượng thể chế, theo đánh giá của UNDP, điều kiện thể chế của Việt Nam còn nhiều điểm yếu, các cơ quan công quyền có quyền hạn phân tán, phối hợp kém, hệ thống thể chế có nguy cơ khiến nền kinh tế rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” (UNDP)11. Có tới 60% doanh nghiệp tư nhân cho biết họ “bị phân biệt” trong tiếp cận nguồn lực so với doanh nghiệp nhà nước (VCCI, 2024)12. Những hạn chế này chưa thúc đẩy việc hình thành các doanh nghiệp vừa và lớn đủ quy mô để dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó, năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được đạt kết quả như đã đề ra.

Vì vậy, việc khơi thông các điểm nghẽn này chính là chìa khóa then chốt để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức và năng suất lao động, từ đó, nâng tầm vị thế và năng lực cạnh tranh quốc gia trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

3. Cải cách thể chế kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và mô hình thể chế phát triển

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và ổn định của các luật kinh tế. Cần tập trung rà soát và xử lý tình trạng thiếu nhất quán trong “cụm luật”: Đất đai – Đầu tư – Đấu thầu – Doanh nghiệp. Làm rõ địa vị pháp lý của liên danh trúng thầu, thống nhất phạm vi điều chỉnh đối với dự án sử dụng đất, bổ sung cơ chế dẫn chiếu giữa các luật để khắc phục khoảng trống pháp lý. Triển khai cơ chế đánh giá tác động pháp luật liên ngành và hậu kiểm định kỳ nhằm giảm mạnh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và bảo đảm tính dự báo cho doanh nghiệp.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế về quyền tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất và tài sản vô hình. Đặc biệt, ràng buộc trách nhiệm giải quyết thủ tục đất đai đúng hạn; công khai hóa toàn bộ quy trình, thời gian xử lý; tăng tính độc lập của hội đồng định giá đất và chuẩn hóa cơ chế xác định giá theo thị trường. Đồng thời, cập nhật pháp luật sở hữu trí tuệ và dân sự để ghi nhận tài sản số, dữ liệu, sản phẩm AI là tài sản có giá trị pháp lý; phát triển thị trường định giá, giao dịch, thế chấp tài sản vô hình, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân huy động vốn và mở rộng sản xuất.

Thứ ba, tiếp cận nguồn lực theo hướng bình đẳng và hiệu quả. Cần phát triển các mô hình chấm điểm tín nhiệm doanh nghiệp dựa trên dữ liệu số; mở rộng quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; thiết kế chương trình tín dụng ưu đãi cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong tiếp cận đất đai, siết chặt điều kiện giao đất không qua đấu giá; ưu tiên quỹ đất trong các khu công nghiệp và trung tâm đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp tư nhân có dự án công nghệ cao. Về công nghệ, đổi mới cơ chế sử dụng quỹ khoa học – công nghệ doanh nghiệp; thúc đẩy các chương trình hợp tác Viện nghiên cứu – Trường đại học – Doanh nghiệp.

Thứ tư, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế. Trong đó, tiếp tục rà soát và thiết kế lại hệ thống ưu đãi theo hướng trung lập về sở hữu, tập trung vào ngành nghề chiến lược, trình độ công nghệ và tiêu chuẩn xanh. Nâng cao tính độc lập của cơ quan cạnh tranh quốc gia, tăng cường minh bạch trong đấu thầu, đấu giá; đồng thời, siết cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích, lợi ích nhóm và “nhà đầu tư sân sau”.

Đơn giản hóa quy trình thuế, mở rộng ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tư nhân trong các ngành công nghệ cao, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, nhất là, đẩy mạnh số hóa quản lý thuế để giảm chi phí.

Thứ năm, xây dựng mô hình thể chế phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần định hình một mô hình thể chế phát triển mới mang tính kiến tạo, hiện đại và linh hoạt hơn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập toàn cầu. Mô hình thể chế này phải bảo đảm vai trò trung tâm của thị trường, song song với sự định hướng, dẫn dắt của Nhà nước kiến tạo phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thể chế phải được xây dựng theo hướng kiến tạo và thị trường hóa, trong đó Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế mà tập trung vào hoạch định chính sách, hoàn thiện luật chơi và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Thị trường cần được trao vai trò chủ đạo trong phân bổ nguồn lực, đặc biệt là vốn, đất đai, năng lượng và dữ liệu, những yếu tố quyết định năng suất trong kỷ nguyên số.

Mô hình thể chế mới phải là thể chế số và thể chế xanh. Thể chế số, đòi hỏi toàn bộ hoạt động quản lý công và dịch vụ công được số hóa, minh bạch và tích hợp dữ liệu, giảm tối đa chi phí giao dịch cho người dân và doanh nghiệp. Thể chế xanh là trụ cột để Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng bền vững, hướng tới phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Vì vậy, cần hình thành cơ chế tài chính xanh, thị trường carbon và chính sách ưu đãi cho các dự án năng lượng tái tạo, đổi mới công nghệ sạch.

Xây dựng thể chế tri thức và phân quyền hiệu quả, trong đó tri thức, khoa học và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt. Cơ chế pháp lý cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D, bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển nhân lực số và kết nối chặt chẽ giữa Viện Nghiên cứu – Trường đại học – Doanh nghiệp.

Tăng cường phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình cho chính quyền địa phương, giúp thể chế kinh tế trở nên năng động, thích ứng nhanh hơn với biến động toàn cầu và các tiêu chuẩn hội nhập quốc tế.

Vì vậy, mô hình thể chế mà Việt Nam cần hướng tới trong giai đoạn mới là thể chế kiến tạo – số hóa – xanh – tri thức – phân quyền, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng và kiến tạo, thị trường làm trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể đổi mới và người dân là trung tâm của phát triển. Đây chính là nền tảng để Việt Nam bứt phá, bắt kịp xu thế của thời đại và vững vàng tiến vào kỷ nguyên phát triển xanh, số và tri thức.

4. Kết luận

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế của Việt Nam, có thể khẳng định, hoàn thiện thể chế kinh tế không chỉ là một nhiệm vụ hành chính mà là “chìa khóa” quyết định sự thành bại của mục tiêu quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tái định hình dòng chảy vốn toàn cầu, một hệ thống thể chế linh hoạt, minh bạch và kiến tạo sẽ là nền tảng vững chắc nhất để khơi thông mọi nguồn lực xã hội. Đặc biệt là kiên trì thực hiện đột phá chiến lược về thể chế sẽ nâng tầm vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế quốc tế, đó không chỉ là lời giải cho bài toán tăng trưởng GDP mà còn là cam kết xây dựng một môi trường kinh doanh nhân văn, cạnh tranh lành mạnh đóng góp vào sự thịnh vượng chung của toàn dân tộc.

Chú thích:
1. Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển mới. https://kinhtedothi.vn/hoan-thien-cau-truc-he-thong-phap-luat-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-moi.894417.html
2, 6, 9, 10, 12, 13. VCCI (2024). Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam – Đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp năm 2024. https://www.vcci.com.vn/publications/pci-2024-chi-so-nang-luc-canh-tranh-cap-tinh-cua-viet-nam
3. Economica Vietnam & VCCI (2023). Vietnam private sector: Productivity and prosperity. Economica Vietnam.
5. Phát triển kinh tế tư nhân – đòn bẩy cho một việt nam thịnh vượng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-119250318000126845.htm
4. Bertelsmann Stiftung (2024). BTI 2024 Country Report – Vietnam. Gütersloh: Bertelsmann Stiftung. https://btiproject.org/fileadmin/api/content/en/downloads/reports/country_report_2024_VNM.pdf
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2022). Quyết định số 1812/QĐ-NHNN ngày 24/10/2022 về mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014.
8. Doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh có thể vay vốn xanh rẻ hơn 2%/năm đến 2030. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/doanh-nghiep-tu-nhan-ho-kinh-doanh-co-the-vay-von-xanh-re-hon-2nam-den-2030-183640.html
11. UNDP Viet Nam (2024). Policy Brief Institutional Bottlenecks and Viet Nam’s Prospects for Growth and Development. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2023-02/POLICY%20BRIEF%20Institutional%20bottlenecks%202023.02.15.pdf
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Toàn văn: Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015171703632.htm
4. Đột phá thể chế thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/8/14/dot-pha-the-che-thuc-day-chuyen-doi-so-quoc-gia-theo-tinh-than-nghi-quyet-so-57-nq-tw-cua-bo-chinh-tri/
5. Đột phá thể chế để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phát triển. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/7/23/dot-pha-the-che-de-doanh-nghiep-tu-nhan-viet-nam-phat-trien.
6. Tổng Bí thư: Cần có chiến lược rõ ràng về phát triển kinh tế tư nhân. https://vnexpress.net/tong-bi-thu-can-co-chien-luoc-ro-rang-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-4858247.html.
7. Tổng Bí thư: Phải xóa bỏ mọi thái độ, định kiến về kinh tế tư nhân. https://dantri.com.vn/xa-hoi/tong-bi-thu-to-lam-phai-xoa-bo-moi-thai-do-dinh-kien-ve-kinh-te-tu-nhan-20250307202726284.htm.
8. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. https://nhandan.vn/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-quoc-gia-trong-giai-doan-phat-trien-moi-post921276.html