Cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Võ Trực Chinh
Nguyễn Văn Lên
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Cải cách chế độ công vụ, công chức là khâu then chốt trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị, hướng tới xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ. Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện thể chế, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tạo chuyển biến rõ nét trong hoạt động công vụ. Tuy nhiên, quá trình cải cách vẫn còn không ít hạn chế về cơ chế, chất lượng nhân lực và phương thức quản lý, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Cải cách chế độ; công vụ, công chức; xây dựng bộ máy; chính quyền địa phương hai cấp.

1. Khái quát chung

Theo khoản 1 Điều 5 Luật Cán bộ, Công chức năm 2025: “Công vụ là hoạt động do cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn được giao theo quy định của cấp có thầm quyền và của pháp luật nhằm thực hiện quản lý nhà nước và đáp ứng nhu cầu chung của xã hội”. Thông qua hoạt động công vụ, Nhà nước tổ chức, điều hành và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm trật tự, ổn định và phát triển. Bản chất của công vụ là phục vụ Nhà nước, phục vụ Nhân dân và gắn liền với việc thực thi quyền lực nhà nước theo pháp luật. Vì vậy, chế độ công vụ, công chức luôn mang tính chính trị – pháp lý sâu sắc, chịu sự chi phối trực tiếp của thể chế chính trị và mô hình quản trị quốc gia.

Ở Việt Nam, khái niệm công vụ được hiểu theo hai góc độ. Theo nghĩa rộng, công vụ được hiểu là toàn bộ hoạt động của khu vực công, gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Trong phạm vi đó, chủ thể trực tiếp thực thi công vụ chính là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang hoạt động trong toàn bộ hệ thống chính trị.Theo nghĩa hẹp, công vụ được giới hạn trong khu vực nhà nước, do đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhằm triển khai các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Nền công vụ Việt Nam hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và trưởng thành của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay sau Cách mạng yháng Tám năm 1945, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ban hành Sắc lệnh số 18-SL ngày 18/8/1945 về việc tổ chức lại bộ máy hành chính và đội ngũ nhân viên công vụ, chuyển đổi từ chế độ quan lại thuộc địa sang chế độ công vụ phục vụ Nhân dân, dựa trên năng lực và đạo đức. Tiếp đó, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về quy chế công chức đã xác định rõ: “công chức là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ”, đồng thời quy định các nguyên tắc quản lý công chức, tuyển dụng công chức theo thực tài, đánh giá theo năng lực, trả lương theo ngạch bậc và khen thưởng người có thành tích. Những sắc lệnh này đặt nền móng cho mô hình công vụ kiểu mới nhằm hướng tới thực hiện dân chủ, phục vụ Nhân dân và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ cách mạng.

Trong giai đoạn kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hệ thống công vụ tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu chiến đấu, sản xuất và quản lý nhà nước thời chiến. Sau năm 1975, cùng với quá trình thống nhất đất nước, nền công vụ được mở rộng ra phạm vi cả nước nhưng còn chịu ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung. Bước ngoặt quan trọng diễn ra từ thời kỳ đổi mới (1986), khi Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại.

Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 là văn bản đầu tiên quy định tương đối toàn diện về chế độ công vụ, đặt nền tảng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực, trung thành với Tổ quốc và tận tụy phục vụ Nhân dân. Sau hai lần sửa đổi (2000 và 2003), Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chứcLuật Viên chức năm 2019), mới đây nhất là Luật Cán bộ, Công chức năm 2025 đã đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về pháp lý đối với chế độ công vụ, công chức.

Theo các đạo luật này, hệ thống công vụ Việt Nam đã chuyển dần từ mô hình công vụ chức nghiệp sang công vụ theo vị trí việc làm gắn với năng lực, hiệu quả và trách nhiệm cá nhân. Nhà nước thống nhất quản lý đội ngũ cán bộ, công chức về tiêu chuẩn, ngạch, bậc, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng và kỷ luật; đồng thời, mở rộng cơ chế thi tuyển cạnh tranh, minh bạch, từng bước áp dụng đánh giá theo kết quả thực thi nhiệm vụ. Đến nay, nền công vụ Việt Nam đang từng bước chuyển sang mô hình công vụ hiện đại, linh hoạt và phục vụ, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Chính phủ số. Cải cách chế độ công vụ, công chức không chỉ hướng tới hoàn thiện thể chế quản lý nhân sự khu vực công mà còn góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

2. Nội dung cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Một là, hoàn thiện thể chế về chế độ công vụ, công chức.

Hoàn thiện thể chế về chế độ công vụ, công chức là nhiệm vụ đột phá nhằm xây dựng và thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương của Đảng hướng tới xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm và thực tài. Tập trung rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật (bao gồm Luật Cán bộ, Công chứcLuật Viên chức) để khắc phục chồng chéo, đồng thời phân định rõ hơn giữa công chức và viên chức. Cốt lõi của cải cách thể chế là việc xây dựng và vận hành hiệu quả cơ chế quản lý dựa trên vị trí việc làm, coi đây là cơ sở để cơ cấu lại đội ngũ và thực hiện tinh giản biên chế. Trên cơ sở đó, đổi mới căn bản công tác tuyển dụng, sử dụng và đặc biệt là đánh giá công chức theo hướng lượng hóa, đa chiều, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chính, loại bỏ tính hình thức. Đồng thời, các quy định pháp lý được siết chặt để đề cao kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, song song với việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Quá trình hoàn thiện thể chế tạo tiền đề pháp lý then chốt cho việc triển khai cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 góp phần đạt được mục tiêu tổng thể về cải cách hành chính.

Hai là, đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ công chức.

Công tác tuyển dụng công chức phải “Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật”1. Việc tuyển dụng được thực hiện theo vị trí việc làm, bảo đảm đúng năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời công khai kết quả tuyển dụng, tạo điều kiện cho người dự tuyển khiếu nại, tố cáo theo quy định. Cùng với đó, sử dụng và quản lý công chức, phải: “Căn cứ kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét quyết định thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc bố trí vào vị trí việc làm cao hơn; thực hiện chế độ tiền lương, chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật và quy định của cấp có thẩm quyền”2.

Đồng thời, phân công, phân cấp quản lý công chức rõ ràng, trách nhiệm đi đôi với quyền hạn, bảo đảm công chức được phát huy năng lực, hoàn thành nhiệm vụ và chịu trách nhiệm rõ ràng. Các cơ quan cũng được hướng dẫn thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả công việc, kết hợp với việc bố trí vị trí việc làm và lộ trình phát triển nghề nghiệp nhằm tăng tính minh bạch, công bằng và khuyến khích cống hiến lâu dài.

Ba là, cải cách chế độ tiền lương và đãi ngộ đối với công chức.

Cải cách chế độ tiền lương và đãi ngộ là nội dung trọng tâm trong cải cách công vụ, công chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và động lực làm việc của đội ngũ công chức. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 đã chỉ rõ: “… Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững”.

Theo đó, chế độ tiền lương, phụ cấp và các khoản đãi ngộ khác của công chức phải bảo đảm công bằng, minh bạch, phù hợp với vị trí việc làm và hiệu quả công việc. Cơ cấu tiền lương được thiết kế kết hợp lương cơ bản với phụ cấp chức danh, phụ cấp trách nhiệm và các khoản phụ cấp khác nhằm phản ánh đúng năng lực, chức năng và nhiệm vụ của công chức. Chế độ đãi ngộ còn bao gồm: khen thưởng, thu nhập tăng thêm và các khoản hỗ trợ khác, được tính toán căn cứ vào kết quả đánh giá công chức. Việc hướng tới bãi bỏ hệ số lương cơ sở, áp dụng mức lương theo vị trí việc làm giúp minh bạch, công bằng và gắn quyền lợi với trách nhiệm. Những cải cách này không chỉ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công chức mà còn thúc đẩy đội ngũ công chức cống hiến lâu dài, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

Bốn là, đổi mới cơ chế đánh giá và kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ.

Đổi mới cơ chế đánh giá và kiểm soát quyền lực nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân. Quyền lực trong quản lý, điều hành phải được kiểm soát thông qua phân cấp, phân quyền rõ ràng, ràng buộc trách nhiệm và giám sát các quyết định quan trọng. Định kỳ kết hợp phản hồi từ cơ quan, tổ chức và người dân để điều chỉnh hoặc kiểm tra khi phát hiện có dấu hiệu sai phạm, qua đó giúp tăng cường minh bạch, công bằng và hiệu quả. Khuyến khích công chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và trung thực trong thực thi công vụ. Nhờ đó, đổi mới cơ chế đánh giá và kiểm soát quyền lực không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn xây dựng nền công vụ hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính để phục vụ Nhân dân.

Năm là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức.

Đảng khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước”3. Do đó, đào tạo, bồi dưỡng là cơ sở để xây dựng đội ngũ công chức có năng lực, phẩm chất và kỹ năng đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước hiện đại, hiệu quả. Trong đó, tập trung đào tạo, bồi dưỡng: lý luận chính trị; chuyên môn, nghiệp vụ hành chính; kỹ năng quản trị, lãnh đạo; kỹ năng mềm và công nghệ; kiến thức pháp luật và quản lý rủi ro; bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu theo vị trí công tác… Thông qua đó, nâng cao năng lực, hình thành đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ Nhân dân của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng mục tiêu xây dựng nền quản trị nhà nước hiện đại, hiệu quả.

3. Thực trạng cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cải cách chế độ công vụ, công chức được triển khai toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước hoàn thiện thể chế và tinh gọn tổ chức bộ máy. Trên cơ sở Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, ngày 12/4/2025 Đảng tiếp tục ra Nghị quyết số 60-NQ/TW tiếp tục thực hiện sáp nhập, tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, hệ thống thể chế về công vụ, công chức đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Tính đến ngày 31/7/2025, cả nước đã sắp xếp, tinh giản gần 90.000 cán bộ, công chức góp phần từng bước tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị4.

Cùng với đó, ngày 12/02/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 282/QĐ-TTg về Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030 tiếp tục yêu cầu sắp xếp, tinh gọn bộ máy gắn với cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện tổ chức. Theo đó, việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trên cơ sở dữ liệu; đồng thời hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành và địa phương, bảo đảm rõ ràng, không chồng chéo, tinh gọn và hiệu quả.

Thứ hai, hệ thống thể chế và cơ chế quản lý công vụ được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, lấy vị trí việc làm làm trung tâm. Thể chế về công vụ, công chức đã được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả hơn. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 đã làm rõ hơn khái niệm, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của công chức, đồng thời phân biệt rạch ròi giữa công chức và viên chức. Cơ chế quản lý theo vị trí việc làm được triển khai ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương, coi đây là cơ sở để cơ cấu lại đội ngũ và thực hiện tinh giản biên chế. Hiệu quả của quá trình hoàn thiện thể chế và tái cấu trúc nền công vụ bước đầu đã có những kết quả. Đơn cử, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, số lượng biên chế cấp xã dự kiến giảm khoảng 110.786 người, còn khoảng 199.260 biên chế cán bộ5.

Thứ ba, công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức có nhiều đổi mới căn bản, tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ và siết chặt kỷ luật hành chính. Đổi mới và phân cấp triệt để trong tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức; cải cách thủ tục, quy trình tuyển dụng; tăng cường ứng dụng công nghệ trong tuyển dụng, nâng ngạch; tăng cường tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.

Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ, xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có sai phạm, vi phạm pháp luật; đồng thời, thực hiện các biện pháp nhằm đẩy lùi tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của công chức.

Thứ tư, cải cách chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ được xác định là khâu đột phá, từng bước bảo đảm công bằng gắn với hiệu quả thực thi công vụ. Thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, đến nay, hệ thống chính sách tiền lương đang từng bước được hoàn thiện theo hướng trả lương theo vị trí việc làm, chức vụ, chức danh và năng lực thực thi công vụ.

Cải cách tiền lương không chỉ nhằm nâng cao thu nhập mà còn hướng đến bảo đảm công bằng giữa các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, chính sách tiền lương mới gắn chặt với cải cách đánh giá, phân loại công chức và kiểm soát quyền lực, qua đó khuyến khích người có năng lực, hạn chế tình trạng “bình quân chủ nghĩa”. Bên cạnh đó, các chính sách phúc lợi, bảo hiểm, phụ cấp ưu đãi nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và khuyến khích cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cũng được điều chỉnh đồng bộ, thể hiện rõ tính nhân văn và công bằng xã hội trong chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ năm, cơ chế đánh giá công chức và kiểm soát quyền lực được đổi mới theo hướng định lượng, minh bạch và khách quan hơn. Việc đánh giá công chức “phải được định lượng tối đa về tiến độ, chất lượng hiệu quả gắn với vị trí việc làm”6. Đây là bước đổi mới quan trọng, khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, cảm tính trước đây. Quá trình đánh giá bảo đảm “dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều”7. Việc kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập tiếp tục được thực hiện nghiêm theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Thứ sáu, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được đẩy mạnh gắn với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và yêu cầu chuyển đổi số. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 16/6/2022, thống nhất gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, lấy chất lượng, hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Năm 2024, cả nước đã có 642.049 lượt cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng, trong đó có 26.536 lượt người ở các bộ, ngành trung ương và 615.513 lượt người ở địa phương8. Hệ thống Học viện Hành chính và Quản trị công, các trường chính trị tỉnh, thành phố và trung tâm bồi dưỡng cấp huyện đã mở hàng nghìn lớp chuyên đề về quản lý công, đạo đức công vụ, chuyển đổi số và kỹ năng hành chính hiện đại phù hợp với định hướng chính phủ điện tử, chính phủ số.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải cách chế độ công vụ, công chức vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Hệ thống thể chế, chính sách về công vụ chưa thật sự đồng bộ, còn chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong quy định về vị trí việc làm, đánh giá và phân loại công chức. Việc triển khai cải cách ở nhiều nơi còn hình thức, thiếu sự gắn kết giữa đổi mới thể chế với cải cách tiền lương, tinh giản biên chế và chuyển đổi số. Công tác đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng chưa thật sự dựa trên năng lực, kết quả công việc; còn tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”. Nhiều địa phương chưa chú trọng đào tạo theo nhu cầu vị trí việc làm, còn chạy theo số lượng. Ứng dụng công nghệ trong quản lý công vụ còn hạn chế, dữ liệu nhân sự chưa được liên thông. Đặc biệt, năng lực một bộ phận công chức còn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp, kỷ luật hành chính chưa nghiêm, ảnh hưởng đến hiệu quả của tiến trình cải cách công vụ, công chức.

4. Một số kiến nghị

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng là nhân tố quyết định thành công của cải cách công vụ, công chức. Tiếp tục triển khai hiệu quả các nghị quyết, như: Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương… Cùng với đó là việc ban hành nghị quyết mới tạo nền tảng lý luận và thực tiễn cho quá trình đổi mới đồng bộ, toàn diện.

Hai là, phải đặt cải cách công vụ, công chức trong tổng thể cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi đây là trọng tâm trong hiện đại hóa nền quản trị quốc gia. Việc đồng bộ giữa cải cách thể chế, bộ máy, tài chính công và đội ngũ công chức giúp tạo chuyển biến thực chất, tránh tình trạng cục bộ, thiếu nhất quán.

Ba là, xây dựng cơ chế đánh giá công chức công bằng, khách quan và gắn với kết quả thực thi công vụ là điều kiện tiên quyết để phát huy năng lực, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Chỉ khi nào việc đánh giá được lượng hóa, minh bạch và có phản hồi từ người dân, doanh nghiệp thì mới tạo được động lực làm việc, hạn chế tiêu cực và nâng cao chất lượng nền công vụ.

Bốn là, phải gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức với yêu cầu thực tiễn, vị trí việc làm và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thay vì tổ chức theo hình thức dàn trải, thiếu trọng tâm. Việc đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cần hướng tới phát triển năng lực số, kỹ năng quản trị hiện đại, kỹ năng lãnh đạo, giao tiếp, ra quyết định dựa trên dữ liệu và xử lý tình huống hành chính. Đây là yếu tố then chốt giúp đội ngũ công chức trên phạm vi cả nước thích ứng nhanh với yêu cầu của nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế.

Năm là, phát huy vai trò nêu gương, trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực chặt chẽ trong thực thi công vụ. Khi người lãnh đạo thực sự gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thì tổ chức bộ máy mới vận hành hiệu quả, liêm chính và hướng tới phục vụ nhân dân.

Chú thích:
1, 2, 6, 7. Quốc hội (2025). Điều 18, Điều 27, Điều 25, Điều 25 Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 178.
4. Công tác cán bộ trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/14/cong-tac-can-bo-trong-boi-canh-doi-moi-he-thong-chinh-tri-dap-ung-yeu-cau-tinh-gon-bo-may-hoat-dong-hieu-luc-hieu-qua/
5. Bộ Nội vụ báo cáo về dự kiến biên chế cán bộ, công chức giảm sau sắp xếp hành chính cấp tỉnh, xã. https://baochinhphu.vn/bo-noi-vu-bao-cao-ve-du-kien-bien-che-can-bo-cong-chuc-giam-sau-sap-xep-hanh-chinh-cap-tinh-xa-102250509104313609.htm
8. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/01/29/nang-cao-chat-luong-dao-tao-boi-duong-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-gop-phan-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi/
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Nguyễn Hữu Khiển (2019). Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/24/phat-huy-quyen-lam-chu-cua-nhan-dan-trong-xay-dung-to-chuc-bo-may-he-thong-chinh-tri-tinh-gon-manh.