ThS. Hoàng Thị Quyên
Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trên cơ sở làm rõ bối cảnh tác động đến phát triển kinh tế Việt Nam, bài viết tập trung phân tích các quan điểm, mục tiêu và nội dung; yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo kinh tế, Nghị quyết Đại hội XIV, phát triển kinh tế, định hướng xã hội chủ nghĩa.
1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là nhiệm vụ trung tâm, giữ vai trò nền tảng vật chất cho việc thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời là lĩnh vực thể hiện tập trung nhất năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị và trình độ tư duy lý luận của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tác động sâu sắc đến mô hình tăng trưởng, cùng với những yêu cầu mới đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập những quan điểm, mục tiêu và định hướng lớn về phát triển kinh tế, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy và phương thức Đảng lãnh đạo kinh tế, đòi hỏi được nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện một cách sâu sắc, đồng bộ và hiệu quả.
2. Bối cảnh và yêu cầu mới đối với sự lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng
2.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến phát triển kinh tế Việt Nam
Những năm gần đây, bối cảnh kinh tế, chính trị và an ninh thế giới có nhiều biến động sâu sắc, phức tạp và khó lường, tác động trực tiếp và đa chiều đến quá trình phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ thương mại và các biện pháp hạn chế thương mại có xu hướng quay trở lại; xung đột cục bộ, bất ổn địa chính trị kéo dài ở nhiều khu vực đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, gia tăng rủi ro đối với thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Những biến động này đặt các nền kinh tế có độ mở lớn trước yêu cầu phải nâng cao năng lực thích ứng, khả năng chống chịu và bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện môi trường quốc tế ngày càng bất định.
Song song với những biến động về kinh tế và chính trị, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa, đang làm thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng, phương thức sản xuất và quản trị kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng năng suất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với các quốc gia đang phát triển, đây vừa là cơ hội để rút ngắn khoảng cách phát triển, vừa là thách thức lớn nếu không kịp thời đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu mang tính chiến lược lâu dài.
Ở trong nước, sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, quy mô và tiềm lực kinh tế không ngừng được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế quốc tế của đất nước ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng bộc lộ không ít hạn chế và thách thức mang tính cơ cấu, như chất lượng tăng trưởng chưa thật sự bền vững, năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực, năng lực tự chủ của nền kinh tế còn hạn chế, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa thật sự đồng bộ. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những vấn đề nội tại này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng nhằm kịp thời thích ứng với bối cảnh mới và dẫn dắt quá trình phát triển kinh tế đất nước theo hướng nhanh, bền vững và hiệu quả hơn.
2.2. Yêu cầu mới đặt ra đối với vai trò lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng
Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước và những biến động sâu sắc của môi trường quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế tiếp tục được đặt ra với những yêu cầu ngày càng cao, toàn diện và thực chất hơn. Yêu cầu xuyên suốt và có ý nghĩa nguyên tắc là phải bảo đảm phát triển kinh tế luôn gắn chặt với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời phát huy đầy đủ các thành phần kinh tế khác, là cơ sở để bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc xác lập mục tiêu mà còn phải thể hiện rõ trong việc định hướng thể chế, chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển, qua đó khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên cấp thiết. Thực tiễn phát triển cho thấy, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và vốn đầu tư lớn đã bộc lộ những giới hạn rõ rệt, không còn phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Điều này đặt ra yêu cầu đối với sự lãnh đạo kinh tế của Đảng phải hướng mạnh vào việc kiến tạo môi trường phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Một yêu cầu có tính chất then chốt khác là phải tiếp tục đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực kinh tế cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Lãnh đạo kinh tế trong giai đoạn mới không chỉ là việc ban hành chủ trương, đường lối, mà còn phải được thể hiện thông qua năng lực hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế, kiểm tra, giám sát và kịp thời điều chỉnh chính sách trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận.
Đảng lãnh đạo bằng định hướng, bằng chiến lược và bằng cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh bao biện, làm thay hoặc can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo kinh tế theo hướng khoa học, dân chủ, minh bạch và hiệu quả là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế trong thời kỳ mới.
3. Quan điểm, mục tiêu và nội dung phát triển kinh tế theo Nghị quyết Đại hội XIV
3.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế trong Nghị quyết Đại hội XIV
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định một cách nhất quán và rõ ràng quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Việc xác định phát triển kinh tế giữ vai trò trung tâm không chỉ mang ý nghĩa về ưu tiên nguồn lực mà còn thể hiện tư duy xuyên suốt của Đảng trong việc coi kinh tế là nền tảng vật chất quyết định để thực hiện các mục tiêu về chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm lo phát triển con người toàn diện, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đây là điểm thể hiện rõ bản chất nhân văn và định hướng xã hội chủ nghĩa trong tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng, bảo đảm phát triển kinh tế không tách rời các giá trị xã hội và con người.
Một quan điểm nổi bật khác trong Nghị quyết Đại hội XIV là yêu cầu phát triển kinh tế nhanh đi đôi với phát triển bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời là yếu tố quyết định để đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế trong giai đoạn mới. Việc nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng bền vững thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng, khắc phục cách tiếp cận thiên về tăng trưởng theo chiều rộng, hướng tới mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định các mục tiêu phát triển kinh tế cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, phù hợp với các mốc phát triển chiến lược của đất nước. Mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng nền kinh tế phát triển theo hướng hiện đại, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới xây dựng nước Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có nền kinh tế hiện đại, tự chủ, hội nhập sâu rộng và bền vững. Những mục tiêu này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế thuần túy mà còn thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đặt ra yêu cầu cao đối với vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc định hướng, dẫn dắt và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn.
3.2. Nội dung phát triển kinh tế trong giai đoạn mới
Một trong những nội dung lãnh đạo trọng tâm của Đảng đối với phát triển kinh tế trong giai đoạn mới là lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm vận hành đầy đủ, thông suốt các quy luật của thị trường, đồng thời, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch và bình đẳng mà còn hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa các biểu hiện tiêu cực, lợi ích nhóm trong phát triển kinh tế. Đây là nội dung có ý nghĩa nền tảng, quyết định hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế trong thực tiễn.
Cùng với hoàn thiện thể chế, Đảng lãnh đạo phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và lực lượng sản xuất, coi đây là động lực trực tiếp của tăng trưởng và phát triển. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh việc tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã phù hợp với yêu cầu mới; thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, Đảng lãnh đạo việc phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học, công nghệ. Nội dung lãnh đạo này thể hiện rõ tư duy phát triển bao trùm, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực xã hội cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
Một nội dung quan trọng khác trong sự lãnh đạo kinh tế của Đảng trong giai đoạn mới là lãnh đạo kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIV xác định phát triển kinh tế là cơ sở vật chất quan trọng để củng cố quốc phòng, an ninh, đồng thời yêu cầu lồng ghép các mục tiêu quốc phòng, an ninh trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng lãnh đạo việc phát triển kinh tế gắn với mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và an ninh kinh tế quốc gia. Việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại không chỉ góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong dài hạn.
4. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế và những vấn đề đặt ra
4.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế
Trong giai đoạn phát triển mới, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế là yêu cầu có tính tất yếu khách quan, xuất phát từ sự vận động của nền kinh tế thị trường hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng và nhiệm vụ nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.
Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế thông qua việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và định hướng phát triển dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đây là phương thức lãnh đạo mang tính căn bản, thể hiện vai trò định hướng chính trị và tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với quá trình phát triển kinh tế đất nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm tính khoa học, tính dự báo và tính khả thi, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu phát triển bền vững và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng lãnh đạo kinh tế chủ yếu thông qua Nhà nước, thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phương thức lãnh đạo này đòi hỏi sự phân định rõ ràng giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đảng tập trung lãnh đạo việc xây dựng thể chế, kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, ổn định và thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm chuyển mạnh phương thức lãnh đạo kinh tế của Đảng từ nặng về chỉ đạo hành chính sang lãnh đạo bằng pháp luật, chiến lược và cơ chế, chính sách.
Một nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo kinh tế có ý nghĩa ngày càng quan trọng là phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế. Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định yêu cầu tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách kinh tế; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội. Thông qua cơ chế giám sát và phản biện xã hội, Đảng kịp thời nắm bắt những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo kinh tế. Đây không chỉ là phương thức lãnh đạo tiến bộ, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại mà còn góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội trong phát triển kinh tế.
4.2. Một số vấn đề đặt ra và định hướng tiếp tục hoàn thiện
Mặc dù Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu và nội dung lãnh đạo phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, song trong thực tiễn vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa chủ trương và tổ chức thực hiện. Ở một số lĩnh vực, việc thể chế hóa nghị quyết của Đảng thành pháp luật, cơ chế, chính sách cụ thể còn chậm, thiếu đồng bộ; công tác tổ chức thực hiện ở một số cấp, ngành chưa thật sự quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Tình trạng này làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra. Khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn nếu không được kịp thời khắc phục, có thể làm suy giảm niềm tin xã hội và hạn chế động lực phát triển kinh tế trong dài hạn.
Bên cạnh đó, những thách thức về năng lực hoạch định và thực thi chính sách kinh tế tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường hiện đại, chịu tác động nhanh và phức tạp của các yếu tố trong nước và quốc tế, việc xây dựng chính sách kinh tế đòi hỏi phải có tư duy chiến lược, khả năng dự báo tốt và cơ sở khoa học vững chắc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ở một số lĩnh vực, chất lượng xây dựng chính sách còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách chưa thật sự chặt chẽ; cơ chế giám sát, đánh giá chính sách chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong lĩnh vực kinh tế, gắn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, bản lĩnh và tư duy đổi mới.
Trên cơ sở nhận diện rõ những vấn đề đặt ra, việc tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế trong thời gian tới cần được định hướng theo một số nội dung lớn.
Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo kinh tế theo hướng tôn trọng đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong mọi quyết sách phát triển.
Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng về kinh tế, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa chủ trương của Đảng với pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Thứ ba, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời bổ sung, phát triển lý luận về Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế trong điều kiện mới. Những định hướng này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo kinh tế của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị, kinh tế cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.
5. Kết luận
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa với yêu cầu vận hành đầy đủ, hiệu quả các quy luật của kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Từ góc độ lý luận, Nghị quyết không chỉ tiếp tục làm rõ vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với nền kinh tế, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng hiện đại, khoa học, tôn trọng tính tự chủ của thị trường, phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước và sức sáng tạo của toàn xã hội; qua đó khẳng định phát triển kinh tế nhanh và bền vững không đơn thuần là mục tiêu tăng trưởng mà là quá trình hiện thực hóa bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Hội đồng Lý luận Trung ương (2023). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.



