Trần Thiên Khánh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Quá trình khai thác thuộc địa của người Pháp tại Việt Nam đã tạo ra nhiều chuyển biến trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, cấu trúc xã hội và một trong những khía cạnh nổi bật là kỹ thuật lập pháp tiến bộ và hài hòa về mặt cấu trúc lẫn nội dung. Bài viết trình bày những đặc trưng về tư tưởng lập pháp, về thứ tự xây dựng và áp dụng nguồn luật, kỹ thuật lập pháp trong thời kỳ này và so sánh với kỹ thuật lập pháp thời quân chủ. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá những ưu điểm, tiến bộ về mặt pháp lý thời kỳ này.
Từ khóa: Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931; kỹ thuật lập pháp; tư tưởng lập pháp; dân sự; thời kỳ Pháp thuộc.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam, thời kỳ Pháp thuộc đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về tư duy và kỹ thuật lập pháp, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự. Sự du nhập của hệ thống pháp luật phương Tây, nhất là pháp luật Pháp đã làm thay đổi căn bản cách thức xây dựng và áp dụng pháp luật vốn trước đó chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo và mô hình pháp luật quân chủ. Một trong những sản phẩm tiêu biểu phản ánh rõ nét sự chuyển biến này là Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931.
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 không chỉ đơn thuần là một văn bản điều chỉnh các quan hệ dân sự, mà còn thể hiện sự thay đổi trong tư tưởng lập pháp và kỹ thuật lập pháp theo hướng hệ thống, khoa học và chuyên biệt hóa. So với pháp luật thời quân chủ vốn mang nặng tính đạo lý, tản mạn và phụ thuộc nhiều vào tập quán, Bộ Dân luật này được xây dựng theo cấu trúc chặt chẽ, phân chia thành các chế định rõ ràng, thể hiện ảnh hưởng sâu sắc từ Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804. Đồng thời, trong quá trình tiếp thu, nhà làm luật cũng có sự điều chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đặc điểm văn hóa của người Việt.
Việc nghiên cứu những đặc trưng về tư tưởng và kỹ thuật lập pháp dân sự thông qua Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận khách quan giá trị của pháp luật thời kỳ này. Qua đó, có thể đánh giá những yếu tố tiến bộ cũng như rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
2. Quá trình hình thành Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931
Trong quá trình xâm lược Việt Nam từ năm 1858, người Pháp nhận thức được pháp luật có một vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội nơi đây. Có lẽ vì thế nên sau khi từng bước buộc triều đình nhà Nguyễn ký “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” (hay còn gọi là Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862), trong đó nổi bật là việc triều đình Huế nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn – những vùng đất này chính thức trở thành thuộc địa của Pháp (đề cập ở khoản 3 của “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị”), thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc tổ chức bộ máy chính quyền cũng như ban hành những bộ luật dân sự để thuận lợi hơn trong quá trình cai trị thuộc địa.
Trước khi có sự ra đời của Bộ Dân luật Bắc Kỳ vào năm 1931, Bộ Dân luật Giản yếu Nam Kỳ đã được công bố vào năm 1883 và áp dụng chính thức từ năm 1884. Bộ luật đã đánh dấu sự xuất hiện của hệ thống luật pháp mang tinh thần của nền pháp chế phương Tây. Tuy có những điểm mới so với các bộ cổ luật đương thời, song bản chất của Bộ Dân luật Giản yếu Nam Kỳ là sự chắp ghép một cách máy móc Bộ Dân luật Đại Pháp năm 1804 nên chưa thể ảnh hưởng sâu vào đời sống của người Việt. Ví dụ, vấn đề vốn gần gũi trong hôn nhân, gia đình như chế độ tài sản giữa vợ – chồng hay thừa kế tài sản cũng không được quy định trong bộ luật này.
Khắc phục những hạn chế của Bộ Dân luật Giản yếu ở Nam Kỳ năm 1884 cũng có những điều chỉnh sao cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội Việt Nam qua hai cuộc đại khai thác, Hội đồng biên tập dự thảo Dân luật đã đưa ra phương châm: “Trong việc biên tập luật lệ, đại khái chú ý không xâm phạm đến những chế độ cốt yếu của xã hội Việt Nam mà lại châm chước cho thích hợp với phong tục cùng trình độ của người dân An Nam”1. Như vậy, bộ luật này tiếp thu không ít các quy định của Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long của Đại Việt. Bên cạnh đó, bộ luật cũng kế thừa một số nguyên tắc và thông lệ pháp lý của phương Tây, điển hình là Bộ luật Dân sự của Pháp năm 18042. Từ đây, một bộ luật mới đã được ra đời với sự giao thoa của nền pháp chế phương Tây và đặc thù truyền thống An Nam.
Từ năm 1927, chính quyền Pháp ở Bắc Kỳ đã lập ra Hội đồng tư vấn pháp luật để sưu tập các luật tục về gia đình, di sản, tế tự, hương hỏa,… Năm 1930, Thống sứ Bắc Kỳ lại thành lập Hội đồng soạn thảo một bộ luật dân sự mới và Bộ Dân luật Bắc Kỳ đã được ban hành và có hiệu lực ngay trong năm 1931.
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 được thiết kế bao gồm một Thiên sơ bộ và bốn quyển với 1.455 điều luật. Trong đó, Thiên sơ bộ đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của bộ luật, như:nguyên tắc công bố luật, nguyên tắc bất hồi tố, nguyên tắc bình đẳng, tự do cá nhân, tôn trọng quyền tư hữu, nguyên tắc thừa nhận ưu thế của pháp luật trong những trường hợp khác nhau,… Bốn quyển còn lại đề cập đến các quy định khá toàn diện trong quan hệ xã hội, như các quy định về người, về quyền sở hữu và thừa kế tài sản, về các nghĩa vụ và khế ước…3
3. Đặc trưng về tư tưởng lập pháp và kỹ thuật lập pháp thời Pháp thuộc và mối tương quan, so sánh với pháp luật thời quân chủ
3.1. Đặc trưng về tư tưởng lập pháp
Khi xây dựng Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, người Pháp đã chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa mà nổi bật là Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, điều này dẫn đến tư tưởng lập pháp có một số điểm khác biệt so với thời quân chủ.
Thứ nhất, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ pháp luật La Mã. Xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự Pháp chịu ảnh hưởng của pháp luật La Mã, vốn coi trọng vấn đề về pháp điển hoá và các quyền sở hữu, quyền tự do nhân thân và quyền tự do ý chí nên Bộ Dân luật Bắc Kỳ cũng mang những đặc điểm tương tự. Theo đó, ba chế định quan trọng nhất của hai bộ luật nêu trên đều là sở hữu, hợp đồng và gia đình4.
Trước khi xuất hiện sự du nhập của hệ thống pháp luật La Mã, một số nhà nghiên cứu cho rằng, pháp luật Việt Nam trước đây chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp luật Viễn Đông5, với những dấu ấn rõ nét của pháp luật Trung Quốc là chủ nghĩa nhân trị và “ngũ tài”. Cả hai quốc gia đều quan niệm rằng đạo làm người, với nước phải thờ vua, trong nhà phải thờ cha, tư tưởng trung – hiếu đã hình thành nên mô hình chính trị đề cao những con người với phẩm chất đạo đức yêu nước, thương dân6. Sự chuyển hóa của chủ nghĩa nhân trị vào pháp luật dân sự thể hiện ở chỗ vua càng quan tâm đời sống xã hội dân sự thì luật lệ cũng mang nhiều điểm tiến bộ (Quốc Triều Hình luật dưới thời vua Lê Thánh Tông là một minh chứng cho điều này)7.
Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà vua và chế độ quân chủ nên pháp luật Việt Nam hay Trung Quốc đều quy định chế tài trong lĩnh vực dân sự với ngũ hình bao gồm: xuy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng gậy), đồ (phạt tù khổ sai), lưu (phạt đi đày), tử (bị giết chết theo hai mức là thắt cổ và chém đầu).
Thứ hai, pháp luật thời kỳ này đã có sự phân định giữa luật công và luật tư, lĩnh vực dân sự được xem như là một phần của luật tư. Với ảnh hưởng của pháp luật La Mã, đồng thời cùng với nhu cầu cấp thiết điều chỉnh xã hội sau cách mạng tư sản khi mà hệ thống pháp luật của quốc gia này trước đây chưa có sự đồng bộ, sự phân định luật công và luật tư đã bắt đầu xuất hiện. Theo đó, công pháp bao gồm những ngành luật điều chỉnh quan hệ xã hội, quan hệ giữa cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với tư nhân. Ngược lại, tư pháp điều chỉnh quan hệ giữa tư nhân với tư nhân8 và hạt nhân của luật tư là luật tài sản, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại,…
Ở thời phong kiến, mỗi triều đại chỉ ban hành một, hai bộ luật và điều chỉnh rộng khắp các vấn đề xã hội. Chẳng hạn, Quốc triều Hình luật hay Hoàng Việt luật lệ đều quy định nhiều vấn đề chức vụ, hộ hôn, điền sản, đoán ngục,… tức là tổng hợp của nhiều lĩnh vực luật như hành chính, dân sự, hình sự, đất đai,… trong cùng một đạo luật9. Hộ luật trong pháp luật quân chủ thường được hiểu là pháp luật dân sự, song các nhà làm luật trong hai bộ luật trên đều quy định những vấn đề mang nặng tính quản lý hành chính, như: cấp dưỡng cho người già, quản lý hộ tịch,… Và mỗi điều luật đều luôn bao gồm quy định về chế tài hình sự. Có thể thấy, pháp luật dân sự thời kỳ này mang đậm quan niệm “hình dân hỗn hợp” như nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu nhận định10, đồng thời cũng mang đặc điểm hành chính – mệnh lệnh của luật hành chính.
Thứ ba, pháp luật dân sự được người Pháp đề cao và đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ điều chỉnh xã hội và nó cũng là công cụ hữu hiệu để người Pháp tiến hành quá trình thuộc địa hóa của họ. Có thể thấy, người Pháp đã ban hành lần lượt các Bộ Dân luật ở cả ba vùng, lần lượt là Dân luật Giản yếu năm 1884, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936.
Chính quyền Pháp phần nào muốn xoá bỏ đi pháp luật thời quân chủ bằng cách đề ra những chế định và nguyên tắc mới trong lĩnh vực dân luật mà điển hình là tôn trọng quyền tự do ý chí của cá nhân trong việc giao kết hợp đồng, quan niệm về gia đình với nhiều quyền cho phụ nữ đã dần xóa mờ đi những đặc trưng của gia đình phụ hệ xuyên suốt thời quân chủ. Trong khi đó, tư tưởng lập pháp dân sự thời quân chủ không thực sự phát triển. Điều này là bởi: (1) Chủ đạo của nền kinh tế qua các thời kỳ quân chủ là nông nghiệp với quan niệm “dĩ nông vi bản”, sự phát triển thương nghiệp chỉ hưng thịnh trong giai đoạn thế kỷ XVI – XVIII còn sau đó lại rơi vào suy thoái cho chính sách “bế quan tỏa cảng” của nhà Nguyễn; (2) Hoàng Việt luật lệ quy định con cái khi sống chung với cha mẹ thì không có tài sản riêng, như vậy những vấn đề, như: giao dịch dân sự mua bán hàng hóa, tham gia góp vốn hay kinh doanh của cá nhân đều bị hạn chế.
Thứ tư, các nhà lập pháp đề cao pháp luật thành văn, xem trọng tính hệ thống hoá của hệ thống pháp luật dân sự. Hiểu một cách đơn giản, pháp luật thành văn với sự hệ thống, đơn giản trong ngôn từ và cấu trúc các điều khoản sẽ làm cho một người dân không am hiểu về pháp luật cũng có thể hiểu được những tinh thần cơ bản của bộ luật. Trong quá trình soạn thảo Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, người Pháp cũng đã đúc kết được kinh nghiệm từ việc soạn thảo Bộ luật Dân sự của Pháp nhằm giáo dục về các quy tắc xử sự11.
Tóm lại, tư tưởng lập pháp dân sự thời Pháp thuộc đã thể hiện bước chuyển căn bản từ mô hình “hình dân hỗn hợp” sang hệ thống pháp luật mang tính phân ngành, đề cao quyền tư và quyền tự do cá nhân. Sự tiếp thu pháp luật La Mã – Pháp không chỉ làm thay đổi tư tưởng, ý chí mà còn đặt nền móng cho kỹ thuật pháp lý hiện đại ở Việt Nam.
3.2. Đặc trưng về kỹ thuật lập pháp
Đóng vai trò chủ chốt vào quá trình xây dựng pháp luật thời kỳ này là người Pháp, cho nên kỹ thuật xây dựng pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Pháp. “Khi ban hành 5 bộ luật mới ở Bắc Kỳ vào năm 1921 – 1923, căn nguyên của các quyển luật ấy: cốt tử bằng Chiếu ở Luật Gia Long, hình thức thì Chiếu ở luật Đại Pháp, nhưng châm chước lại một cách rất giản”12. Việc đề cập “hình thức thì Chiếu ở luật Đại Pháp” đã phản ánh sự tiếp nhận kỹ thuật lập pháp phương Tây và được thể hiện nổi bật ở những điểm sau:
Một là, xây dựng pháp luật gồm luật công và luật tư. “Ở các nước văn minh, không những pháp luật học là một khoa phải chuyên môn mà trong khoa pháp luật lại chia ra các khoa chuyên môn riêng về dân luật, thương luật, hình luật,…”13. Vì lẽ đó, người Pháp đã xây dựng các luật chuyên ngành tương đối rõ ràng trên khắp Việt Nam. Các nhà nghiên cứu luật học thời này đã lý giải về sự phân chia các ngành luật, như sau: “Dân luật là định về các sự giao tế của người đối với người, hoặc người đối với tài sản. Trong sự giao tế ấy tất phải có nghĩa vụ và quyền lợi. Nếu người có nghĩa vụ không chịu làm hoặc người có quyền lợi bị ức hiếp thì tất phải đem ra thưa trước tòa án để bắt làm nghĩa vụ hoặc đòi quyền lợi… Luật Dân sự, thương sự tố tụng làm ra cốt định về các việc ấy”14. Sự phân định này đã khắc phục pháp luật dân sự mang nặng yếu tố hình sự và hành chính, xuất phát từ quan điểm “pháp luật là công cụ bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền” mà đứng đầu là thiên tử (vua).
Kể từ thời Hậu Lê, lĩnh vực dân sự đã được điều chỉnh với các chế định tiêu biểu, như: sở hữu, hợp đồng và thừa kế, điều này khắc phục hạn chế của các triều đại trước đó nhưng hình thức xây dựng vẫn được trình bày theo kỹ thuật lập pháp của Luật Hình sự15. Khi tư tưởng pháp luật thời phong kiến được xây dựng dựa trên rường cột của Nho gia, sự bình đẳng và tự do ý chí không tồn tại và quan hệ dân hình rơi vào thế hỗn hợp. Như vậy, việc rạch ròi chia tách giữa luật công và luật tư là cơ sở, nền tảng cho việc cụ thể hoá các luật chuyên ngành giai đoạn sau.
Thứ hai, cấu trúc của pháp luật dân sự chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804. Khi người pháp ban hành Bộ Dân luật giản yếu ở Nam Kỳ, văn bản này sao chép cấu trúc rập khuôn và không đầy đủ luật Pháp và chưa lồng ghép các yếu tố văn hoá pháp lý Việt Nam dẫn đến hiệu quả áp dụng và quản lý không cao. Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 đã có sự tinh chỉnh về mặt nội dung nhưng vẫn tuân theo cách thức xây dựng về cấu trúc với các phần, chương theo chức năng của Luật.
Bộ Luật Dân sự Pháp năm 1804 bao gồm 2.283 điều, chia thành Thiên mở đầu và quyển thứ nhất về người, quyển thứ hai về tài sản và những thay đổi về sở hữu, quyển thứ ba là các phương thức xác lập quyền sở hữu và Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 cũng được chia dựa trên các vấn đề này16. Trong thời kỳ phong kiến, các bộ luật của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mô hình pháp luật phong kiến Trung Quốc. Điển hình là Bộ Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn. Bộ luật này gồm 398 điều, không kể phần Lời tựa, Mục lục và các phụ lục kèm theo. Nội dung luật được chia thành các phần, như: Danh lệ luật, Lại luật, Hộ luật, Lễ luật, Binh luật, Hình luật và Công luật. Cách phân chia này chủ yếu dựa trên lĩnh vực quản lý của Lục bộ trong triều đình, thay vì phân định theo ngành luật hay chế định pháp lý như trong pháp luật hiện đại.
Thứ ba, phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự đã hướng đến nguyên tắc tự do thỏa thuận, bình đẳng và tự do thể hiện ý chí của các bên. Nhà nước không can thiệp sâu vào nội dung quan hệ pháp luật mà chủ yếu tạo ra khung pháp lý để các bên tự do quyết định quyền lợi của mình, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Tương ứng với phương pháp điều chỉnh này, chế tài trong luật dân sự cũng mang tính chất bù đắp và khôi phục hơn là trừng phạt.
Khi có vi phạm, các biện pháp thường được áp dụng là bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, buộc thực hiện nghĩa vụ hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu. Điều này phản ánh tư duy pháp lý đặt trọng tâm vào việc bảo vệ quyền lợi dân sự của các bên hơn là xử lý bằng hình phạt. Dưới ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị phong kiến, pháp luật thời quân chủ có xu hướng hình sự hóa nhiều quan hệ xã hội. Các quan hệ dân sự, kể cả những tranh chấp mang tính cá nhân, thường bị xử lý bằng các hình phạt. Quan niệm “lấy hình phạt làm công cụ quản lý” khiến ranh giới giữa luật hình sự và các lĩnh vực khác không được phân định rõ ràng. Vì vậy, phương pháp điều chỉnh khi đó thiên về mệnh lệnh – hành chính thay vì dựa trên sự tự do và bình đẳng của các chủ thể trong luật dân sự thời kỳ Pháp thuộc.
Thứ tư, ngôn ngữ pháp luật trong giai đoạn Pháp thuộc được xây dựng theo hướng rõ ràng, cô đọng và có hiệu quả pháp lý cao. Dưới ảnh hưởng của pháp luật Pháp, đặc biệt là truyền thống lập pháp của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, cách diễn đạt trong văn bản pháp luật ngày càng chính xác và dễ hiểu hơn. Bộ luật này được đánh giá cao bởi lối hành văn ngắn gọn, mạch lạc và gần với đời sống thực tiễn, đến mức được xem như một “cẩm nang pháp lý” phổ biến trong xã hội Pháp.
Tại Việt Nam, văn bản pháp luật trong thời kỳ này còn được trình bày song song bằng nhiều ngôn ngữ, như: Pháp văn, Quốc ngữ và Hán văn. Việc sử dụng đa ngôn ngữ không chỉ phản ánh đặc điểm chính trị – xã hội của từng vùng mà còn là một giải pháp kỹ thuật lập pháp nhằm bảo đảm người dân có thể tiếp cận và hiểu được quy định pháp luật trong bối cảnh chuyển giao hệ thống pháp lý. Ngược lại, ngôn ngữ pháp lý thời quân chủ mang đậm tính văn chương và đạo lý. Điều này có thể được lý giải từ nền tảng tư tưởng của hệ thống pháp luật lúc bấy giờ, vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo.
Dưới thời Hậu Lê và nhà Nguyễn, Nho giáo giữ vị trí độc tôn và trở thành cơ sở tư tưởng cho việc tổ chức nhà nước cũng như xây dựng pháp luật. Vua Lê Thánh Tông đã coi trình độ Nho học là tiêu chuẩn quan trọng để tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại. Đội ngũ quan chức – vốn xuất thân từ tầng lớp nho sĩ – chính là những người tham gia vào việc xây dựng và áp dụng pháp luật, do đó các quy định pháp luật thường được thể hiện bằng ngôn ngữ giàu tính chuẩn mực đạo đức, thấm đẫm tư tưởng Nho giáo17.
Tóm lại, kỹ thuật lập pháp thời Pháp thuộc, tiêu biểu qua Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 đã thể hiện sự chuyển đổi rõ nét sang mô hình pháp luật hiện đại với sự phân định ngành luật, cấu trúc khoa học, phương pháp điều chỉnh dựa trên tự do – bình đẳng và ngôn ngữ thành văn rõ ràng, hệ thống. So với kỹ thuật lập pháp thời quân chủ còn mang tính “hình dân hỗn hợp” và đậm dấu ấn Nho giáo, đây là bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa pháp luật Việt Nam.
4. Một số nhận xét, đánh giá về tư tưởng và kỹ thuật lập pháp thời Pháp thuộc
4.1. Tư tưởng và kỹ thuật lập pháp tiếp thu có chọn lọc nội dung từ pháp luật dân sự Pháp
Tư duy lập pháp trong lĩnh vực dân sự thể hiện rõ sự tiếp thu sâu sắc các nguyên tắc và kỹ thuật từ pháp luật phương Tây, đặc biệt là pháp luật dân sự Pháp. Sự tiếp thu này không chỉ dừng lại ở việc vay mượn nội dung cụ thể mà còn thể hiện ở cách hệ thống hóa và xây dựng các chế định dân sự theo một cấu trúc khoa học và logic hơn.
Lấy ví dụ trong các chế định sau:
(1) Trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và thừa kế, dù vẫn còn bảo lưu yếu tố truyền thống, nhưng pháp luật cũng đã tiếp thu nhiều điểm tiến bộ từ phương Tây. Chẳng hạn, quy định về quyền sở hữu tài sản của phụ nữ trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân được xây dựng tương đồng với pháp luật Pháp. Điều này cho thấy, sự thay đổi trong cách nhìn nhận quan hệ dân sự – từ chỗ mang nặng yếu tố đạo lý và tập quán sang chỗ được xác định bằng các tiêu chí pháp lý rõ ràng18.
(2) Trong chế định sở hữu, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 đã tiếp nhận cách phân loại tài sản và xác định quyền sở hữu tương tự như trong Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804. Quyền sở hữu được xác định rõ là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản19. Tài sản được phân chia thành động sản và bất động sản – một cách phân loại mang tính học thuật và hệ thống, khác với lối quy định tản mạn trong pháp luật phong kiến trước đó. Ngoài ra, nhiều khái niệm và quyền năng pháp lý mới như quyền địa dịch, cũng được ghi nhận, cho thấy sự ảnh hưởng trực tiếp từ khoa học pháp lý phương Tây.
Như vậy, sự tiếp thu pháp luật phương Tây trong lĩnh vực dân sự không chỉ là sự sao chép quy định, mà là quá trình tiếp nhận cả phương pháp lập pháp, cách tư duy hệ thống và kỹ thuật xây dựng luật hiện đại. Đây chính là bước chuyển quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam, đặt nền móng cho sự phát triển của luật dân sự theo hướng khoa học hơn và chuyên biệt hơn.
4.2. Tư tưởng và kỹ thuật lập pháp bảo lưu nhiều yếu tố truyền thống pháp lý Việt Nam
Bên cạnh việc tiếp thu sâu rộng các nguyên tắc và kỹ thuật lập pháp từ pháp luật phương Tây, đặc biệt là pháp luật Pháp, tư duy lập pháp trong lĩnh vực dân sự vẫn thể hiện rõ sự bảo lưu nhiều yếu tố của pháp luật truyền thống Việt Nam. Sự bảo lưu này không mang tính ngẫu nhiên mà xuất phát từ yêu cầu ổn định xã hội và sự phù hợp với nền tảng văn hóa – tập quán đã tồn tại lâu đời.
Trong chế định sở hữu, mặc dù tiếp nhận cách phân loại tài sản và xác lập quyền sở hữu theo mô hình hiện đại, pháp luật vẫn duy trì một số loại tài sản truyền thống như tài sản hương hỏa, ruộng kỵ điền hay học điền. Những loại tài sản này gắn liền với chế độ gia tộc và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Đặc biệt, quy định về tài sản hương hỏa vẫn giữ nguyên tính chất không được tự do chuyển dịch và được truyền qua nhiều đời trong dòng họ. Điều này cho thấy nhà làm luật không hoàn toàn tuyệt đối hóa nguyên tắc tự do định đoạt tài sản mà vẫn dành không gian cho các giá trị gia tộc truyền thống20.
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, dù đã tiếp nhận một số yếu tố mới như thủ tục pháp lý rõ ràng hơn, pháp luật vẫn bảo lưu những đặc điểm của mô hình gia đình phong kiến. Vai trò của gia trưởng, ảnh hưởng của cha mẹ trong việc quyết định hôn nhân, cũng như những giới hạn nhất định đối với quyền của người phụ nữ vẫn còn được ghi nhận. Điều đó phản ánh thực tế rằng gia đình trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ vẫn mang tính chất cộng đồng và phụ hệ sâu sắc.
5. Kết luận
Việc nghiên cứu quá trình tiếp biến văn hóa, tư tưởng và kỹ thuật pháp lý trong bối cảnh từ thời quân chủ sang thời Pháp thuộc có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh xây dựng hệ thống pháp luật hiện nay. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý không đơn thuần là “cấy ghép từ luật tây vào luật ta” mà phải là sự xem xét, chọn lọc, dung hòa điểm tiến bộ pháp lý quốc tế với văn hóa pháp lý người Việt để bảo đảm pháp luật có thể đi sâu, dễ áp dụng vào đời sống xã hội.
Chú thích:
1. Gouvernement Général de l’Indochine (1931). Code Civil à l’usage des Juridictions Indigènes du Tonkin – Dân Luật thi hành tại các Tòa Nam Án Bắc Kỳ. Hanoi: Imprimerie Ngo-Tu-Ha, tr. 4.
2. Trong tờ trình của Hội đồng biên tập bản dự thảo Dân luật cho các tòa Nam án Bắc Kỳ có đoạn nội dung như sau: “… những điều mà trong cổ lệ cổ tục không nói đến, hoặc mập mờ không được chắc chắn, thời châm chước…”.
3, 16. Nguyễn Thị Khánh Huyền (2016). Đặc trưng cơ bản của Bộ Dân luật Bắc Kỳ. Luận văn Thạc sĩ Luật học ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, bảo vệ năm 2016, Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 30, 30.
4, 11. Hoàng Việt (2024). Ảnh hưởng của Luật La Mã đối với Dân luật phương Tây và gợi ý cho Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 22, tr. 13 – 19.
5. Zweigert, K. & Koetz, H (1998). An Introduction to Comparative Law. Third Edition, Clarendon Press, Oxford, England.
6. Đỗ Đức Minh, Nguyễn Văn Thủy (2015). Học thuyết đức trị và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 31, số 1, tr. 53.
7. Nguyễn Thị Thu Hà (2014). Tư tưởng về quyền con người trong Quốc Triều hình luật. Tạp chí Khoa học xã hội, số 5, tr. 29 – 33.
8. Thái Vĩnh Thắng (2008). Văn hóa pháp luật Pháp và những ảnh hưởng tới pháp luật Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 15, tr. 11 – 16.
9, 15. Nguyễn Minh Tuấn (2023). Những giá trị về lập pháp của Quốc triều Hình luật thời Lê. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. Tập 39, số 3, tr. 3, 4
10. Vũ Văn Mẫu (1974). Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử. Quyển 1. Tập 3.
12, 13, 14. Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Hữu Tiến (1923). Lược Khảo về Bộ luật mới ở Bắc Kỳ. tr. 6, 6, 33.
17. Phan Thị Lan Hương, Phạm Thị Duyên Thảo (2018). Tư tưởng đề cao pháp luật trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8 (360), tr. 13 – 25.
18. Trịnh Phúc Hiếu, Trần Thiên Khánh (2025). Chế định về quyền sở hữu tài sản của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình: Nghiên cứu từ góc nhìn của Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 169, tr. 217 – 222.
19. Phùng Trung Tập (2020). Những khía cạnh pháp lý của quyền hưởng dụng. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6 (406), tr. 42 – 52.
20. Huỳnh Công Bá (2009). Chế định về tài sản ruộng đất trong pháp luật triều Nguyễn. Tạp chí Khoa học: Đại học Huế, số 51, tr. 25 – 34.



