Đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân

TS. Cao Thị Dung
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân là định hướng lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với quá trình đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn mới. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy, phát triển đất nước theo hướng hiện đại, pháp quyền, nhân văn và bền vững. Bài viết làm rõ những vấn đề chung về đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân, chỉ ra thực trạng quản trị quốc gia hiện nay, đề xuất định hướng đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân trong thời gian tới.

Từ khóa: Quản trị quốc gia, quản trị kiến tạo, vì dân, Nhà nước pháp quyền, Đại hội XIV của Đảng.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam sau gần 40 năm đổi mới, những thành tựu đạt được là rất quan trọng, song thực tiễn cũng cho thấy nhiều thách thức mới đặt ra đối với năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước. Tình trạng thể chế chồng chéo, pháp luật khó thực thi, cơ chế “xin – cho” chưa được khắc phục triệt để… đang là những rào cản đối với phát triển nhanh và bền vững. Theo đó, yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân được đặt ra một cách rõ ràng, trực diện, gắn chặt với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng. Luận điểm này không chỉ phản ánh yêu cầu cấp bách của thực tiễn quản lý, điều hành đất nước mà còn thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy lãnh đạo, từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, từ kiểm soát sang phục vụ, từ “xin – cho” sang kiến tạo. Việc nghiên cứu, làm rõ nội dung và giá trị định hướng của quan điểm đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân có ý nghĩa quan trọng, góp phần luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

2. Những vấn đề chung về quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân

Quản trị quốc gia là tổng thể các hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước nhằm định hướng, điều phối và thúc đẩy sự phát triển của quốc gia theo những mục tiêu xác định. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo đảm công bằng xã hội, ổn định chính trị và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân ngày càng trở nên cấp thiết, quản trị quốc gia không chỉ dừng lại ở chức năng quản lý hành chính truyền thống mà phải được tiếp cận như một quá trình kiến tạo phát triển, lấy con người làm trung tâm.

Phương châm kiến tạo, vì dân trong quản trị quốc gia không phải là một khẩu hiệu mang tính định hướng chung chung mà là yêu cầu có nội hàm rõ ràng, gắn với đổi mới thể chế, tổ chức quyền lực nhà nước và phương thức cầm quyền của Đảng trong bối cảnh mới. Khẳng định rõ hơn mô hình quản trị quốc gia trong giai đoạn tới là quản trị dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Quản trị như vậy là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin – cho1.

Tính kiến tạo của quản trị quốc gia thể hiện ở việc Nhà nước chủ động tháo gỡ các rào cản thể chế, khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo môi trường thuận lợi để người dân và doanh nghiệp phát huy năng lực sáng tạo, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội. Trong mô hình này, Nhà nước không làm thay thị trường, không bao biện cho xã hội, mà tập trung vào những chức năng cốt lõi như hoạch định chiến lược phát triển, bảo đảm trật tự pháp lý, điều tiết vĩ mô và bảo vệ lợi ích công cộng. Tính vì dân của quản trị quốc gia thể hiện ở mục tiêu tối thượng là phục vụ lợi ích của Nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Phương châm quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước và yêu cầu đổi mới mô hình quản lý trong bối cảnh mới. Thực tiễn cho thấy, mô hình quản lý nặng về mệnh lệnh hành chính, cơ chế “xin – cho”, kiểm soát đầu vào đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tình trạng nhiều đạo luật được ban hành công phu nhưng “luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, xuống cơ sở thì vướng”2. Đây là biểu hiện điển hình của sự bất cập trong tư duy quản lý và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước. Do đó, đổi mới quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo, vì dân là yêu cầu tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế đó, bảo đảm pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ phát triển và đáp ứng kỳ vọng của Nhân dân. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Quản trị hiện đại không thể tách rời việc ra quyết định dựa trên dữ liệu tin cậy, quy trình minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân có những đặc trưng cơ bản:

Một là, quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân là quản trị dựa trên pháp luật minh bạch và khả thi. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà là nền tảng của phát triển. Pháp luật phải “dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hiện”, hạn chế tối đa khoảng mờ pháp lý dẫn đến lạm quyền hoặc né tránh trách nhiệm. Một đạo luật tốt là đạo luật giải quyết được vấn đề thực tiễn, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Hai là, quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân gắn với bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tinh gọn không chỉ là giảm đầu mối tổ chức mà quan trọng hơn là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp chính quyền. Bộ máy vận hành thông suốt là điều kiện để Nhà nước phản ứng kịp thời với yêu cầu của người dân và thực tiễn phát triển.

Ba là, quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân đòi hỏi phân cấp, phân quyền hợp lý gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Nơi nào cấp dưới có thể quyết nhanh, sát dân hơn thì phải mạnh dạn giao quyền, nhưng giao quyền phải đi liền với nguồn lực, công cụ và hành lang pháp lý an toàn. Điều này thể hiện rõ quan điểm quản trị hiện đại: quyền lực phải được trao đúng chỗ, đi đôi với trách nhiệm và sự giám sát.

Bốn là, quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân đặt người dân vào vị trí trung tâm của quá trình quản trị. Người dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà là chủ thể tham gia vào xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Điều này đòi hỏi phải mở rộng và thực chất hóa các cơ chế dân chủ, phản biện xã hội, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.

Năm là, quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân gắn chặt với đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Bộ máy quản trị chỉ có thể vận hành hiệu quả khi đội ngũ cán bộ liêm chính, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ những người dám đổi mới, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật.

Quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân có mối liên hệ mật thiết với Nhà nước pháp quyền XHCN. Quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân có mối quan hệ hữu cơ với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nhà nước pháp quyền không chỉ là có hệ thống pháp luật đầy đủ mà trước hết là sự thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch và giải trình trước Nhân dân. Trong mô hình này, quản trị kiến tạo chính là phương thức hiện thực hóa các giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Khi quyền lực được ràng buộc bởi pháp luật, được phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ thì quản trị quốc gia mới thực sự vì dân, hạn chế được tình trạng tùy tiện, xin – cho và lạm quyền.

Trong quản trị quốc gia kiến tạo, vì dân, vai trò lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận. Quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân chỉ có thể được thực hiện hiệu quả dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, Đảng không làm thay Nhà nước hay áp đặt mệnh lệnh hành chính, mà là lãnh đạo bằng đường lối đúng, bằng nêu gương, bằng tổ chức thực hiện hiệu quả và bằng trách nhiệm trước Nhân dân.

3. Thực trạng quản trị quốc gia ở nước ta hiện nay

Những năm qua, quản trị quốc gia ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.

Thứ nhất, thể chế quản trị quốc gia từng bước được hoàn thiện theo hướng pháp quyền, hiện đại. Hệ thống pháp luật và thể chế quản lý nhà nước tiếp tục được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và yêu cầu hội nhập quốc tế. Nhiều đạo luật quan trọng liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, quản lý kinh tế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân được ban hành hoặc sửa đổi, góp phần tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng đồng bộ cho quản trị quốc gia. Nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật từng bước được đề cao, tạo nền tảng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Thứ hai, bộ máy nhà nước từng bước được sắp xếp, tinh gọn theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Việc triển khai các chủ trương về tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp lại các cơ quan trong hệ thống chính trị đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tại Trung ương, đã giảm 4 cơ quan Đảng, 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương; 5 cơ quan của Quốc hội; 5 bộ và 3 cơ quan trực thuộc Chính phủ; 30 đầu mối cấp tổng cục và tương đương; 1.025 đơn vị cấp cục, vụ và tương đương; 4.413 đầu mối cấp chi cục, phòng và tương đương; 240 đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ. việc sắp xếp đơn vị hành chính các cấp đã đạt được kết quả mang tính bước ngoặt: cắt giảm 46% đầu mối cấp tỉnh, còn 34 đơn vị (gồm 6 thành phố trực thuộc Trung ương và 28 tỉnh); giảm từ 10.035 đơn vị cấp xã xuống còn 3.321 đơn vị; toàn bộ 696 đơn vị hành chính cấp huyện kết thúc hoạt động. Quá trình sắp xếp này giúp giảm gần 250.000 biên chế, tiết kiệm 190.500 tỷ đồng chi tiền lương và chi hành chính giai đoạn 2026 – 2030. Bên cạnh đó, hơn 4.200 trụ sở công dôi dư sẽ được ưu tiên chuyển thành trường học, bệnh viện và cơ sở văn hoá, thể thao phục vụ cộng đồng3. Nhiều khâu trung gian đã được giảm bớt, điều này góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong quản lý, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống quản trị quốc gia.

Thứ ba, phân cấp, phân quyền trong quản trị quốc gia từng bước được đẩy mạnh. Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền, gắn với cải cách thủ tục hành chính. Ở nhiều lĩnh vực, chính quyền địa phương được trao thêm quyền chủ động trong quản lý, điều hành phát triển kinh tế – xã hội, qua đó phát huy tốt hơn tính năng động, sáng tạo và trách nhiệm của cấp cơ sở. Phân cấp, phân quyền đã góp phần rút ngắn quy trình giải quyết công việc, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Thứ tư, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong quản trị quốc gia đạt nhiều kết quả tích cực. Cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh với trọng tâm là đơn giản hóa quy trình, cắt giảm giấy tờ, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Theo báo cáo, tính đến tháng 9/2025, cả nước đã đề xuất bãi bỏ 519 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 2.421 thủ tục liên quan đến sản xuất – kinh doanh, đạt khoảng 60,14% tiến độ kế hoạch đề ra trong năm 2025, tạo thuận lợi rõ rệt cho hoạt động của doanh nghiệp và người dân. Từ ngày 1/7 – 30/9/2025, khoảng 7 triệu hồ sơ trực tuyến được tiếp nhận và tỷ lệ giải quyết đúng hạn đạt tới 91%, cho thấy hiệu quả trong công tác tiếp nhận, xử lý hồ sơ hành chính trên môi trường số4.

Thứ năm, vai trò của người dân và xã hội trong quản trị quốc gia từng bước được mở rộng. Các cơ chế dân chủ, giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ngày càng được quan tâm, hoàn thiện. Người dân có điều kiện tham gia nhiều hơn vào quá trình xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước và củng cố niềm tin của nhân dân đối với hệ thống quản trị quốc gia.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quản trị quốc gia vẫn còn một số hạn chế, có thể kể đến như: chất lượng thể chế và pháp luật chưa đồng đều, còn khoảng cách giữa ban hành và thực thi. Mặc dù hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, song vẫn tồn tại tình trạng quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, khó áp dụng trong thực tiễn. Nhiều chính sách, pháp luật khi đi vào cuộc sống còn gặp vướng mắc, làm giảm hiệu quả quản trị và gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Bộ máy quản trị quốc gia ở một số lĩnh vực vẫn cồng kềnh, hiệu quả chưa cao. Việc tinh gọn tổ chức bộ máy ở một số nơi còn mang tính hình thức; phân định chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc đùn đẩy công việc giữa các cơ quan.

Phân cấp, phân quyền chưa gắn chặt với nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Ở một số lĩnh vực, việc giao quyền chưa đi liền với bảo đảm về nguồn lực, nhân lực và hành lang pháp lý an toàn, khiến cán bộ cơ sở e ngại, không dám quyết, làm giảm hiệu quả quản trị và phục vụ người dân. Tư duy quản lý hành chính, cơ chế xin – cho vẫn tồn tại ở một số khâu. Mặc dù đã có nhiều đổi mới, song ở không ít lĩnh vực, phương thức quản trị vẫn nặng về kiểm soát, thủ tục, chưa thực sự chuyển sang mô hình kiến tạo, phục vụ, làm giảm tính năng động và hiệu quả của quản trị quốc gia.

4. Định hướng đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân

Một là, đổi mới tư duy quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của mọi chính sách.

Yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “quản trị”, từ điều hành hành chính đơn thuần sang kiến tạo phát triển. Đây là định hướng có ý nghĩa nền tảng, chi phối toàn bộ tiến trình đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn tới. Quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân đòi hỏi Nhà nước không chỉ ban hành và áp đặt mệnh lệnh hành chính, mà phải đóng vai trò định hướng, dẫn dắt, tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội phát huy sáng kiến, nguồn lực và tinh thần tự chủ. Trong đó, người dân không còn là đối tượng bị quản lý mà trở thành trung tâm của quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công.

Định hướng này đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực được nhân dân ủy thác; hiệu quả quản trị phải được đo lường bằng mức độ hài lòng, tin tưởng và thụ hưởng thực chất của người dân. Đồng thời, tư duy kiến tạo còn gắn liền với việc khuyến khích đổi mới sáng tạo, chấp nhận thử nghiệm chính sách trong khuôn khổ pháp luật, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Chỉ khi tư duy quản trị được đổi mới một cách căn bản theo hướng vì dân, kiến tạo thì các cải cách thể chế, bộ máy và phương thức điều hành mới có nền tảng bền vững và thực chất.

Hai là, hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia đồng bộ, hiện đại, bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và khả năng thực thi cao.

Thể chế vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong quản trị quốc gia hiện nay. Do đó, đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân trước hết phải được thể hiện bằng việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ, thống nhất, dễ hiểu, dễ thực hiện và ổn định. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà phải trở thành động lực thúc đẩy phát triển, giải phóng nguồn lực xã hội, bảo đảm công bằng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Định hướng này đòi hỏi rà soát, loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở đổi mới sáng tạo; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm soát thủ tục sang quản lý theo kết quả. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng xây dựng chính sách trên cơ sở khoa học, thực tiễn và tham vấn rộng rãi ý kiến người dân, doanh nghiệp, chuyên gia. Việc thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là những nội dung mới về quản trị quốc gia, có ý nghĩa quyết định trong việc đưa tư tưởng “kiến tạo, vì dân” đi vào cuộc sống. Thể chế càng minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao thì niềm tin xã hội càng được củng cố, hiệu quả quản trị quốc gia càng được nâng lên.

Ba là, tinh gọn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại.

Yêu cầu xây dựng bộ máy “tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả”. Đây là điều kiện trực tiếp để hiện thực hóa phương châm quản trị kiến tạo, vì dân. Đổi mới quản trị quốc gia không thể thành công nếu bộ máy cồng kềnh, phân công chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng và đội ngũ cán bộ thiếu năng lực, thiếu động lực cống hiến.

Định hướng này đòi hỏi tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công. Đồng thời, phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, lấy hiệu quả phục vụ nhân dân và kết quả thực thi nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản trị quốc gia cần gắn với chuẩn mực đạo đức công vụ, tinh thần liêm chính, trách nhiệm giải trình và năng lực thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số. Chỉ khi bộ máy vận hành thông suốt và cán bộ, công chức thực sự vì dân, thì quản trị quốc gia mới chuyển từ hình thức sang thực chất.

Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ số và phát huy sự tham gia của xã hội trong quản trị quốc gia.

Quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân không thể tách rời tiến trình chuyển đổi số và yêu cầu mở rộng dân chủ trong quản lý xã hội. Theo đó, cần coi công nghệ số là công cụ quan trọng để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng giám sát trong quản trị quốc gia. Chính phủ số, chính quyền số không chỉ nhằm hiện đại hóa phương thức điều hành mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ công thuận lợi, bình đẳng và an toàn.

Định hướng này yêu cầu đẩy mạnh xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu, kết nối liên thông giữa các cơ quan nhà nước, giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế cơ hội phát sinh tiêu cực. Đồng thời, cần thiết lập các cơ chế để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia nhiều hơn vào quá trình phản biện, giám sát và đồng hành cùng Nhà nước trong quản trị quốc gia. Khi tiếng nói của người dân được lắng nghe, khi công nghệ trở thành công cụ phục vụ con người, thì phương châm “kiến tạo, vì dân” mới thực sự trở thành giá trị cốt lõi của quản trị quốc gia Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới

5. Kết luận

Đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Bám sát tư tưởng chỉ đạo của Đảng, tiến trình đổi mới này cần được triển khai đồng bộ từ tư duy, thể chế, tổ chức bộ máy đến phương thức vận hành và sự tham gia của xã hội. Khi quản trị quốc gia thực sự hướng tới phục vụ Nhân dân, phát huy tối đa nguồn lực con người và sức mạnh xã hội, nền quản trị hiện đại, hiệu quả và nhân văn sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam.

Chú thích:
1, 2. Phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” của Đại hội là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/phuong-cham-doan-ket-dan-chu-ky-cuong-dot-pha-phat-trien-cua-dai-hoi-la-loi-hieu-trieu-la-menh-lenh-cua-trach-nhiem-truoc-lich-su/
3. Đổi mới quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số tại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/23/doi-moi-quan-tri-quoc-gia-trong-ky-nguyen-so-tai-viet-nam.
4. Bộ Tài chính (2025). Công tác cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số đạt nhiều kết quả, https://www.nso.gov.vn/default/2026/01/cong-tac-cai-cach-thu-tuc -hanh-chinh-chuyen-doi-so-dat-nhieu-ket-qua/.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục hoàn thiện thể chế, bộ máy, phân cấp, phân quyền và quản trị quốc gia.
2. Nguyễn Đăng Dung (2023). Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 (tháng 9/2023), tr. 25-33.
3. Việt Nam thay đổi thế nào sau sáp nhập tỉnh thành. https://vnexpress.net/viet-nam-thay-doi-the-nao-sau-sap-nhap-tinh-thanh-4885968.html.