Kết hợp quốc phòng với kinh tế trong các nhà máy ở Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

Thượng úy Huỳnh Thanh Phong
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề mang tính quy luật, gắn liền với yêu cầu bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Vấn đề này nảy sinh từ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời là phương thức quan trọng nhằm phát huy tổng hợp các nguồn lực cho phát triển kinh tế và tăng cường tiềm lực quốc phòng. Đối với Việt Nam, kết hợp kinh tế với quốc phòng không chỉ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc mà còn là sự kế thừa và phát triển quy luật đặc thù của lịch sử dân tộc: “dựng nước đi đôi với giữ nước”1. Bài viết khái quát thực trạng hoạt động quốc phòng gắn với kinh tế và đề xuất giải pháp tăng cường kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy ở Tổng cục Công nghiệp quốc phòng hiện nay.

Từ khóa: Quốc phòng; kinh tế; Tổng cục Công nghiệp quốc phòng; xây dựng và bảo vệ đất nước.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với phát triển kinh tế bền vững đặt ra ngày càng cao đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ trương kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng của Đảng và Nhà nước là định hướng chiến lược, xuyên suốt nhằm phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực của đất nước, đồng thời củng cố sức mạnh quốc phòng trong mọi tình huống.

Trong hệ thống các lực lượng nòng cốt thực hiện chủ trương đó, các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa trực tiếp bảo đảm sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội vừa tham gia hoạt động sản xuất kinh tế, góp phần phát triển công nghiệp quốc gia. Việc nghiên cứu làm rõ cơ sở, nội dung và yêu cầu kết hợp quốc phòng với kinh tế trong các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc hiện nay.

2. Thực trạng hoạt động quốc phòng gắn với kinh tế trong các nhà máy ở Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

a. Những ưu điểm

Một là, tổ chức và duy trì tốt việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng gắn với hoạt động kinh tế.

(1) Các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã quán triệt và tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ chủ trương kết hợp quốc phòng với kinh tế trên cơ sở giữ vững nguyên tắc lấy nhiệm vụ quốc phòng làm trung tâm. Trong quá trình triển khai, hoạt động sản xuất kinh tế luôn được đặt trong mối quan hệ phục tùng và hỗ trợ nhiệm vụ quốc phòng. Đảng ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng khẳng định: “Thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất quốc phòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế với nhiều động lực tăng trưởng mới, tăng trưởng doanh thu so với năm 2024 ước đạt 13,3%, vượt 4,7% so với kế hoạch”2.

Trong năm 2025, 100% các nhà máy đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất quốc phòng, trong đó nhiều đơn vị hoàn thành vượt kế hoạch. Doanh thu của Tổng cục năm 2025 ước đạt 46.000 tỷ đồng, bằng 113,3% so với năm 2024; thu nhập bình quân: 20,5 triệu đồng/người/tháng3. Bên cạnh kết quả chung của toàn Tổng cục, một số doanh nghiệp, nhà máy trực thuộc đã đạt được những kết quả nổi bật trong thực hiện kết hợp nhiệm vụ sản xuất quốc phòng với phát triển kinh tế.

Năm 2025, tổng doanh thu của GAET đạt trên 121% kế hoạch, bằng 131,78% so với năm 2024; lợi nhuận đạt trên 115% kế hoạch, tăng 44,89% so với năm 2024; thu nhập bình quân người lao động tăng 13,75% so với năm 20244. Nhà máy Z121 hoàn thành 102,9% kế hoạch đề ra; việc làm, thu nhập của cán bộ, công nhân viên ổn định và ở mức cao, đạt 25,9 triệu đồng/người/tháng5. Tổng công ty Sông Thu các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, trong đó: giá trị sản xuất tăng 53% so với kế hoạch, tăng 82% so với năm 2024; doanh thu tăng 53% so với kế hoạch, tăng 71% so với năm 2024; lợi nhuận tăng 18% so với kế hoạch, tăng 43% so với năm 2024; thu nhập bình quân đạt 18,3 triệu đồng/người/tháng, tăng 12% so với năm 20246.

Kết quả này cho thấy, việc mở rộng hoạt động kinh tế không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng cốt lõi mà còn góp phần củng cố năng lực tổ chức, điều hành sản xuất trong điều kiện nhiệm vụ ngày càng đa dạng và yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao.

(2) Cùng với việc hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, hoạt động kinh tế còn được các nhà máy sử dụng như một nguồn lực bổ trợ nhằm củng cố tiềm lực quốc phòng lâu dài. Nguồn thu từ sản xuất kinh tế được tái đầu tư cho các hạng mục phục vụ trực tiếp sản xuất quốc phòng, như: nâng cấp dây chuyền công nghệ, cải tiến trang thiết bị và đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật. Trong năm 2024, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã: “tham mưu với Bộ Quốc phòng triển khai quyết liệt các dự án đầu tư tiềm lực công nghiệp quốc phòng và tham mưu phát triển sản xuất kinh tế, xuất khẩu từ nguồn vốn tự huy động trong doanh nghiệp”7

Hai là, hoạt động kinh tế trong các nhà máy được triển khai trên cơ sở khai thác hợp lý năng lực sản xuất hiện có.

Trên cơ sở hệ thống máy móc, dây chuyền công nghệ và đội ngũ lao động kỹ thuật đã được đầu tư phục vụ quốc phòng, nhiều nhà máy đã phát triển các sản phẩm lưỡng dụng và một số sản phẩm dân dụng công nghệ cao phù hợp với đặc thù công nghiệp quốc phòng. Điển hình: Nhà máy Z121 đã tận dụng năng lực công nghệ hiện có để tổ chức sản xuất pháo hoa hợp pháp phục vụ thị trường dân sự; riêng dịp Tết năm 2025, nhà máy bán ra thị trường hơn 6 triệu sản phẩm giàn pháo hoa không nổ, đồng thời cung cấp pháo hoa tầm cao, tầm thấp cho các địa phương trên cả nước8; Công ty Sông Thu năm 2025 đã hoàn đóng mới, hoàn thiện 28 tàu kinh tế, xuất khẩu, sửa chữa, bàn giao 23 lượt tàu kinh tế9.

Việc khai thác hiệu quả năng lực sản xuất hiện có không chỉ nâng cao hiệu quả nội tại của quá trình sản xuất mà còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. Trong năm 2025, các nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã “hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng, xúc tiến thương mại được tiến hành chủ động, tích cực, linh hoạt; đã xuất khẩu một số gam tàu kinh tế, thuốc nổ, bán thành phẩm vũ khí bộ binh… với giá trị lớn”10.

b. Những hạn chế

Một là, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng gắn với hoạt động kinh tế ở một số nhà máy còn bộc lộ những hạn chế nhất định.

(1) Trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương kết hợp quốc phòng với kinh tế, ở một số nhà máy vẫn còn xuất hiện những điểm chưa thật sự thống nhất trong việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Mặc dù, các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đều quán triệt nguyên tắc ưu tiên nhiệm vụ quốc phòng, song trong thực tiễn triển khai kết hợp, việc bố trí và điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh tế ở một số đơn vị có thời điểm chưa theo kịp yêu cầu điều chỉnh nhiệm vụ.

Nghị quyết lãnh đạo của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng xác định: “có đơn vị chưa đáp ứng được tiến độ hợp đồng kinh tế đã ký kết với đối tác nước ngoài”11, phản ánh những khó khăn nhất định trong công tác điều hành sản xuất khi đồng thời thực hiện nhiều loại nhiệm vụ. Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, 19,8% số ý kiến được hỏi đánh giá mức độ phối hợp giữa kế hoạch sản xuất quốc phòng và kế hoạch sản xuất kinh tế là chưa thực sự hài hòa12.

(2) Việc sử dụng hoạt động kinh tế như một nguồn lực bổ trợ cho xây dựng tiềm lực quốc phòng lâu dài ở một số nhà máy còn có nội dung chưa được thể hiện rõ ràng và cụ thể. Theo kết quả điều tra xã hội học, 15,2% số ý kiến được hỏi cho rằng cơ chế tái đầu tư từ hoạt động kinh tế cho các hạng mục phục vụ trực tiếp sản xuất quốc phòng chưa thật sự rõ ràng; 16,6% đánh giá mức độ gắn kết giữa kết quả sản xuất kinh tế và việc củng cố tiềm lực công nghiệp quốc phòng lâu dài mới thể hiện ở mức độ nhất định13. Những kết quả này cho thấy, bên cạnh việc duy trì hoạt động kinh tế, việc chuẩn hóa cơ chế gắn kết giữa sản xuất kinh tế và xây dựng tiềm lực quốc phòng vẫn là nội dung cần tiếp tục được làm rõ trong quá trình tổ chức thực hiện.

Hai là, hiệu quả khai thác năng lực sản xuất và tổ chức hoạt động kinh tế giữa các nhà máy chưa đồng đều.

Trong thực tiễn kết hợp quốc phòng với kinh tế, hiệu quả khai thác năng lực sản xuất giữa các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng chưa đồng đều. Một số nhà máy đã khai thác tương đối hiệu quả hệ thống máy móc, dây chuyền công nghệ và đội ngũ lao động kỹ thuật để phát triển các sản phẩm lưỡng dụng và sản phẩm kinh tế phù hợp với đặc thù công nghiệp quốc phòng; tuy nhiên, phạm vi và mức độ triển khai hoạt động kinh tế giữa các đơn vị còn có sự khác biệt nhất định.

Kết quả điều tra xã hội học cho thấy có 18,4% số ý kiến được hỏi đánh giá mức độ khai thác năng lực sản xuất cho hoạt động kinh tế tại đơn vị mới đạt mức trung bình14. Thực trạng này phản ánh việc năng lực máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ tại một số đơn vị chưa được khai thác đầy đủ trong mối quan hệ kết hợp giữa nhiệm vụ quốc phòng và hoạt động kinh tế.

Bên cạnh đó, hoạt động kinh tế tại một số nhà máy còn chịu tác động nhất định từ tính ổn định của thị trường. Theo kết quả điều tra xã hội học, 20,2% số ý kiến cho rằng hoạt động sản xuất kinh tế của đơn vị còn phụ thuộc nhiều vào các đơn hàng mang tính ngắn hạn15. Điều này gây ra những khó khăn nhất định trong công tác lập kế hoạch trung và dài hạn, tổ chức bố trí nguồn lực và thực hiện tái đầu tư, qua đó ảnh hưởng đến tính ổn định của việc triển khai mô hình kết hợp quốc phòng với kinh tế.

3. Giải pháp tăng cường kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy ở Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

Thứ nhất, bảo đảm vững chắc mục tiêu và nguyên tắc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong toàn bộ hoạt động của các nhà máy công nghiệp quốc phòng.

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, mang tính định hướng chiến lược, chi phối trực tiếp hiệu quả và tính đúng đắn của toàn bộ mô hình kết hợp. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không giữ vững nguyên tắc ưu tiên tuyệt đối nhiệm vụ quốc phòng, hoạt động kinh tế rất dễ bị chi phối bởi lợi ích ngắn hạn, dẫn đến nguy cơ lệch hướng, làm suy giảm vai trò đặc thù của các nhà máy công nghiệp quốc phòng.

Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm coi hoạt động kinh tế là phương thức, là công cụ nhằm phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho việc củng cố, phát triển tiềm lực quốc phòng, chứ không phải là mục tiêu tự thân. Trên cơ sở đó, cần cụ thể hóa nguyên tắc này thành các quy định mang tính ràng buộc trong xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất trung hạn và dài hạn của từng nhà máy; bảo đảm kế hoạch sản xuất kinh tế luôn được xây dựng trên nền tảng kế hoạch sản xuất quốc phòng, phục vụ yêu cầu lâu dài của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Việc tích hợp chặt chẽ hai loại kế hoạch này không chỉ giúp khắc phục tình trạng hoạt động kinh tế mang tính tình thế mà còn tạo ra sự ổn định, bền vững trong tổ chức sản xuất và sử dụng nguồn lực.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả khai thác hoạt động kinh tế theo hướng trực tiếp phục vụ củng cố tiềm lực quốc phòng.

Đây là giải pháp trọng tâm nhằm hiện thực hóa bản chất “kép” của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy công nghiệp quốc phòng. Thực tiễn cho thấy, hoạt động kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi nguồn lực tạo ra được chuyển hóa thành sức mạnh vật chất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Vì vậy, cần định hướng phát triển hoạt động kinh tế theo hướng tập trung vào các lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với năng lực cốt lõi của công nghiệp quốc phòng, nhất là các sản phẩm lưỡng dụng và các sản phẩm kinh tế có hàm lượng khoa học – công nghệ cao, có khả năng vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, vừa tham gia hiệu quả vào thị trường dân sự.

Việc mở rộng hoạt động kinh tế cần được kiểm soát chặt chẽ, tránh xu hướng phát triển các lĩnh vực kinh tế thuần túy, giá trị gia tăng thấp, ít liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, bởi điều này không chỉ làm phân tán nguồn lực mà còn làm giảm hiệu quả tổng hợp của mô hình kết hợp. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế rõ ràng về việc tái đầu tư từ nguồn thu kinh tế cho các hạng mục phục vụ trực tiếp sản xuất quốc phòng, coi đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế trong các nhà máy công nghiệp quốc phòng. Khi hoạt động kinh tế thực sự trở thành “bệ đỡ” cho nhiệm vụ quốc phòng, mối quan hệ bổ trợ hai chiều giữa kinh tế và quốc phòng mới được phát huy đầy đủ và bền vững.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm bảo đảm tính bền vững của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Trong công nghiệp quốc phòng, con người là yếu tố trung tâm, quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, trình độ công nghệ và khả năng sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng trong mọi tình huống. Do đó, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng cần được gắn chặt với mục tiêu ổn định và phát triển đội ngũ cán bộ, kỹ sư và công nhân kỹ thuật có trình độ cao. Trên cơ sở khai thác nguồn thu từ hoạt động kinh tế, các nhà máy cần từng bước cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và môi trường lao động, tạo động lực vật chất và tinh thần để người lao động yên tâm gắn bó lâu dài với công nghiệp quốc phòng.

 Đồng thời, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật theo hướng kết hợp giữa chuyên môn quốc phòng với kiến thức quản trị kinh tế, quản lý công nghệ và phát triển thị trường, đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình kết hợp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc sử dụng nguồn lực cần được thực hiện theo nguyên tắc hiệu quả tổng hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu trước mắt và mục tiêu lâu dài của việc củng cố tiềm lực quốc phòng, tránh tình trạng sử dụng nguồn lực dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm.

Thứ tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị nhằm nâng cao chất lượng kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy công nghiệp quốc phòng.

Đổi mới công nghệ và quản trị hiện đại là điều kiện then chốt để các nhà máy vừa nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, vừa tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm kinh tế trên thị trường. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, các nhà máy công nghiệp quốc phòng cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số trong tổ chức sản xuất, quản lý và kiểm soát chất lượng, qua đó tạo sự lan tỏa tích cực từ hoạt động kinh tế sang sản xuất quốc phòng.

Cùng với đó, cần từng bước hoàn thiện mô hình quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch, phù hợp với cơ chế thị trường nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu đặc thù về quốc phòng, an ninh và bảo mật. Việc mở rộng hợp tác, liên kết có kiểm soát với các doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu dân sự cần được thực hiện một cách thận trọng, có chọn lọc nhằm tiếp thu công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ sản xuất và quản trị, đồng thời phát huy vai trò lan tỏa công nghệ của công nghiệp quốc phòng đối với nền kinh tế quốc dân.

4. Kết luận

Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng là yêu cầu khách quan vừa mang tính chiến lược lâu dài vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn cho thấy, mô hình kết hợp này đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất quốc phòng, đồng thời phát huy hiệu quả năng lực sản xuất, tạo nguồn lực bổ sung cho xây dựng tiềm lực công nghiệp quốc phòng. Tuy nhiên, những hạn chế về cơ chế gắn kết, hiệu quả khai thác nguồn lực và tính đồng đều giữa các đơn vị đặt ra yêu cầu phải khai hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, tính bền vững của kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các nhà máy công nghiệp quốc phòng thời gian tới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 68.
2, 7, 11. Đảng ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (2025). Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2026. Hà Nội, tr. 2.
3, 10. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng tổng kết công tác quân sự, quốc phòng năm 2025. https://tapchi.vdi.org.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/tong-cuc-cong-nghiep-quoc-phong-tong-ket-cong-tac–d49-t5457.html
4. GAET phấn đấu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026. https://tapchi.vdi.org.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/gaet-phan-dau-tang-truong-tren-10-trong-nam-2026-d49-t5469.html
5. Nhà máy Z121 tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quân sự, quốc phòng năm 2025 và Hội nghị tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị năm 2025. https://z121.vn/nha-may-z121-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-quan-su-quoc-phong-nam-2025-va-hoi-nghi-tong-ket-ctd-ctct-nam-2025/
6, 9. Tổng công ty Sông Thu phấn đấu doanh thu năm 2026 tăng 40%. https://tapchi.vdi.org.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/tong-cong-ty-song-thu-phan-dau-doanh-thu-nam-2026-d49-t5472.html.
8. Nhà máy Z121 hoàn thành nhiều công trình cơ khí hóa, tự động hóa, sáng kiến cải tiến kỹ thuật. https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/tin-tuc/nha-may-z121-hoan-thanh-nhieu-cong-trinh-co-khi-hoa-tu-dong-hoa-sang-kien-cai-tien-ky-thuat-817006.
12, 13, 14, 15. Tác giả tổng hợp số liệu khảo sát, điều tra xã hội học tại nhà máy Z117, tháng 12/2025.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Quốc hội (2024). Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp năm 2024.
3. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh – Từ góc độ quản lý nhà nước. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/817025/ket-hop-phat-trien-kinh-te-voi-cung-co-tiem-luc-quoc-phong%2C-an-ninh—tu-goc-do-quan-ly-nha-nuoc.aspx