Kỳ 1: 40 năm hình thành và phát triển lý luận về đường lối đổi mới
Vũ Hoàng Mạnh Trung
Lê Văn Mão
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại thành phố Đà Nẵng
(Quanlynhanuoc.vn) – Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng khẳng định và phát triển lý luận về đường lối đổi mới, chính thức xác lập đây là một trong ba trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng, bên cạnh chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là bước phát triển có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, phản ánh quá trình tổng kết 40 năm đổi mới; đồng thời, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên chuyển đổi số, kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, quá trình hình thành và phát triển lý luận về đường lối đổi mới trong 40 năm qua.
Từ khóa: Lý luận về đường lối đổi mới; nền tảng tư tưởng; Đại hội XIV; phát triển đất nước; kỷ nguyên vươn mình.
1. Đặt vấn đề
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 – 2026), dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sản xuất trì trệ, thiếu hụt lương thực, đời sống nhân dân khó khăn, Việt Nam đã từng bước chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một mô hình phát triển mới phù hợp với điều kiện cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là bước ngoặt có tính cách mạng về tư duy lý luận và phương thức tổ chức thực tiễn.
2. Một số thành tựu nổi bật
Thứ nhất, về kinh tế, đổi mới đã giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường cạnh tranh, hội nhập. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 – 2025 đạt khoảng 6,2%/năm, duy trì ở mức khá cao trong thời gian dài; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng, đóng góp khoảng 50% GDP trong giai đoạn 2016 – 2023 và trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế1. Từ chỗ thiếu lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Từ một nền kinh tế khép kín, Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam tăng 102% giai đoạn 2019 – 2023, đạt mức 507 tỷ USD vào năm 20242. Những kết quả đó không chỉ phản ánh sự đúng đắn của đường lối đổi mới mà còn khẳng định năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, về chính trị – xã hội, đổi mới đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện; hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ hơn; quyền làm chủ của Nhân dân được mở rộng và bảo đảm tốt hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, đặc biệt là đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.
Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, mức cao so với các nước có cùng trình độ phát triển. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên 74,5 tuổi vào năm 2024. Chỉ số hạnh phúc được cải thiện vượt bậc, tăng 48 bậc so với năm 2016, xếp thứ 46/143 quốc gia vào năm 20253. Đổi mới vì thế không chỉ là cải cách kinh tế mà là quá trình cải biến toàn diện đời sống chính trị – xã hội trên nền tảng giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, về đối ngoại và vị thế quốc tế, Việt Nam đã chuyển từ thế bị bao vây, cấm vận sang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Quan hệ đối ngoại được mở rộng với hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế; Việt Nam tham gia và đóng góp tích cực vào nhiều cơ chế đa phương quan trọng. Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 38 quốc gia, bao gồm tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và toàn bộ các nước G74. Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, thể hiện vai trò ngày càng chủ động, trách nhiệm trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Điều này chứng minh đường lối đổi mới không chỉ đúng đắn trong phạm vi quốc gia mà còn phù hợp với xu thế vận động của thời đại.
Ý nghĩa lớn hơn của 40 năm đổi mới không chỉ nằm ở các chỉ tiêu tăng trưởng hay thành tựu cụ thể mà ở chỗ thực tiễn đã cung cấp những luận cứ sống động để hình thành và phát triển một hệ thống lý luận mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn đổi mới đã giúp Đảng từng bước làm rõ nhiều vấn đề lý luận quan trọng: về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về đa dạng hóa các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; về vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; về hội nhập quốc tế gắn với giữ vững độc lập, tự chủ. Những nhận thức đó không phải được hình thành trong phòng nghiên cứu thuần túy, mà được đúc kết từ quá trình thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn phát triển.
Thực tiễn sinh động của 40 năm đổi mới đặt ra yêu cầu khách quan phải tổng kết một cách hệ thống, khoa học và nâng lên thành lý luận hoàn chỉnh. Nếu không kịp thời khái quát thành lý luận, kinh nghiệm thực tiễn có thể bị rời rạc, thiếu tính định hướng chiến lược và khó bảo vệ trước những quan điểm sai trái, xuyên tạc. Việc tổng kết, phát triển thành lý luận cũng là yêu cầu tất yếu để tiếp tục lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới – khi môi trường quốc tế biến động nhanh, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV chính thức khẳng định, “Lý luận về đường lối đổi mới” là một trong ba trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng, bên cạnh chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không phải là sự bổ sung mang tính hình thức mà là sự ghi nhận một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng; khẳng định lý luận về đường lối đổi mới đã đạt tới trình độ khái quát đủ sâu, đủ rộng và đủ bền vững để trở thành bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới.
Quyết định này thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng. Đó là sự tiếp nối mạch phát triển liên tục của tư duy cách mạng Việt Nam: kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam và tiếp thu tinh hoa nhân loại. Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới như một trụ cột tư tưởng vừa là sự tổng kết chặng đường đã qua, vừa là cơ sở định hướng cho chặng đường phía trước – hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI.
3. Lý luận về đường lối đổi mới được hình thành trên cơ sở của Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn sinh động của 40 năm đổi mới
3.1. Cơ sở hình thành từ học thuyết Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đồng thời là cơ sở lý luận trực tiếp định hướng đường lối cách mạng Việt Nam. Một trong những nguyên lý phương pháp luận cốt lõi của học thuyết này là khẳng định tính khách quan của sự vận động và phát triển xã hội. Theo đó, sự phát triển của lịch sử loài người diễn ra theo những quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hay lực lượng chính trị nào. Việc nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo các quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng thời kỳ là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự thành công của cách mạng.
Trên phương diện triết học, phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều vận động, biến đổi không ngừng; sự phát triển là quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập, là kết quả của sự tích lũy về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất. Áp dụng vào đời sống xã hội, điều đó có nghĩa là không một mô hình kinh tế – xã hội nào là bất biến, càng không thể áp dụng máy móc những khuôn mẫu có sẵn cho mọi điều kiện lịch sử cụ thể. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi các đảng cách mạng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, chống giáo điều, rập khuôn, đồng thời kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa duy ý chí.
Trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của C. Mác khẳng định rằng sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự thay đổi của quan hệ sản xuất; khi quan hệ sản xuất trở nên lạc hậu, kìm hãm lực lượng sản xuất thì tất yếu phải được cải biến cho phù hợp. Đây chính là cơ sở lý luận sâu xa để Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986. Trong điều kiện trước đổi mới, cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và yêu cầu phát triển đất nước. Tình trạng trì trệ, khủng hoảng kinh tế – xã hội đòi hỏi phải có sự điều chỉnh căn bản về cơ chế quản lý và mô hình phát triển.
Đổi mới trước hết là sự trở về đúng với tinh thần khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin: nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước. Đó không phải là sự từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà là quá trình tìm tòi con đường phù hợp hơn để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Đổi mới tư duy kinh tế, thừa nhận kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực chất là sự vận dụng sáng tạo quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh trong khuôn khổ định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng nhấn mạnh vai trò của thực tiễn như là tiêu chuẩn của chân lý. Mọi lý luận nếu không được kiểm nghiệm qua thực tiễn sẽ trở nên trừu tượng, giáo điều. Công cuộc đổi mới của Việt Nam là minh chứng sinh động cho việc lấy thực tiễn làm thước đo để bổ sung, phát triển lý luận. Những nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về đa dạng hóa sở hữu, về hội nhập quốc tế… đều được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn phong phú của đất nước, chứ không sao chép mô hình có sẵn. Chính tinh thần đó phù hợp sâu sắc với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi con người được phát triển toàn diện. Đổi mới ở Việt Nam không làm thay đổi mục tiêu đó. Ngược lại, đổi mới chính là phương thức để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa một cách hiệu quả hơn trong điều kiện mới. Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là chệch hướng, mà là sự lựa chọn phù hợp nhằm huy động tối đa các nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó tạo cơ sở vật chất để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Như vậy, xét về bản chất, đổi mới là quá trình vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Đó là sự đổi mới tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới cơ chế quản lý và mô hình phát triển, nhưng không thay đổi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc Đại hội XIV khẳng định lý luận về đường lối đổi mới là một trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng càng cho thấy rõ tính nhất quán trong lập trường: kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định, nếu không nắm vững và vận dụng đúng đắn tinh thần khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, công cuộc đổi mới khó có thể đạt được những thành tựu to lớn như đã qua. Chính cơ sở lý luận vững chắc đó đã giúp Đảng tránh được những dao động, lệch hướng trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới; đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đây là nền tảng tư tưởng bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới tiếp tục được triển khai đúng hướng, sáng tạo và hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
3.2. Cơ sở hình thành từ tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời là sự kết tinh truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa tư tưởng nhân loại. Một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong nhận thức và hành động cách mạng. Người luôn nhấn mạnh: phải xuất phát từ thực tiễn đất nước, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, không rập khuôn, máy móc, không giáo điều.
Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” thể hiện sâu sắc phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Bất biến” ở đây là mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc; là quyền làm chủ của Nhân dân. “Vạn biến” là tình hình quốc tế và trong nước luôn thay đổi; là phương thức, sách lược, bước đi phải linh hoạt, sáng tạo để thích ứng với hoàn cảnh cụ thể. Đây chính là cơ sở tư tưởng trực tiếp cho việc hình thành tư duy đổi mới của Đảng sau này.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao việc chống giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Người phê phán mạnh mẽ bệnh chủ quan, nóng vội, không xuất phát từ thực tế; đồng thời yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, tức là gắn lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm. Tinh thần ấy trở thành kim chỉ nam cho quá trình đổi mới tư duy của Đảng khi đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trước Đại hội VI.
Đổi mới vì thế là sự kế thừa sâu sắc phương pháp luận Hồ Chí Minh: kiên định mục tiêu, linh hoạt trong phương pháp. Đảng không thay đổi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà đổi mới cách nghĩ, cách làm để đạt mục tiêu ấy trong điều kiện mới. Việc chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh mà là sự vận dụng tinh thần sáng tạo, độc lập, tự chủ của Người vào hoàn cảnh lịch sử mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất của cách mạng. Người khẳng định: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”5. Tư duy đổi mới thấm nhuần sâu sắc quan điểm ấy. Mọi cải cách, điều chỉnh chính sách đều nhằm mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tạo điều kiện để mỗi người dân được phát triển toàn diện. Chính vì vậy, đổi mới không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là yêu cầu chính trị – xã hội, là sự lựa chọn vì Nhân dân.
Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc đổi mới. Người nhiều lần cảnh báo nguy cơ suy thoái, quan liêu, xa dân; yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, cùng với đổi mới kinh tế, Đảng đặc biệt chú trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp. Điều đó phản ánh sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Đảng cầm quyền.
Như vậy, xét về phương diện tư tưởng, đổi mới ở Việt Nam không phải là sự đoạn tuyệt với quá khứ mà là sự tiếp nối và phát triển sáng tạo di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt trong phương pháp, bước đi – đó chính là tinh thần cốt lõi mà tư duy đổi mới đã và đang kế thừa, phát triển.
3.3. Cơ sở hình thành từ thực tiễn 40 năm đổi mới
Thực tiễn là nguồn gốc của lý luận, đồng thời là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý. Từ Đại hội VI (1986) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đã mang lại những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử.
Thứ nhất, về phát triển kinh tế.
Sau khi thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời gian dài. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt. Từ một nền kinh tế khép kín, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có độ mở kinh tế cao, tham gia sâu rộng vào các chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu.
Những thành tựu kinh tế đó cho thấy, sự đúng đắn của việc chuyển đổi mô hình phát triển, khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lựa chọn phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ quá độ. Thực tiễn ấy không chỉ có ý nghĩa về mặt tăng trưởng mà còn góp phần củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, về đời sống nhân dân.
Một trong những thành tựu nổi bật của đổi mới là đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua các giai đoạn; hệ thống an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện; giáo dục, y tế, văn hóa có nhiều tiến bộ. Cơ hội tiếp cận dịch vụ công, thông tin, khoa học – công nghệ ngày càng mở rộng. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao; trình độ dân trí và mức sống của người dân được cải thiện đáng kể.
Điều quan trọng là tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả đó minh chứng, đổi mới không phải chỉ nhằm mục tiêu kinh tế thuần túy mà hướng tới phát triển con người, vì con người và do con người.
Thứ ba, về vị thế và uy tín quốc tế.
Việt Nam đã chuyển từ tình trạng bị bao vây, cấm vận sang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; hợp tác song phương và đa phương ngày càng phát triển; vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Việt Nam tham gia và đóng góp tích cực vào nhiều cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực tiễn khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế là đúng đắn, đồng thời cho thấy đổi mới đã tạo điều kiện để đất nước hội nhập thành công mà vẫn giữ vững độc lập, chủ quyền và bản sắc dân tộc.
Thứ tư, về hệ thống chính trị.
Cùng với đổi mới kinh tế, hệ thống chính trị từng bước được hoàn thiện theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh; cơ chế kiểm soát quyền lực được tăng cường; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt nhiều kết quả quan trọng. Bộ máy nhà nước từng bước tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Những chuyển biến đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ, tạo nền tảng chính trị – xã hội ổn định cho phát triển lâu dài. Đổi mới vì vậy không chỉ là cải cách kinh tế mà là quá trình đổi mới toàn diện hệ thống chính trị nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Tổng thể những thành tựu sau 40 năm đổi mới không chỉ mang ý nghĩa thực tiễn to lớn mà còn tạo tiền đề để hình thành hệ thống lý luận về đường lối đổi mới có tính khái quát cao. Từ thực tiễn phong phú đó, Đảng ta từng bước làm rõ nhiều vấn đề lý luận quan trọng về mô hình phát triển, về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa tăng trưởng và công bằng xã hội, giữa hội nhập và giữ vững độc lập, tự chủ.
Việc tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới và nâng lên thành lý luận không chỉ là yêu cầu khoa học mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được định hướng đúng đắn trong bối cảnh mới. Chính từ nền tảng thực tiễn vững chắc ấy, lý luận về đường lối đổi mới từng bước được hoàn thiện, đủ tầm để trở thành một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Chú thích:
1, 3, 4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.
2. Brand Finance (2024). Nation Brands 2024. https://brandirectory.com/reports/nation-brands/2024
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 65.



