TS. Đỗ Thị Vui
Học viện Hành chính và Quản trị công
Nguyễn Duy Long
Sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích công tác truyền thông chính sách về di sản văn hoá đối với người dân tộc Sán Chỉ tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc nhìn từ quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh Quảng Ninh tiên phong đổi mới bộ máy hành chính và chuyển đổi số, công tác truyền thông chính sách không chỉ dừng lại ở tuyên truyền một chiều mà đòi hỏi sự tham gia đa chiều, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Bài viết chỉ ra những thành tựu trong việc vận hành quản trị quốc gia hiện đại tại và các thách thức trong việc tiếp cận chính sách về văn hoá với dân tộc Sán Chỉ tại Quảng Ninh. Từ đó, đề xuất các định hướng nhằm đổi mới công tác truyền thông chính sách, biến di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững cho địa phương.
Từ khóa: Truyền thông chính sách; di sản văn hóa; Sán Chỉ; quản trị công; Quảng Ninh; quản lý nhà nước.
1. Đặt vấn đề
Trong quản trị quốc gia hiện đại, văn hóa được xác định không chỉ là giá trị thừa kế mà còn là nguồn nội lực quan trọng, trực tiếp góp phần củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực quản lý và sức cạnh tranh của địa phương1. Thực tiễn cho thấy, việc tổ chức truyền thông chính sách phù hợp với điều kiện văn hóa – xã hội của từng đối tượng khác nhau không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật hành chính mà còn là nội dung cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả phục vụ xã hội làm thước đo.
Đặc biệt, tại tỉnh Quảng Ninh với sự xuất hiện của đông đảo dân số người dân tộc Sán Chỉ sinh sống tập trung tại vùng núi phía Đông Bắc của tỉnh, dân tộc Sán Chỉ bao gồm rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc cả từ di sản vật thể và phi vật thể. Về văn hóa vật thể, đó là kiến trúc nhà sàn ba gian bao quanh bởi đá suối, trang phục chàm truyền thống với điểm nhấn viền đỏ đặc sắc, cùng các sản vật gắn liền với chỉ dẫn địa lý như gạo Chăm Tan và miến dong. Về văn hóa phi vật thể, cộng đồng lưu giữ kho tàng tín ngưỡng dân gian qua các nghi lễ cầu mùa, lễ vòng đời và đặc biệt là nghệ thuật hát Soóng Cọ; hát Soóng Cọ là loại hình hát đối giao duyên phản ánh sâu sắc thế giới quan và tâm hồn của người dân lao động. Những di sản này hiện nay không chỉ là bản sắc tự thân mà còn được hiện thực hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội thông qua các sự kiện tiêu biểu như “Lễ hội mùa vàng miền Soóng Cọ” góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của địa phương.
Nhận thức rõ những giá trị cốt lõi đó, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, văn bản quy định về di sản văn hóa và công tác truyền thông chính sách tại tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, truyền thông chính sách về di sản văn hoá đối với người dân tộc Sán Chỉ tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ quản trị quốc gia hiện đại là yêu cầu khách quan, tất yếu của quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và nâng cao đời sống – an sinh xã hội của dân tộc trong bối cảnh biến động trên thế giới.
2. Xây dựng quản trị quốc gia hiện đại trong công tác truyền thông chính sách tại Quảng Ninh
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề cập: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là quản lý phát triển và quản lý xã hội. Xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Quản trị quốc gia ở Việt Nam được hiểu cơ bản là: (1) Sự lãnh đạo của Đảng đối với quản trị quốc gia là một tất yếu khách quan, là điều kiện để quản trị quốc gia đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một chủ thể đặc biệt, quan trọng nhất trong quản trị quốc gia; (3) Bảo đảm mọi hoạt động của bộ máy nhà nước và các chủ thể quản trị phải minh bạch, dễ tiếp cận, rõ ràng, có thể kiểm chứng; (4) Thể chế quản trị quốc gia quy định nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức và cá nhân nắm giữ quyền lực công phải giải thích, báo cáo và chịu trách nhiệm về các quyết định, hành động và kết quả công việc trước Nhân dân, cơ quan giám sát và pháp luật; (5) Sự tham gia của người dân và xã hội và hướng đến sự đồng thuận; (6) Quản lý phát triển bền vững; (7) Bộ máy và năng lực quản trị công phải bảo đảm các chính sách công được triển khai đồng bộ, hiệu quả; tạo mối liên kết giữa Nhà nước và xã hội thông qua cung cấp dịch vụ công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; (8) Quản trị quốc gia ở Việt Nam gắn với việc bảo vệ an ninh quốc gia và ổn định chính trị – xã hội2.
Quảng Ninh là tỉnh vừa xác lập kỷ lục tăng trưởng GRDP 11,89% năm 20253, việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc Sán Chỉ với làn điệu Soóng Cọ và sắc áo chàm truyền thống không chỉ là nhiệm vụ văn hóa mà còn là chiến lược phát triển bền vững. Đặc trưng cốt lõi giúp Quảng Ninh khẳng định vị thế dẫn đầu chính là tư duy đi đầu trong việc xác lập các mô hình quản trị hiện đại. Bám sát tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, tỉnh đã thực hiện thay đổi lớn trong địa giới hành chính nhằm sáp nhập toàn bộ huyện miền núi Hoành Bồ vào thành phố Hạ Long theo Nghị quyết số 837/NQ-UBTVQH14 ngày 17/12/2019 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đây không chỉ là việc mở rộng địa giới mà là bước đi tiên phong trong việc vận hành mô hình chính quyền đô thị tinh gọn, hướng tới việc giảm tầng nấc trung gian để tối ưu hóa điều hành.
Đến năm 2025, thông qua việc thực thi Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quảng Ninh tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã), đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả bộ máy. Qua đó, tỉnh Quảng Ninh xác định một mục tiêu cơ bản về mục tiêu phát triển nền hành chính của tỉnh Quảng Ninh trở thành nền hành chính không chỉ hiện đại, gọn mạnh mà còn thực sự gần dân. Đối với người dân tộc Sán Chỉ ở vùng núi phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, liệu việc tinh gọn bộ máy sẽ giúp người dân tộc Sán Chỉ tiếp cận chính sách một cách nhanh hơn và đa diện hơn hay văn hoá dân tộc sẽ phải “nhường bước” cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, văn bản quy định về công tác truyền thông chính sách tại tỉnh Quảng Ninh tiêu biểu, như: Kế hoạch số 141/KH-UBND ngày 23/6/2023 của UBND tỉnh Quảng Ninh về tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn tỉnh, xác định: “Thực hiện các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan về Ngày pháp luật qua hệ thống pa nô, áp phích, băng rôn, cờ phướn trên các tuyến phố chính, các tổ dân phố, cụm dân cư…”; Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đề ra phương hướng và nhiệm vụ về: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng cơ chế kịp thời nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật…”. Các định hướng này thể hiện rõ quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc nâng cao chất lượng truyền thông chính sách, gắn với ứng dụng công nghệ, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Đồng thời, trên nền tảng các nghị quyết của Tỉnh uỷ, như: Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 09/3/2018 của Tỉnh ủy Quảng Ninh, khẳng định: “Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Quảng Ninh về đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 23/3/2021 nhất quán về: “công tác quốc phòng, quân sự bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia; xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, phát triển; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, văn minh”.
3. Một số vấn đề trong công tác truyền thông chính sách về di sản văn hóa đối với người dân tộc Sán Chỉ tại tỉnh Quảng Ninh
Trên cơ sở các chủ trương của Trung ương về công tác dân tộc và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thực tiễn triển khai, Nghị quyết số 06-NQ/HU ngày 09/5/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tiên Yên về di sản văn hóa; Quyết định số 3769/QĐ-UBND 15/9/2022 phê duyệt Đề án di sản văn hóa giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch triển khai Đề án di sản văn hóa huyện Tiên Yên tháng 02/2024; cùng các báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết cho thấy, công tác truyền thông chính sách đã từng bước được tổ chức theo hướng mở rộng chủ thể tham gia.
Bên cạnh vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, đội ngũ cán bộ văn hóa, giáo dục, già làng, trưởng thôn, người có uy tín và nghệ nhân dân gian trong cộng đồng Sán Chỉ đã được huy động tham gia truyền tải nội dung chính sách, thể hiện xu hướng quản trị đa chủ thể, phát huy vai trò cộng đồng theo tinh thần quản trị quốc gia hiện đại. Ngoài ra, thông qua báo cáo, kế hoạch UBND xã Bình Liêu ngày 05/11/2025 về thực hiện chính sách về di sản văn hóa và tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số; công tác truyền thông chính sách được triển khai trực tiếp gắn với sinh hoạt cộng đồng, họp thôn, hoạt động của các chi bộ và các thiết chế văn hóa cơ sở. Việc sử dụng đội ngũ cán bộ xã, bí thư chi bộ, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng Sán Chỉ làm chủ thể truyền thông trực tiếp đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và người dân, phản ánh rõ nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm trong quản trị quốc gia hiện đại.
Về phương tiện truyền thông, thực tiễn tại huyện Tiên Yên và xã Bình Liêu cho thấy, công tác truyền thông chính sách về di sản văn hóa đối với người dân tộc Sán Chỉ được triển khai thông qua sự kết hợp giữa phương tiện truyền thông hiện đại và phương tiện truyền thông truyền thống. Hệ thống truyền thanh cơ sở, sinh hoạt chi bộ, họp thôn, các hoạt động văn hóa – văn nghệ dân gian, lễ hội truyền thống, không gian di sản văn hóa được sử dụng như những kênh truyền thông chủ đạo, phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của đồng bào Sán Chỉ. Đồng thời, việc triển khai các chương trình, đề án cấp huyện và xã đã từng bước đưa một số nội dung truyền thông chính sách lên môi trường số ở mức độ phù hợp, thể hiện quá trình hiện đại hóa phương tiện truyền thông gắn với điều kiện thực tiễn của vùng miền núi.
Về nội dung truyền thông, các văn bản và báo cáo cấp huyện, xã (trước ngày 01/7/2025), cho thấy, nội dung chính sách đã cơ bản tập trung vào di sản văn hóa dân tộc Sán Chỉ gắn với giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Việc triển khai Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ được cụ thể hóa bằng các kế hoạch và báo cáo của UBND huyện Tiên Yên và UBND huyện Bình Liêu, đã góp phần nâng cao khả năng tiếp nhận nội dung chính sách đối với người dân tộc Sán Chỉ, tạo tiền đề cho việc mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình thực thi chính sách theo tinh thần quản trị quốc gia hiện đại hướng tới đồng thuận xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác truyền thông chính sách về di sản văn hóa đối với người dân tộc Sán Chỉ tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay vẫn còn bộc lộ một số thách thức và hạn chế, như:
(1) Bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp sang hai cấp đã tạo ra độ trễ nhất định trong quá trình chuyển giao chức năng, hoàn thiện văn bản, chính sách, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp, ảnh hưởng đến tính liên tục và hiệu quả của công tác truyền thông chính sách ở cấp cơ sở; phương thức truyền thông chính sách tuy ngày càng đa dạng, từng bước ứng dụng nền tảng số, song chưa chú trọng đầy đủ đến các rủi ro và mặt trái của môi trường số, đặc biệt là nguy cơ nhiễu loạn thông tin và khó kiểm soát nội dung tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
(2) Nội dung truyền thông chính sách ở một số lĩnh vực còn mang tính hành chính, mức độ chuẩn hóa và sự phù hợp với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ, tập quán của người dân tộc Sán Chỉ chưa cao;
(3) Đội ngũ chủ thể thực hiện truyền thông chính sách ở cơ sở còn biểu hiện sự trì trệ nhất định, năng lực truyền thông chưa được chuẩn hóa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại;
(4) Nếu không bảo đảm được sự hài hòa giữa việc dạy tiếng Việt theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg và giữ gìn ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa của người Sán Chỉ sẽ đứng trước nguy cơ bị đồng hóa và dần biến mất;
(5) Người dân chưa thực sự được tham gia sâu vào quá trình thụ hưởng, phản hồi và phản biện chính sách, vai trò chủ thể của cộng đồng trong truyền thông chính sách còn mờ nhạt; hạn chế về cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông vẫn là yếu tố cản trở đáng kể đối với việc triển khai hiệu quả công tác truyền thông chính sách tại cơ sở.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý.
Công tác truyền thông chính sách về di sản văn hoá dành cho người dân tộc Sán Chỉ trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương là yêu cầu có tính nền tảng của quản trị quốc gia hiện đại. Việc triển khai Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ninh năm 2025 đã làm thay đổi không gian quản lý, địa giới hành chính và phương thức tổ chức bộ máy ở cấp cơ sở, qua đó đặt ra yêu cầu phải rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan đến công tác truyền thông chính sách về di sản văn hóa. Theo đó, cần tiến hành:
(1) Rà soát toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án về văn hóa và truyền thông chính sách đã ban hành trước thời điểm sáp nhập nhằm kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế những nội dung không còn phù hợp với mô hình quản lý mới;
(2) Hoàn thiện định mức kinh tế – kỹ thuật cho công tác truyền thông chính sách, bảo đảm phân bổ nguồn lực phù hợp với đặc thù từng xã, phường có đồng bào dân tộc Sán Chỉ sinh sống, tránh tình trạng áp dụng cơ học định mức chung, gây lãng phí hoặc thiếu hiệu quả;
(3) Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể truyền thông chính sách, làm rõ phạm vi trách nhiệm của cấp huyện trong mối quan hệ với cấp tỉnh và cấp cơ sở, bảo đảm thống nhất đầu mối, tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ. Bên cạnh đó, việc sáp nhập địa giới hành chính cũng đòi hỏi;
(4) Xây dựng và hoàn thiện các chính sách về di sản văn hóa mới phù hợp với không gian quản lý sau sáp nhập, phản ánh đầy đủ đặc trưng văn hóa của cộng đồng Sán Chỉ trong tổng thể phát triển chung của địa phương;
(5) Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác truyền thông chính sách theo hướng tăng cường sự tham gia phản biện của người dân tộc Sán Chỉ, coi đây là một tiêu chí quan trọng để bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi chính sách.
Thứ hai, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về quản trị quốc gia hiện đại.
Trong điều kiện quản trị quốc gia hiện đại lấy người dân làm trung tâm, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn hóa và truyền thông chính sách không chỉ thực hiện chức năng truyền đạt mệnh lệnh hành chính mà còn đóng vai trò cầu nối giữa Nhà nước và xã hội. Do đó, yêu cầu chuẩn hóa năng lực của đội ngũ này cần được đặt ra một cách nghiêm túc và đồng bộ, từ chuẩn hóa kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật, văn hóa dân tộc đến kỹ năng truyền thông, đối thoại, xử lý thông tin và sử dụng công nghệ. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực chất, gắn với yêu cầu vị trí việc làm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng và truyền thông chính sách, qua đó, giảm thiểu tình trạng lãng phí nguồn lực, hạn chế nguy cơ tham nhũng, tiêu cực trong quá trình triển khai chính sách ở cơ sở.
Thứ ba, chuẩn hóa nội dung chính sách theo hướng phù hợp với đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán và trình độ tiếp nhận của người dân dân tộc Sán Chỉ.
Đây là yêu cầu mang tính cốt lõi trong truyền thông chính sách về di sản văn hóa. Nội dung truyền thông không chỉ cần chính xác về mặt pháp lý mà còn phải dễ hiểu, dễ tiếp cận, tôn trọng và phát huy giá trị văn hóa bản địa. Việc xây dựng nội dung chính sách cần tránh cách tiếp cận thuần túy hành chính, áp đặt từ trên xuống, thay vào đó là lồng ghép các yếu tố văn hóa truyền thống, ngôn ngữ, sinh hoạt cộng đồng của người Sán Chỉ, qua đó giúp chính sách trở nên gần gũi, có sức thuyết phục và khả năng lan tỏa cao hơn. Chuẩn hóa nội dung chính sách theo hướng này không chỉ nâng cao hiệu quả truyền thông mà còn góp phần củng cố niềm tin xã hội và sự đồng thuận trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
Thứ tư, hiện đại hóa phương tiện truyền thông chính sách.
Hiện đại hóa phương tiện truyền thông chính sách gắn với yêu cầu quản trị an ninh tư tưởng là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Việc ứng dụng các nền tảng số, mạng xã hội, hệ thống thông tin điện tử vào công tác truyền thông chính sách cần được triển khai có chọn lọc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của vùng đồng bào dân tộc Sán Chỉ, đồng thời phải đặt trong khuôn khổ quản lý thống nhất của Nhà nước. Hiện đại hóa phương tiện truyền thông không chỉ nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin mà còn phải đi đôi với việc bảo đảm an ninh thông tin, định hướng dư luận và phòng ngừa các nguy cơ tác động tiêu cực từ môi trường số và tránh nguy cơ từ “Diễn biến hoà bình”. Đây là nội dung quan trọng thể hiện sự kết hợp giữa quản trị quốc gia hiện đại và yêu cầu giữ vững ổn định chính trị – xã hội ở địa bàn dân tộc thiểu số.
Thứ năm, đổi mới tư duy trong công tác truyền thông chính sách.
Truyền thông chính sách về di sản văn hóa đối với người dân tộc Sán Chỉ theo hướng chuyển từ cách tiếp cận “người dân là đối tượng truyền thông” sang “người dân là chủ thể truyền thông” là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược. Trong quản trị quốc gia hiện đại, người dân không chỉ thụ hưởng chính sách mà còn tham gia vào quá trình xây dựng, giám sát và phản biện chính sách. Việc tạo điều kiện để người dân tộc Sán Chỉ tham gia trực tiếp vào hoạt động truyền thông chính sách thông qua các thiết chế văn hóa, tổ chức cộng đồng, vai trò của già làng, trưởng thôn, người có uy tín sẽ góp phần nâng cao tính đa chiều, khách quan và hiệu quả của truyền thông chính sách. Qua đó, không chỉ nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Sán Chỉ mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, dân chủ, minh bạch và hướng tới phát triển bền vững.
5. Kết luận
Việc nghiên cứu công tác truyền thông chính sách về di sản văn hóa đối với người dân tộc Sán Chỉ tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc nhìn từ quản trị quốc gia hiện đại không chỉ là yêu cầu nhất quán của Đảng mà còn là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh địa phương đang tiên phong chuyển đổi mô hình chính quyền và đẩy mạnh số hóa toàn diện. Việc đặt công tác truyền thông chính sách dưới góc độ quản trị quốc gia hiện đại sẽ làm tăng tính đa chiều, minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính, đồng thời xóa bỏ rào cản thông tin giữa chính quyền và người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, để chuyển hóa hoàn toàn từ tư duy “quản lý” sang “quản trị” trong truyền thông chính sách, tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục kiên trì thực hiện các giải pháp về hoàn thiện thể chế sau sáp nhập, chuẩn hóa năng lực số cho đội ngũ cán bộ cơ sở và đặc biệt là nâng cao vai trò chủ thể của cộng đồng người Sán Chỉ. Đổi mới truyền thông chính sách về di sản văn hóa chính là chìa khóa để Quảng Ninh không chỉ thành công về các chỉ số tăng trưởng kinh tế mà còn trở thành hình mẫu về bảo tồn bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên quản trị số hiện đại.
Chú thích:
1. Khẳng định văn hóa là nền tảng của phát triển quốc gia, là nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết của phát triển bền vững. https://bvhttdl.gov.vn/khang-dinh-van-hoa-la-nen-tang-cua-phat-trien-quoc-gia-la-nguon-luc-noi-sinh-va-he-dieu-tiet-cua-phat-trien-ben-vung-2025103013390678.htm.
2. Đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/23/doi-moi-quan-tri-quoc-gia-trong-ky-nguyen-so-tai-viet-nam/.
3. Năm 2025, tăng trưởng GRDP của Quảng Ninh cao nhất cả nước. https://baoquangninh.vn/nam-2025-tang-truong-grdp-cua-quang-ninh-cao-nhat-ca-nuoc-3391860.html.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 phê duyệt Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến 2025”.
5. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2019). Nghị quyết số 837/NQ-UBTVQH14 ngày 17/12/2019 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ninh.
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025.
8. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2018). Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 09/3/2018 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
9. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2021). Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 23/3/2021 về công tác quốc phòng, quân sự địa phương giai đoạn 2021 – 2025.
10. UBND tỉnh Quảng Ninh (2023). Kế hoạch số 141/KH-UBND ngày 23/6/2023 về tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn tỉnh.
11. Huyện ủy Tiên Yên (2022). Nghị quyết số 06-NQ/HU ngày 09/5/2022 về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa huyện Tiên Yên giai đoạn 2022 – 2025.
12. UBND huyện Tiên Yên (2022). Quyết định số 3769/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 phê duyệt Đề án Di sản văn hóa huyện Tiên Yên giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030.



