Phát triển văn hóa số ở nhà trường quân đội hiện nay

PGS.TS. Đại tá Bùi Xuân Quỳnh
ThS. Đại tá Hoàng Ngọc Sơn
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) –  Trong kỷ nguyên số, phát triển văn hóa số là yêu cầu khách quan, là nền tảng tinh thần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển văn hóa số, “sức mạnh mềm” quan trọng để xây dựng các nhà trường quân đội thông minh, hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Phát triển văn hóa số; chuyển đổi số; chất lượng giáo dục, đào tạo; sức mạnh mềm; nhà trường quân đội.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới đang bước vào kỷ nguyên số với những biến đổi toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và các nền tảng số đã và đang tạo ra những cơ hội to lớn. Đồng thời đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, việc thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là yêu cầu khách quan, là động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”1. Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn đang làm thay đổi sâu sắc cách thức tổ chức và hoạt động quân sự. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, chuyển đổi số không còn là xu hướng mà trở thành mũi nhọn, là đột phá để xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. Nghị quyết 3488 của Quân ủy Trung ương khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội là một trong các đột phá quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn tiên phong góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại2.

Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 của Quân ủy Trung ương, chỉ đạo: “Lấy người học làm trung tâm, chủ thể; môi trường sư phạm quân sự chuẩn mực là nền tảng; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục là then chốt, quyết định; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số là động lực của quá trình giáo dục và đào tạo”3. Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ mà còn đòi hỏi sự hình thành và phát triển văn hóa số. Văn hóa số trở thành nền tảng tinh thần, định hướng cho việc khai thác, sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, an toàn và nhân văn. 

2. Cơ sở lý luận phát triển văn hoá số ở nhà trường quân đội

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”4.

Sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của con người, xã hội. Phương thức sản xuất số được hình thành trên nền tảng văn hóa và cũng từ đó hình thành, phát triển văn hóa số. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, văn hóa số là tập hợp các giá trị, niềm tin và hành vi của cá nhân và tổ chức trong bối cảnh xã hội số, đồng thời là năng lực sử dụng công nghệ và hiểu sâu sắc quyết định dựa trên dữ liệu. Văn hóa số không chỉ đơn thuần là thói quen sử dụng công nghệ và Internet mà là tổng hòa các giá trị, chuẩn mực, tư duy số và quy tắc ứng xử trong môi trường số. Hiểu cách khác, văn hóa số là tập hợp các giá trị, nhận thức và hành vi của cá nhân và tổ chức trong bối cảnh xã hội số; bao gồm: cách sử dụng công nghệ số, cách giao tiếp và tương tác trong môi trường kỹ thuật số cũng như cách ứng phó với thách thức và cơ hội của xã hội số. Do đó, có thể định nghĩa: Văn hóa số là tổng thể giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, lưu giữ và lan toả trên nền tảng công nghệ số, điều chỉnh nhận thức và hành động của con người trong môi trường số theo giá trị chân – thiện – mỹ.

Trong môi trường quân sự, văn hóa số đòi hỏi sự gắn kết giữa kỷ luật, bảo mật quân sự với tính chia sẻ và sáng tạo trong kỷ nguyên số. Tư duy chỉ huy, tư duy quân sự dịch chuyển từ quản lý kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu. Văn hóa số quân sự là nền tảng để cán bộ, chiến sĩ chủ động, sáng tạo và tự tin sử dụng công nghệ, đồng thời phản bác thông tin sai trái trên mạng. Nếu không có nền tảng văn hóa số vững chắc, công nghệ hiện đại có thể trở thành con dao hai lưỡi, gây nguy cơ lộ lọt bí mật hoặc vi phạm kỷ luật.

Văn hóa số ở nhà trường quân đội bao gồm: năng lực sáng tạo, lưu giữ và lan tỏa tri thức, giá trị văn hóa trên nền tảng số, năng lực xây dựng học liệu số, bài giảng điện tử, kho dữ liệu và bảo tồn, truyền bá, chia sẻ và tiếp nhận tri thức quân sự qua các công cụ trực tuyến trên nền tảng số; hệ giá trị, chuẩn mực và hành vi ứng xử văn hóa của người dạy, người học trong môi trường số bảo đảm tuân thủ pháp luật, kỷ luật bảo mật thông tin, các quy tắc đạo đức, tôn trọng bản quyền; định hướng linh hoạt, sáng tạo dựa trên dữ liệu, sử dụng dữ liệu để ra quyết định trong giảng dạy, quản lý, trong khuyến khích thử nghiệm phương pháp mới, thích ứng nhanh với công nghệ bảo đảm văn minh, nhân văn.

So với môi trường dân sự, văn hoá số quân sự đòi hỏi sự kết hợp giữa kỷ luật, bảo mật và tính sáng tạo. Người học và người dạy vừa phải chủ động khai thác công nghệ, vừa tuân thủ quy định bảo mật; vừa cởi mở trong chia sẻ tri thức, vừa giữ gìn bí mật quốc phòng. Tư duy chỉ huy chuyển từ quản lý theo kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu. Văn hoá số quân sự phải là sức mạnh mềm giúp cán bộ, học viên thích ứng nhanh với chiến tranh công nghệ cao, đồng thời phản bác hiệu quả các thông tin xuyên tạc trên mạng. Phát triển văn hoá số đồng nghĩa với việc hình thành ý thức và hành vi sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, thúc đẩy sáng tạo và bảo đảm an toàn thông tin. Đây là yêu cầu cấp thiết để nhà trường quân đội thích ứng với bối cảnh số hóa giáo dục, đào tạo.

3. Thực trạng phát triển văn hóa số ở nhà trường quân đội hiện nay

Những năm gần đây, các nhà trường quân đội đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chuyển đổi số, tạo nền tảng ban đầu cho văn hoá số. Nhận thức của các tổ chức, lực lượng và mỗi quân nhân ngày càng nâng cao; “Hệ thống nhà trường được sắp xếp, điều chỉnh, tổ chức lại bảo đảm tinh, gọn, mạnh; chương trình, nội dung đào tạo từng bước chuẩn hóa, sát thực tiễn; chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được nâng lên; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số được quan tâm, đẩy mạnh; công tác phối hợp, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học có chuyển biến tích cực”5.

Các Học viện, như: Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Phòng không – Không quân, Học viện Hải quân, Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Thông tin… đã xây dựng trung tâm dữ liệu, thư viện số, phòng học thông minh và mô phỏng thực tế ảo; triển khai hệ thống quản lý đào tạo (LMS) và ngân hàng đề thi số. Một số nhà trường quân đội đã thử nghiệm mô hình “học viện số”, “nhà trường thông minh” với kết nối đa kênh, đa dạng các hình thức, sản phẩm số hóa. Văn hóa số ở mỗi cán bộ, học viên đã từng bước hình thành và phát triển tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số ở giai đoạn tiếp theo, góp phần xây dựng quân đội hiện đại đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới.

Tuy nhiên, quá trình phát triển văn hoá số còn không ít khó khăn, như: “Thể chế, chính sách chưa tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới, sáng tạo; một số chương trình đào tạo, phương pháp dạy học chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ; đội ngũ nhà giáo chất lượng cao còn thiếu, chưa đồng đều giữa các nhà trường, nhất là trình độ ngoại ngữ, kỹ năng số; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo còn thiếu và chưa hiện đại; gắn kết nhà trường và đơn vị còn hạn chế; một số nhà trường chưa bắt kịp với yêu cầu xây dựng Quân đội và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ quân sự”6.

Một số giảng viên còn hạn chế về năng lực công nghệ, thiếu kiến thức và kỹ năng thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng học liệu số và tổ chức lớp học trực tuyến hiệu quả. Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy còn mang tính hình thức, phong trào, chưa phát huy được tính tương tác, chưa tạo ra sự đổi mới thực chất trong tư duy sư phạm. Mặt khác, hiện còn nhiều điểm nghẽn về hạ tầng và tài nguyên số. Hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ giữa các trường một số nơi vẫn thiếu kết nối Internet tốc độ cao, học liệu số chưa phong phú, thống nhất; chưa có hệ thống đánh giá năng lực số chung cho giảng viên. Yếu tố tâm lý e ngại thử nghiệm, rủi ro đối với công nghệ mới ở một bộ phận cán bộ, giảng viên cũng làm chậm tiến độ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hóa số chưa được thường xuyên hoàn thiện và chưa định hướng hiệu quả nhận thức, hành động quân nhân trong môi trường số. Thực trạng trên và yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên số, để phát huy những thành tựu, khắc phục kịp thời hạn chế cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

3. Giải pháp phát triển văn hóa số ở nhà trường quân đội hiện nay

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, nâng cao nhận thức của các chủ thể và hoàn thiện giá trị, chuẩn mực văn hóa số.

Đây là giải pháp giữ vai trò định hướng, quyết định sự thành công của quá trình phát triển văn hóa số. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về về đổi mới giáo dục, đào tạo, về chuyển đổi số và văn hóa số. Phải xác định xây dựng văn hóa số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, gắn bó hữu cơ với chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Việc nâng cao nhận thức không chỉ dừng ở lãnh đạo mà phải bao trùm tất cả các chủ thể trong nhà trường, từ cán bộ quản lý, giảng viên tới học viên, để mọi thành viên đều hiểu sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa số và chủ động thay đổi. Nội dung văn hóa số cần được phổ biến rộng rãi qua các hội nghị, tọa đàm, các buổi sinh hoạt chính trị, văn hóa tinh thần và tài liệu điện tử, giúp mọi cán bộ, giảng viên, học viên “thấy – hiểu – làm”. Đưa tiêu chí văn hóa số vào đánh giá kết quả thi đua, khen thưởng và xem xét bổ nhiệm để nâng cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.

Thường xuyên chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện hệ giá trị và quy tắc, chuẩn mực văn hóa số. Xây dựng bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức số cần cụ thể hóa các giá trị chân – thiện – mỹ trong môi trường số. Tập trung ở nội dung, tôn trọng sự thật, minh bạch, bảo mật thông tin; không lan truyền tin giả; tôn trọng bản quyền; ứng xử văn minh, nhân ái. Quy tắc cũng cần quy định rõ trách nhiệm của cán bộ, giảng viên và học viên khi sử dụng mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến cũng như cơ chế xử lý vi phạm. Việc giáo dục ý thức bảo vệ dữ liệu, bí mật quân sự cần gắn với các quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật An ninh mạng và quy định nội bộ của Quân đội nhằm hình thành phong cách quân nhân chuẩn mực trên không gian mạng.

Thứ hai, đầu tư hạ tầng đồng bộ và số hóa hệ thống tài nguyên văn hóa quân sự.

Hạ tầng công nghệ là nền tảng vật chất tất yếu để văn hóa số nảy sinh và lan tỏa. Các nhà trường quân đội cần ưu tiên nguồn lực đầu tư mạng truyền số liệu quân sự, hệ thống phòng học thông minh, thư viện số và các trung tâm mô phỏng thực tế ảo. Hạ tầng phải bảo đảm tính liên thông giữa các cơ sở đào tạo với trung tâm dữ liệu của Bộ Quốc phòng; đồng thời, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn, bảo mật. Việc xây dựng kho học liệu số dùng chung, tích hợp bài giảng điện tử và ngân hàng đề thi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ tri thức, thúc đẩy tinh thần tự học suốt đời trong toàn quân, giúp hình thành cộng đồng số phong phú trong toàn quân.

Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng hệ thống tài nguyên văn hóa số quân sự mang bản sắc riêng. Đây là quá trình số hóa và lưu trữ các sản phẩm phản ánh truyền thống, lịch sử quân đội, như: phim tư liệu, bản đồ trận đánh, mô phỏng chiến dịch và hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”. Những tài nguyên này không chỉ phục vụ nghiên cứu, giáo dục truyền thống mà còn là công cụ hữu hiệu để nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trên môi trường số. Các sản phẩm cần được cập nhật liên tục, có giao diện thân thiện để khuyến khích cán bộ, học viên chủ động tiếp nhận và sáng tạo.

Thứ ba, đẩy mạnh giáo dục, bồi dưỡng năng lực số toàn diện cho đội ngũ cán bộ, học viên.

Phát triển văn hóa số thực chất là phát triển con người có năng lực số. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, các nhà trường phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đạt chuẩn năng lực số, có khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản lý và giảng dạy. “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải gắn liền với xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, chuyên gia số chất lượng cao, có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực hội nhập quốc tế”7. Phát triển văn hóa số gắn với phát triển con người có năng lực số toàn diện. Mục tiêu phấn đấu: “100% đạt chuẩn năng lực số và có khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy, quản lý; 30% trở lên đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”8.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải được trang bị kiến thức và kỹ năng số phù hợp. Chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng LMS, phân tích dữ liệu học tập, triển khai lớp học trực tuyến; kỹ năng sử dụng phần mềm mô phỏng, thực tế ảo và AI trong giảng dạy; quản trị dữ liệu và bảo mật. Đối với học viên, cần bổ sung kiến thức về văn hóa số, luật pháp liên quan và an toàn thông tin ngay từ giai đoạn đầu đào tạo. Đồng thời, khuyến khích học viên tham gia nghiên cứu, sáng tạo sản phẩm số và các cuộc thi đổi mới sáng tạo. Những kỹ năng này giúp học viên trở thành “quân nhân số” chủ động, sáng tạo và thích ứng nhanh với chiến tranh công nghệ cao.

Thực hiện tốt việc gắn kết giáo dục văn hóa số với giáo dục chính trị, đạo đức. Việc phổ biến kỹ năng số cần đi kèm với rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức; giáo dục lối sống, kỷ luật, phong cách quân nhân; và bồi dưỡng khả năng phản bác thông tin sai trái trên mạng. Các nhà trường quân đội, các khoa giáo viên cần lồng ghép nội dung văn hóa số vào môn khoa học xã hội và nhân văn, các môn lý luận chính trị, pháp luật nhằm giúp học viên hiểu rõ trách nhiệm của mình khi trở thành một công dân số và quân nhân số.

Thứ tư, xây dựng cộng đồng số, môi trường văn hóa số sáng tạo, an toàn, nhân văn và tăng cường hội nhập.

Cần tạo ra một hệ sinh thái số cởi mở nhưng kỷ cương để khuyến khích các hoạt động sáng tạo. Các nhà trường nên thiết lập các cộng đồng học tập số, diễn đàn trực tuyến hoặc mạng xã hội nội bộ để giảng viên và học viên trao đổi học thuật, chia sẻ sáng kiến. Phải đẩy mạnh các phong trào thi đua như “Quân đội thi đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số”. Đây là môi trường để nuôi dưỡng những ý tưởng mới, đồng thời phải bảo đảm không gian đó luôn an toàn, nhân văn và tôn trọng sự đa dạng.

Bên cạnh đó, cần chủ động mở rộng hợp tác quốc tế và liên kết với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ ngoài quân đội. Việc trao đổi học giả, tham gia các diễn đàn khoa học quốc tế và chuyển giao công nghệ sẽ giúp các nhà trường quân đội nhanh chóng cập nhật các xu hướng hiện đại. Hợp tác quốc tế không chỉ giúp tiếp cận tri thức tiên tiến mà còn là kênh quan trọng để lan tỏa các giá trị văn hóa quân sự Việt Nam ra thế giới, góp phần xây dựng hình ảnh quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại.

Thứ năm, hoàn thiện thể chế, chính sách và bảo đảm an ninh mạng làm điểm tựa phát triển.

Để văn hóa số phát triển bền vững, cần có một hành lang pháp lý thông suốt và cơ chế khuyến khích thỏa đáng. Nhà trường cần nghiên cứu ban hành các chính sách đặc thù về quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm số, quy định tiêu chuẩn chức danh nhà giáo gắn với năng lực số và có chế độ đãi ngộ xứng đáng cho các chuyên gia công nghệ, nhân tài. Cần hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá cho từng đối tượng để làm căn cứ xếp loại thi đua, bổ nhiệm cán bộ. Khen thưởng kịp thời các sáng kiến số xuất sắc, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy tắc ứng xử hoặc lơ là trong bảo vệ dữ liệu.

Bảo đảm an ninh mạng là điều kiện tiên quyết và cũng là một chuẩn mực của văn hóa số. Các nhà trường phải triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật như chữ ký số, mã hóa dữ liệu và phân cấp quyền truy cập. Phải bồi dưỡng kiến thức pháp luật về an ninh mạng và lồng ghép nội dung phòng, chống chiến tranh thông tin vào chương trình đào tạo. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận kỹ thuật và các cơ quan bảo vệ an ninh sẽ giúp chủ động phát hiện, xử lý các nguy cơ lộ lọt thông tin, bảo đảm môi trường văn hóa số luôn lành mạnh và tin cậy.

Kết quả đánh giá văn hóa số cần gắn với xếp loại thi đua, khen thưởng và đề bạt nhằm khuyến khích phát triển văn hóa số. Khen thưởng phải kịp thời với cá nhân, tập thể có sáng kiến về văn hóa số. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy tắc ứng xử trên không gian mạng, lơ là bảo vệ dữ liệu, lộ lọt mất an toàn thông tin, an ninh mạng. Cần huy động quỹ xã hội hóa để trao học bổng, hỗ trợ dự án số xuất sắc, tạo động lực lan tỏa văn hóa số trong nhà trường.

4. Kết luận

Phát triển văn hóa số tại các nhà trường quân đội hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp thiết từ bối cảnh chuyển đổi số quốc gia mà còn là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo và sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong kỷ nguyên mới. Văn hóa số đóng vai trò là sức mạnh mềm giúp định hình tư duy quản trị dựa trên dữ liệu, chuẩn hóa hành vi ứng xử văn minh và bảo đảm an toàn thông tin trên không gian mạng. Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nhà trường thông minh, hiện đại cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên. Từ đó tạo tiền đề vững chắc để các nhà trường quân đội đổi mới có hiệu quả công tác giáo dục, đào tạo góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 112.
2. Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.
3, 6. Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 458.
5. Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
8. Quân ủy Trung ương (2026). Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội.