Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh

PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
TS. Lê Kiến Hưng
Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Hiến pháp năm 2013, khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu xây dựng và kiến thiết đất nước. Vai trò của báo chí, truyền thông là công cụ hữu hiệu để thực thi quyền giám sát, phản biện xã hội, thể chế hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Quyền làm chủ của Nhân dân; tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị; Hiến pháp năm 2013; báo chí và truyền thông; giám sát, phản biện xã hội.

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra1. Tư tưởng ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và phải được tổ chức theo hướng thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm bảo đảm quyền lực đó không bị lạm dụng và luôn vận hành đúng mục đích phục vụ Nhân dân.

Thời gian qua, thực tiễn công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy đụng chạm đến những vấn đề cốt lõi nhất về tổ chức quyền lực, về lợi ích của hàng triệu cán bộ, công chức và về mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân, nếu thiếu đi sự tham gia, ủng hộ và giám sát của Nhân dân, khó có thể vượt qua được những rào cản về “lợi ích nhóm”, về sức ỳ của tư duy cũ. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công tác tư tưởng, báo chí và giám sát xã hội.

2. Cơ sở lý luận

Trong quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước, thực tiễn cho thấy tình trạng cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng, nhiệm vụ giao thoa, chồng chéo vẫn còn tồn tại ở nhiều cấp, nhiều ngành. Hệ quả là “mạch vận hành” của quyền lực nhà nước – vốn bắt nguồn từ Nhân dân và vì lợi ích của Nhân dân có lúc, có nơi bị trì trệ, ách tắc. Khi tổ chức bộ máy không được tổ chức hợp lý, có sự chồng lấn, bỏ trống chức năng, nhiệm vụ sẽ làm tăng gánh nặng ngân sách nhà nước cho việc chi thường xuyên, làm giảm đáng kể nguồn lực dành cho đầu tư phát triển, phúc lợi và an sinh xã hội. Bên cạnh đó, trách nhiệm công vụ dễ bị đùn đẩy, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”, tạo ra những “khoảng trống trách nhiệm” và là môi trường phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực, lợi ích cục bộ. Khi khoảng cách giữa cơ quan ra quyết định với thực tiễn đời sống Nhân dân càng xa, nguy cơ xa rời mục tiêu phục vụ Nhân dân càng lớn; tiếng nói và nguyện vọng của Nhân dân khó được lắng nghe một cách kịp thời và đầy đủ.

Việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là yêu cầu khách quan và là giải pháp then chốt để bộ máy được tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, quy trình xử lý công việc được rút ngắn, tốc độ ra quyết định và phản hồi chính sách nhanh hơn, kịp thời hơn với yêu cầu thực tiễn. Qua đó, chi ngân sách thường xuyên được tiết giảm đáng kể, tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Việc tinh gọn giúp xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong từng khâu, từng vị trí công tác, từ đó tăng cường hiệu quả kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quan trọng hơn, một bộ máy tinh gọn còn góp phần đưa Nhà nước đến gần hơn với Nhân dân, tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý, củng cố và bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong tình hình mới. Thực tiễn tinh gọn bộ máy thời gian qua không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật quản trị công mà còn là một cuộc cách mạng trong phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và phục vụ Nhân dân.

Trong bối cảnh đổi mới tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động của Nhà nước thực sự hướng tới Nhân dân, bảo đảm đầy đủ các quyền kiểm soát quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhân dân làm chủ thông qua việc trao quyền lực cho Nhà nước, theo dõi, tham gia giám sát và đánh giá quá trình thực hiện quyền lực đó. Thông qua Hiến pháp và pháp luật là “công cụ pháp lý” để Nhân dân thực thi quyền làm chủ, quyền giám sát và thụ hưởng thành quả các cuộc cách mạng trong xây dựng, kiến thiết đất nước thời kỳ mới.

Theo Luật Tiếp cận thông tin, Nhân dân có quyền biết về các đề án sáp nhập, giải thể, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương cũng như tác động của những thay đổi này đến việc cung ứng dịch vụ công. Khi thông tin được công khai, minh bạch, Nhân dân tham gia đánh giá, kiểm chứng và đồng hành cùng các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Báo chí truyền thông chính là các kênh thông tin giữ vai trò chủ lực góp phần củng cố sự đồng thuận xã hội trong cuộc cách mạng này. Báo chí trở thành kênh giám sát xã hội quan trọng, tạo áp lực dư luận để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 28, bảo đảm Nhân dân được góp ý, phản ánh những bất cập trong tổ chức bộ máy, đề xuất giải pháp cắt giảm thủ tục rườm rà, tránh trùng lặp, chồng chéo nhiệm vụ giữa các cơ quan. Nhân dân tham gia không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ trong việc xây dựng một Nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng, có nhiệm vụ thông tin trung thực tình hình thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và thực tiễn phát triển 40 năm đổi mới của đất nước đến với Nhân dân; đồng thời là diễn đàn của Nhân dân, để Nhân dân đấu tranh với những biểu hiện, hành vi tiêu cực trong xã hội.

Thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, Nhân dân theo dõi xem việc sắp xếp tổ chức có thực chất hay không hay chỉ mang tính hình thức, “ghép cơ học” dẫn đến quy mô bộ máy không giảm mà quy mô người đứng đầu lại tăng. Đồng thời, giám sát của Nhân dân nhằm ngăn chặn biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, tránh việc lợi dụng sắp xếp bộ máy để phục vụ lợi ích nhóm hay gây ra sự xáo trộn không cần thiết. Lúc này, vai trò của báo chí nhằm giúp Nhân dân có thông tin kịp thời, chính xác để thực hiện quyền giám sát, qua đó, báo chí giúp quản lý xã hội phát triển theo đúng định hướng của Đảng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng.

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia và quyền giám sát chính là ba trụ cột quan trọng bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân được thực thi trong mọi hoạt động cải cách tổ chức bộ máy cùng với vai trò biện chứng phát triển của báo chí truyền thông. Khi các quyền này được bảo đảm thực chất, báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, Nhân dân trở thành chủ thể trung tâm, vừa là người thụ hưởng, vừa là người kiến tạo và bảo vệ thành quả của công cuộc tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.

3. Cơ sở thực tiễn

Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị đã được triển khai quyết liệt và đạt được những bước tiến mang tính đột phá, thể hiện rõ nét vai trò làm chủ của Nhân dân trên các phương diện:

Một là, tạo được sự đồng thuận xã hội sâu rộng thông qua công tác tư tưởng và truyền thông. Xác định tư tưởng phải đi trước một bước, hệ thống báo chí và công tác tuyên truyền đã đóng vai trò tiên phong trong việc “đả thông” tư tưởng. Nhờ đó, đại đa số nhân dân đã chuyển biến từ tâm lý e ngại xáo trộn sang ủng hộ mạnh mẽ chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính. Minh chứng rõ nét nhất là trong giai đoạn 2019 – 2021, cả nước đã thực hiện sắp xếp 21 đơn vị hành chính cấp huyện và 1.056 đơn vị hành chính cấp xã. Kết quả là giảm được 8 huyện và 561 xã2. Đến giai đoạn 2023 – 2025, sự đồng thuận của cử tri tại các địa phương thực hiện sáp nhập tiếp tục đạt tỷ lệ rất cao (nhiều nơi đạt trên 90% khi lấy ý kiến)3 cho thấy, Nhân dân đã thực sự tin tưởng vào tính hiệu quả của bộ máy mới sau tinh gọn.

Hai là, thể chế hóa quyền giám sát của Nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Quyền làm chủ của Nhân dân không còn là khẩu hiệu mà đã được cụ thể hóa bằng cơ chế. Mặt trận Tổ quốc các cấp đã thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong việc tổ chức các hội nghị phản biện xã hội đối với các đề án sắp xếp tổ chức bộ máy. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 là hành lang pháp lý vững chắc để Nhân dân tham gia ý kiến vào các vấn đề quan trọng của địa phương, bao gồm việc điều chỉnh địa giới hành chính và sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập. Đây chính là cầu nối hữu hiệu để ý chí, nguyện vọng của người dân được chuyển tải trực tiếp đến Đảng và Nhà nước.

Ba là, phát huy sức mạnh của dư luận xã hội và báo chí trong việc thanh lọc bộ máy. Với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”, báo chí và Nhân dân đã trở thành “tai mắt” quan trọng. Thời gian qua, hàng loạt vụ việc tiêu cực như bổ nhiệm cán bộ “thần tốc”, tình trạng “cả họ làm quan”, hay việc lập ra các tổ chức, đơn vị “sân sau” để trục lợi đã bị phanh phui nhờ đơn thư tố giác của Nhân dân và sự vào cuộc của báo chí. Áp lực từ dư luận xã hội đã buộc các cơ quan nhà nước phải rà soát lại quy trình, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những công chức, viên chức yếu kém về năng lực, thiếu tu dưỡng về đạo đức (thường được ví von là những người “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”), góp phần làm trong sạch đội ngũ và tinh gọn biên chế một cách thực chất4.

Bốn là, một trong những đặc điểm cốt lõi của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy hiện nay là việc đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối tượng thụ hưởng. Việc phát huy quyền làm chủ không chỉ là yêu cầu mang tính hình thức mà đã được thể chế hóa thông qua các cơ chế lấy ý kiến, giám sát và thực thi dân chủ trực tiếp. Quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện mạnh mẽ nhất trong việc quyết định các vấn đề lớn về địa giới hành chính. Chính phủ và Quốc hội đã xác định việc sáp nhập, đổi tên tỉnh, xã phải dựa trên sự tự nguyện và tán thành của cư dân địa phương.

Một đề án sáp nhập tỉnh hoặc xã chỉ được tiếp tục hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền khi nhận được sự đồng ý của từ 50% trở lên tổng số hộ gia đình trên địa bàn chịu tác động. Tỷ lệ đồng thuận thực tế trong các đợt lấy ý kiến năm 2025 tại nhiều địa phương đạt mức rất cao, trung bình khoảng 96%. Việc lấy ý kiến được thực hiện trong thời hạn tối đa 60 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu từ cấp tỉnh. Kết quả tổng hợp phải được công khai trên cổng thông tin điện tử địa phương và Cổng thông tin điện tử Chính phủ trong vòng 5 ngày làm việc sau khi kết thúc5. Nhà nước khuyến khích áp dụng hình thức lấy ý kiến điện tử thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội và các ứng dụng di động để bảo đảm sự thuận tiện và minh bạch cho người dân.

Năm là, để bảo đảm cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đi đúng hướng và thực chất, vai trò giám sát của Nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội được đề cao hơn bao giờ hết. Bản thân hệ thống Mặt trận Tổ quốc cũng tiến hành tinh gọn bộ máy (giảm đầu mối cấp Trung ương và địa phương từ ngày 01/7/2025) để tập trung nguồn lực hướng mạnh về cơ sở, thực hiện tốt hơn vai trò tập hợp và đại diện cho ý chí của Nhân dân. Các ban thanh tra nhân dân và ban giám sát đầu tư cộng đồng tại cấp xã đóng vai trò then chốt trong việc theo dõi hoạt động của chính quyền cơ sở, đặc biệt là giám sát việc sắp xếp tài sản công dôi dư và thực thi các chế độ, chính sách cho cán bộ sau sáp nhập. Thêm vào đó, các đoàn đại biểu Quốc hội thường xuyên theo dõi, phản ánh những bất cập, vướng mắc phát sinh trong quá trình vận hành mô hình chính quyền hai cấp để kịp thời kiến nghị các giải pháp xử lý.

Sáu là, mục tiêu cuối cùng của việc phát huy quyền làm chủ trong tinh gọn bộ máy là xây dựng một chính quyền kiến tạo và phục vụ. Mô hình chính quyền 2 cấp giúp đơn giản hóa thủ tục, đưa các cơ quan ra quyết định đến gần dân hơn. Việc cắt giảm hơn 4.300 quy định kinh doanh và thủ tục hành chính trong năm 2025 là minh chứng cho nỗ lực lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Quyền làm chủ của Nhân dân còn được thể hiện qua việc nhân dân được thụ hưởng các thành quả từ việc tiết kiệm ngân sách (giảm chi thường xuyên 39 nghìn tỷ đồng/năm) để tái đầu tư vào các chính sách an sinh xã hội, y tế và giáo dục. Chỉ số hạnh phúc của người dân Việt Nam năm 2025 tăng 37 bậc so với năm 2020 là kết quả của sự thay đổi tư duy quản trị này6.

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, song thẳng thắn nhìn nhận, việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong cuộc “cách mạng” tinh gọn bộ máy tại một số nơi, một số thời điểm vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng, thậm chí còn mang nặng tính hình thức. Những bất cập này xuất phát từ cả cơ chế vận hành lẫn nhận thức thực tiễn.

Quyền tiếp cận thông tin là tiền đề tiên quyết để thực hiện quyền làm chủ. Tuy nhiên, thực tế nhiều đề án sáp nhập, giải thể các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc điều chỉnh địa giới hành chính được xây dựng theo quy trình “kín”, mang nặng tính nội bộ ngành dọc. Người dân – đối tượng chịu tác động trực tiếp của các quyết định hành chính và thậm chí cả cán bộ, công chức cấp dưới thường chỉ được biết thông tin khi đề án đã hoàn thành hoặc khi có quyết định chính thức (“sự đã rồi”). Việc thiếu thông tin từ sớm, từ xa khiến nhân dân không có đủ dữ liệu để tham gia bàn bạc, góp ý. Điều này đi ngược lại nguyên tắc “Dân biết, dân bàn” được quy định trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, dẫn đến sự thụ động, thậm chí là tâm lý hoang mang, tin vào các luồng thông tin không chính thống, gây mất ổn định dư luận.

Cơ chế phản biện xã hội còn yếu và thiếu tính ràng buộc pháp lý về trách nhiệm giải trình. Mặc dù Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã tích cực tổ chức lấy ý kiến, nhưng hiệu lực thực tế của các ý kiến này chưa cao. Các ý kiến đóng góp của Nhân dân và các chuyên gia, nhà khoa học đôi khi chỉ dừng lại ở mức “tham khảo”. Chưa có chế tài pháp lý đủ mạnh buộc cơ quan soạn thảo đề án phải giải trình rõ ràng, công khai bằng văn bản về việc tại sao tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến đó.

Tâm lý e ngại và “tự diễn biến” ngay trong nội bộ đội ngũ cán bộ, công chức. Cần nhận thức rõ, cán bộ, công chức trong bộ máy cũng chính là “Nhân dân” là người lao động. Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhóm đối tượng đặc thù này đang bị chi phối mạnh mẽ bởi nỗi lo “cơm áo gạo tiền” và tâm lý sợ trù dập. Trong bối cảnh tinh giản biên chế, sáp nhập tổ chức, tâm lý sợ mất “ghế”, sợ mất vị trí việc làm khiến nhiều người chọn cách im lặng, “dĩ hòa vi quý”, không dám lên tiếng đấu tranh với những phương án sắp xếp bất hợp lý, cục bộ hay lợi ích nhóm của lãnh đạo đơn vị. Nguyên nhân là do vấn đề “bảo đảm chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức… bị ảnh hưởng do thực hiện tinh gọn bộ máy”, việc chưa có những chính sách hậu phương vững chắc, thấu đáo để giải quyết chế độ cho người dôi dư đã làm giảm động lực tham gia ý kiến một cách trung thực, thẳng thắn của chính những “người trong cuộc”.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế.

Cần luật hóa quy trình và thời hạn lấy ý kiến Nhân dân về các đề án tổ chức bộ máy, thiết lập “thời gian vàng” cho phản biện, thời gian niêm yết công khai tối thiểu là 60 ngày. Cơ quan soạn thảo phải có báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến Nhân dân và đăng tải công khai theo tinh thần “công khai, minh bạch” được nhấn mạnh trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Xây dựng và thực thi nghiêm ngặt cơ chế trách nhiệm giải trình. Tinh gọn bộ máy phải gắn liền với việc xây dựng đội ngũ cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”. Cần cụ thể hóa quy định: người đứng đầu cơ quan thực hiện tinh gọn phải công bố “cam kết đầu ra” (giảm chi phí, giảm thời gian thủ tục). Nếu sau 12 – 24 tháng xảy ra tình trạng “bình mới rượu cũ”, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm theo Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, coi việc không tinh gọn hiệu quả là một biểu hiện của sự lãng phí nguồn lực.

Thể chế hóa vai trò giám sát của các tổ chức xã hội và chuyên gia. Cần quy định việc tham gia của đại diện Mặt trận Tổ quốc, các hiệp hội chuyên ngành và chuyên gia độc lập vào Hội đồng thẩm định đề án tinh gọn là thủ tục bắt buộc. Các ý kiến phản biện này phải có giá trị pháp lý trong hồ sơ trình duyệt.

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ đặc biệt đối với người dân và cán bộ dũng cảm đấu tranh chống lại hành vi lợi dụng tinh gọn bộ máy để trù dập hoặc “cài cắm” nhân sự, bảo đảm tinh thần “không có vùng cấm” trong công tác cán bộ.

Thứ hai, về truyền thông và báo chí.

Đổi mới tư duy truyền thông chính sách: từ “thông báo” sang “đối thoại”. Thực hiện quy trình truyền thông: giải trình thấu đáo trước khi ban hành; lắng nghe và điều chỉnh trong khi thực hiện; minh bạch hóa kết quả (ngân sách tiết kiệm, hiệu quả tăng lên) sau khi thực hiện để củng cố niềm tin. Xây dựng cơ chế bảo vệ người “dám nói thẳng” trên truyền thông.

Thứ ba, về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Cần chuyển ban thanh tra nhân dân từ vai trò “giám sát mang tính hình thức” sang chủ thể giám sát có thực quyền, có khả năng tác động trực tiếp đến quá trình quản lý, sử dụng nguồn lực công ở cơ sở. Theo đó, cần quy định rõ quyền của ban thanh tra nhân dân được yêu cầu chính quyền cấp xã và các cơ quan liên quan công khai phương án xử lý tài sản công dôi dư (như: trụ sở làm việc, xe công, cơ sở vật chất sau sáp nhập đơn vị hành chính), bao gồm: hình thức xử lý, giá trị tài sản, phương án chuyển giao hoặc đấu giá, thời hạn thực hiện và cơ quan chịu trách nhiệm. Đây là khâu dễ phát sinh thất thoát, lãng phí nếu thiếu cơ chế giám sát độc lập và thường xuyên. Cùng với đó, hoạt động giám sát cần được chuẩn hóa theo hướng định lượng hóa hiệu quả, gắn với các chỉ số cụ thể, như: mức độ tiết kiệm ngân sách đạt được, tỷ lệ tài sản công được xử lý đúng hạn, số kiến nghị được tiếp thu và giải quyết. Việc này giúp khắc phục tình trạng giám sát mang tính “phong trào”, hình thức; đồng thời, tạo cơ sở để đánh giá thực chất vai trò của Ban Thanh tra nhân dân trong phòng, chống lãng phí, tiêu cực ở cơ sở.

Đẩy mạnh số hóa hoạt động giám sát và thực hành “dân chủ số” ở cơ sở. Trong điều kiện chuyển đổi số quốc gia, cần đổi mới phương thức thực hiện dân chủ theo hướng tận dụng tối đa nền tảng số để mở rộng sự tham gia của người dân. Theo đó, nghiên cứu tích hợp các công cụ lấy ý kiến, khảo sát mức độ hài lòng của người dân vào các nền tảng dùng chung như VNeID và Cổng Dịch vụ công Quốc gia, bảo đảm thuận tiện, dễ tiếp cận và an toàn dữ liệu. Việc tham gia góp ý, phản ánh, đánh giá của người dân không chỉ dừng ở mức khuyến khích mà cần được thiết kế thành một quy trình thường xuyên, có đầu ra rõ ràng và được cơ quan nhà nước tiếp thu, phản hồi.

Dữ liệu đánh giá sự hài lòng của người dân cần được coi là thước đo trọng yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở và bộ máy hành chính sau sắp xếp. Kết quả khảo sát phải được sử dụng như một căn cứ trong đánh giá cán bộ, công chức, trong điều chỉnh chính sách và tổ chức thực thi nhiệm vụ, thay vì chỉ mang tính tham khảo. Điều này góp phần chuyển trọng tâm quản lý từ “quản lý theo quy trình nội bộ” sang “quản trị dựa trên trải nghiệm và sự hài lòng của người dân”.

Thứ tư, về bảo đảm an sinh xã hội trong quá trình tinh gọn.

Đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, không chỉ hỗ trợ tiền mặt, cần có các gói tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nghề và kết nối doanh nghiệp để giúp cán bộ dôi dư chuyển đổi nghề nghiệp bền vững. Sử dụng linh hoạt nguồn lực dôi dư. Đối với những cán bộ trẻ, có năng lực, cần có phương án luân chuyển, điều động từ nơi thừa sang nơi thiếu hoặc sang các đơn vị sự nghiệp tự chủ để phát huy sở trưởng7. Sự tham gia của các trung tâm dịch vụ việc làm là chìa khóa để biến “áp lực dôi dư” thành “nguồn cung lao động chất lượng cao” cho thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế số và dịch vụ.

Xây dựng văn hóa phục vụ theo Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về chấn chỉnh lề lối làm việc, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo cao nhất cho hiệu quả của bộ máy.

5. Kết luận

Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy là nhiệm vụ chưa từng có trong lịch sử, song như Lênin chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng8. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân chính là chìa khóa để “ý Đảng” hòa quyện với “lòng dân”. Khi quyền giám sát được thực thi và báo chí truyền thông thực hiện chức năng thông tin hiệu quả, minh bạch, chúng ta xây dựng được một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đủ sức gánh vác sứ mệnh đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Chú thích:
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh (1949). Bài báo “Dân vận”. Báo Sự thật, số 120, ngày 15/10/1949.
2. Chính phủ (2021). Báo cáo số 577/BC-CP ngày 19/10/2021 về kết quả thực hiện Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 – 2021.
3. Bộ Nội vụ (2024). Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2024 (nhiều địa phương như Nam Định, Tuyên Quang… tỷ lệ cử tri đồng thuận sáp nhập xã/phường đạt trên 90%).
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
5, 6. Chính phủ (2025). Nghị định số 321/2025/NĐ-CP ngày 16/12/2025 hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.
7. Chính phủ (2025). Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15/3/2025 về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
8. V.I.Lênin toàn tập (1977). Tập 35. NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 66.