ThS. Nguyễn Thùy Linh
Bộ Công Thương
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các địa phương. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vùng nguyên liệu nông sản bền vững và đánh giá thực trạng tại tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2021 – 2025; hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch tích hợp, đồng bộ hóa chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; vùng nguyên liệu nông sản; phát triển bền vững; chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; Cao Bằng.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị nông sản toàn cầu và gia tăng các tiêu chuẩn bền vững, việc tổ chức và quản lý phát triển vùng nguyên liệu đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với ngành nông nghiệp các quốc gia. Các thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản không chỉ đòi hỏi sản phẩm đạt chất lượng cao mà còn yêu cầu truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon. Các cơ chế như quy định chống phá rừng (EUDR), cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang tạo áp lực chuyển đổi mạnh mẽ đối với mô hình tổ chức sản xuất ở cấp địa phương.
Song song với đó, chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức quản lý và vận hành chuỗi cung ứng nông sản. Hệ thống dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nền tảng quản trị số giúp nâng cao hiệu quả điều hành, giảm chi phí giao dịch, bảo đảm minh bạch thông tin và đáp ứng yêu cầu thị trường. Trong bối cảnh này, vùng nguyên liệu không còn đơn thuần là không gian sản xuất, mà trở thành cấu phần chiến lược trong chuỗi giá trị nông sản, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã được xác định rõ trong nhiều chương trình, đề án của Chính phủ. Việc thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 – 2025 thể hiện quyết tâm chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất tập trung, gắn với chế biến và thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy quá trình xây dựng vùng nguyên liệu vẫn còn không ít hạn chế: quy hoạch phân tán, liên kết chuỗi chưa bền vững, hạ tầng thiếu đồng bộ, cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể còn bất cập và mức độ ứng dụng công nghệ số còn hạn chế.
Trong bối cảnh đó, vai trò của chính quyền cấp tỉnh trở nên đặc biệt quan trọng. Với tư cách là chủ thể quản lý nhà nước trực tiếp trên địa bàn, chính quyền tỉnh có trách nhiệm quy hoạch không gian sản xuất, ban hành và tổ chức thực thi chính sách, thu hút đầu tư, điều phối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu. Hiệu quả phát triển vùng nguyên liệu vì thế phụ thuộc không chỉ vào điều kiện tự nhiên hay năng lực sản xuất, mà còn vào chất lượng thể chế và năng lực điều hành của chính quyền địa phương.
Tỉnh Cao Bằng là một tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc là trường hợp điển hình cho những thách thức và cơ hội trong quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững. Với lợi thế về điều kiện sinh thái đặc thù và một số sản phẩm có tiềm năng như thuốc lá, thạch đen, cây dược liệu…, tỉnh đã bước đầu hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và tiêu thụ. Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình phức tạp, dân cư phân tán, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao và nguồn lực còn hạn chế, quá trình tổ chức và quản lý vùng nguyên liệu còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc tích hợp yêu cầu chuyển đổi số và đáp ứng tiêu chuẩn hội nhập quốc tế.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, thông qua trường hợp tỉnh Cao Bằng, có ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu góp phần làm rõ nội dung và công cụ quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với vùng nguyên liệu trong điều kiện mới, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả điều hành ở các địa phương có điều kiện tương đồng.
2. Cơ sở lý luận về quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững
Vùng nguyên liệu nông sản được hiểu là không gian sản xuất được quy hoạch và tổ chức nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Trong bối cảnh phát triển hiện nay, vùng nguyên liệu không chỉ là khu vực sản xuất tập trung theo lợi thế sinh thái, mà còn là cấu phần quan trọng của chuỗi giá trị nông sản, nơi quyết định chất lượng đầu vào, khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững. Khi gắn với yêu cầu phát triển bền vững, vùng nguyên liệu phải đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, hướng tới sự cân bằng giữa tăng trưởng, ổn định sinh kế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Từ góc độ lý thuyết, việc nghiên cứu quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững có thể dựa trên sự kết hợp của ba trụ cột chính: lý thuyết vùng, lý thuyết chuỗi giá trị và lý thuyết quản lý kinh tế.
(1) Lý thuyết vùng cung cấp cơ sở khoa học cho việc tổ chức không gian sản xuất theo lợi thế so sánh, điều kiện sinh thái và khả năng tiếp cận thị trường. Theo cách tiếp cận này, vùng nguyên liệu là một đơn vị kinh tế – sinh thái được quy hoạch nhằm tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, tích tụ đất đai, phát triển hạ tầng và chuyên môn hóa sản xuất. Việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng suất, tạo điều kiện cho cơ giới hóa và ứng dụng khoa học – công nghệ.
(2) Lý thuyết chuỗi giá trị nhấn mạnh vai trò của vùng nguyên liệu như mắt xích khởi đầu của chuỗi giá trị nông sản. Giá trị gia tăng của sản phẩm không chỉ được tạo ra ở khâu chế biến hay phân phối mà bắt đầu từ khâu sản xuất nguyên liệu với các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và tính bền vững. Vùng nguyên liệu có tổ chức tốt giúp bảo đảm tính ổn định của nguồn cung, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vùng nguyên liệu còn quyết định mức độ tham gia của địa phương vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt khi các thị trường ngày càng đòi hỏi truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường, xã hội.
(3) Lý thuyết quản lý kinh tế là nền tảng để phân tích vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương trong phát triển vùng nguyên liệu. Theo cách tiếp cận này, xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu là một quá trình quản lý kinh tế có mục tiêu, trong đó chính quyền cấp tỉnh đóng vai trò chủ thể trung tâm, thực hiện các chức năng quy hoạch, ban hành chính sách, tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực và giám sát quá trình phát triển. Hiệu quả của vùng nguyên liệu không chỉ phụ thuộc vào năng lực sản xuất của người dân hay doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng thể chế và năng lực điều hành của bộ máy quản lý nhà nước.
Quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững ở cấp tỉnh bao gồm một số nội dung cơ bản. Trước hết là quy hoạch và tổ chức không gian vùng nguyên liệu phù hợp với điều kiện tự nhiên, lợi thế so sánh và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Quy hoạch cần bảo đảm tính tích hợp, gắn với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành và định hướng thị trường, đồng thời tính đến yếu tố biến đổi khí hậu và yêu cầu bảo vệ môi trường. Thứ hai là xây dựng và thực thi hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, bao gồm chính sách đất đai, tín dụng, đầu tư hạ tầng, khuyến nông và hỗ trợ doanh nghiệp. Chính sách phải tạo động lực cho tích tụ đất đai, thu hút đầu tư vào chế biến và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị.
Một nội dung quan trọng khác là tổ chức và điều phối liên kết giữa các chủ thể trong vùng nguyên liệu. Liên kết giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – Nhà nước quyết định tính ổn định và bền vững của chuỗi cung ứng. Chính quyền tỉnh có vai trò kiến tạo môi trường thể chế minh bạch, thúc đẩy ký kết hợp đồng bao tiêu, giảm thiểu rủi ro thị trường và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên. Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng giao thông, kho bãi, chế biến và logistics là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả vùng nguyên liệu.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, quản lý phát triển vùng nguyên liệu còn bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng số vào quản lý dữ liệu vùng trồng, cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và giám sát chất lượng. Chuyển đổi số không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn giúp địa phương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn về minh bạch và trách nhiệm môi trường. Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu tập trung, kết nối với hệ thống quản lý của cơ quan trung ương và doanh nghiệp, là xu hướng tất yếu trong quản trị nông nghiệp hiện đại.
Phát triển bền vững đòi hỏi vùng nguyên liệu phải được đánh giá trên cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường. Về kinh tế, vùng nguyên liệu phải bảo đảm hiệu quả sản xuất, ổn định đầu ra và gia tăng giá trị. Về xã hội, cần góp phần nâng cao thu nhập, tạo việc làm, bảo đảm sinh kế cho nông dân, đặc biệt ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Về môi trường, phải sử dụng tài nguyên hợp lý, hạn chế suy thoái đất, ô nhiễm nước và phát thải khí nhà kính. Do đó, quản lý phát triển vùng nguyên liệu không chỉ là quản lý sản xuất mà là quản trị tổng hợp nhằm cân bằng lợi ích kinh tế với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, quản lý phát triển vùng nguyên liệu cấp tỉnh cần gắn với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu. Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương không chỉ đóng vai trò quản lý hành chính mà còn phải thực hiện chức năng kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực xã hội. Chất lượng quản lý thể hiện ở khả năng xây dựng chính sách phù hợp, tổ chức thực thi hiệu quả, giám sát minh bạch và kịp thời điều chỉnh trước những biến động của thị trường và môi trường.
Như vậy, cơ sở lý luận về quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững cho thấy đây là một quá trình quản trị kinh tế phức hợp, chịu tác động đồng thời của yếu tố không gian sản xuất, cấu trúc chuỗi giá trị và năng lực quản lý nhà nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, vai trò của chính quyền cấp tỉnh càng trở nên then chốt trong việc quy hoạch, điều phối và dẫn dắt phát triển vùng nguyên liệu theo hướng bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp và bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân địa phương.
3. Thực trạng quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững tại tỉnh Cao Bằng (giai đoạn 2021 – 2025) trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
3.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, từng bước hình thành và mở rộng một số vùng nguyên liệu chủ lực.
Giai đoạn 2021 – 2025, tỉnh Cao Bằng đã tập trung quy hoạch và phát triển các vùng nguyên liệu gắn với lợi thế sinh thái và sản phẩm đặc hữu. Bên cạnh các vùng cây ăn quả đặc sản (hạt dẻ Trùng Khánh, quýt Hà Trì, mận máu, lê Đông Khê…), tỉnh chú trọng phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá và thạch đen – hai sản phẩm có tính hàng hóa và tiềm năng xuất khẩu rõ nét. Việc hình thành các vùng sản xuất tập trung đã tạo nền tảng cho liên kết chế biến và tiêu thụ, đồng thời đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa trong bối cảnh hội nhập.
Thứ hai, bước đầu thu hút được đầu tư và mở rộng quy mô vùng nguyên liệu.
Trong 3 năm đầu giai đoạn nghiên cứu, tỉnh đã thu hút trên 50 doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia đầu tư phát triển vùng nguyên liệu; tổng vốn đầu tư đạt hơn 1.200 tỷ đồng, với 31 dự án trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. Diện tích vùng nguyên liệu được mở rộng thêm khoảng 5.000 ha, tập trung vào các cây có giá trị như chè, hồi, quế, dược liệu và cây ăn quả. Đây là bước chuyển quan trọng từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa có tổ chức, tạo điều kiện tăng cường liên kết chuỗi giá trị.
Thứ ba, bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tỉnh đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; đến năm 2024 có 221 sản phẩm được gắn mã truy xuất và 100 sản phẩm được đưa lên các sàn thương mại điện tử. Việc cấp mã số vùng trồng cho một số sản phẩm như thạch đen đã góp phần đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Những kết quả này cho thấy quản lý vùng nguyên liệu tại Cao Bằng đã bước đầu chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu và nền tảng số.
Nhìn chung, các kết quả đạt được cho thấy vai trò kiến tạo bước đầu của chính quyền tỉnh trong quy hoạch, huy động nguồn lực và thúc đẩy chuyển đổi số phục vụ hội nhập.
3.2. Những hạn chế
Một là, quy hoạch vùng nguyên liệu còn phân tán và thiếu tính tích hợp. Mặc dù đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung, song nhiều khu vực vẫn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; quy hoạch chưa gắn chặt với quy hoạch sử dụng đất, chế biến và logistics. Điều này làm giảm hiệu quả tích tụ đất đai và khó đạt được quy mô đủ lớn để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Hai là, chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ và thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro. Các chính sách về đất đai, tín dụng, đầu tư hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp còn rời rạc; cơ chế phối hợp giữa các ngành chưa thực sự hiệu quả. Trong bối cảnh hội nhập, khi tiêu chuẩn thị trường ngày càng cao, việc thiếu đồng bộ chính sách làm gia tăng chi phí tuân thủ và rủi ro cho doanh nghiệp và nông dân.
Ba là, liên kết doanh nghiệp – nông dân còn lỏng lẻo. Mặc dù đã có hơn 20 mô hình liên kết chuỗi giá trị được triển khai, song tính bền vững chưa cao; hợp đồng bao tiêu chưa phổ biến, cơ chế giám sát chất lượng còn hạn chế. Một số vùng nguyên liệu vẫn phụ thuộc vào thương lái, khiến chuỗi giá trị thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường quốc tế.
Bốn là, số hóa quản lý vùng nguyên liệu chưa toàn diện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin mới dừng ở truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm; chưa hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn canh tác và phát thải. Hạ tầng số ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; năng lực tiếp cận công nghệ của nông dân chưa đồng đều, ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi số.
Năm là, năng lực quản lý còn hạn chế. Công tác điều phối liên ngành, giám sát thực hiện quy hoạch và đánh giá hiệu quả chính sách còn bất cập; nguồn nhân lực quản lý nông nghiệp ở cấp cơ sở chưa được đào tạo đầy đủ về quản trị chuỗi giá trị và chuyển đổi số.
3.3. Nguyên nhân
Hệ thống văn bản hướng dẫn và cơ chế thực thi ở địa phương còn chồng chéo; thiếu khung chính sách tích hợp giữa phát triển vùng nguyên liệu, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Điều này làm giảm hiệu lực điều hành và tính linh hoạt trong xử lý các vấn đề phát sinh.
Cao Bằng là tỉnh miền núi, ngân sách hạn chế; khả năng huy động vốn xã hội hóa và đầu tư vào hạ tầng số, logistics còn khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và chất lượng phát triển vùng nguyên liệu. Địa hình phức tạp, dân cư phân tán, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao làm tăng chi phí tổ chức sản xuất tập trung và phổ biến quy trình kỹ thuật. Tập quán canh tác truyền thống và mức độ tiếp cận thị trường còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến khả năng chuẩn hóa vùng nguyên liệu.
Kết quả điều tra 230 mẫu của tác giả cho thấy, mức độ đánh giá về hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách và điều phối liên kết còn ở mức trung bình; nhiều doanh nghiệp và nông hộ phản ánh khó khăn trong tiếp cận thông tin chính sách, tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật. Điều này cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và thực thi vẫn tồn tại, đặc biệt trong việc tích hợp yêu cầu chuyển đổi số và tiêu chuẩn hội nhập vào quản lý vùng nguyên liệu.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu theo hướng tích hợp và thích ứng. Quy hoạch cần được xây dựng trên cơ sở tích hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành nông nghiệp, quy hoạch hạ tầng và định hướng thị trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng các rào cản kỹ thuật quốc tế, quy hoạch vùng nguyên liệu không chỉ dựa trên lợi thế sinh thái truyền thống mà phải tính đến yếu tố phát thải, bảo vệ rừng, sử dụng nước và khả năng truy xuất nguồn gốc. Đối với Cao Bằng – tỉnh miền núi có địa hình phức tạp – cần ưu tiên phát triển các vùng nguyên liệu gắn với sản phẩm đặc hữu, có giá trị cao và khả năng xây dựng thương hiệu, thay vì mở rộng diện tích dàn trải. Đồng thời, quy hoạch phải gắn chặt với bố trí hạ tầng giao thông, kho bảo quản và cơ sở chế biến để hình thành chuỗi cung ứng khép kín.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ theo hướng đồng bộ và tạo động lực thị trường. Chính quyền tỉnh cần rà soát, điều chỉnh các chính sách đất đai, tín dụng, khuyến nông và hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng tạo điều kiện cho tích tụ đất đai hợp lý, khuyến khích liên kết sản xuất theo hợp đồng và giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia chuỗi giá trị. Cần xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro giữa doanh nghiệp và nông dân, đặc biệt trong bối cảnh giá cả nông sản biến động mạnh trên thị trường quốc tế. Đồng thời, tăng cường chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, công nghệ bảo quản và tiêu chuẩn hóa sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu. Đây là giải pháp mang tính đột phá trong bối cảnh hội nhập. Tỉnh cần xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về vùng nguyên liệu, bao gồm thông tin diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn canh tác, mã số vùng trồng và tình trạng tuân thủ quy định môi trường. Hệ thống dữ liệu này cần được kết nối với các nền tảng của Bộ Nông nghiệp và các cơ quan trung ương, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và hợp tác xã khai thác phục vụ truy xuất nguồn gốc và tiếp cận thị trường. Bên cạnh việc duy trì hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện có, cần mở rộng ứng dụng công nghệ số trong giám sát chất lượng, dự báo thị trường và điều phối sản xuất. Đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, cần ưu tiên đầu tư hạ tầng viễn thông và đào tạo kỹ năng số cho nông dân nhằm thu hẹp “khoảng cách số” trong quản lý nông nghiệp.
Thứ tư, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và thúc đẩy hợp tác công – tư. Chính quyền tỉnh cần đóng vai trò kiến tạo môi trường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thông qua cơ chế hợp đồng bao tiêu, chuẩn hóa quy trình sản xuất và minh bạch thông tin. Việc phát triển các mô hình liên kết chuỗi giá trị cần gắn với yêu cầu thị trường cụ thể, đặc biệt là tiêu chuẩn xuất khẩu chính ngạch. Đối với các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu như thạch đen, dược liệu, cây ăn quả đặc sản, cần ưu tiên xây dựng mã số vùng trồng, chứng nhận tiêu chuẩn và hệ thống kiểm soát chất lượng đồng bộ. Mô hình hợp tác công – tư trong đầu tư hạ tầng, chế biến và logistics cũng cần được khuyến khích nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa cho phát triển vùng nguyên liệu.
Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và chất lượng tổ chức thực hiện. Trong điều kiện yêu cầu quản trị ngày càng phức tạp, đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp ở cấp tỉnh và cấp cơ sở cần được đào tạo về quản trị chuỗi giá trị, chuyển đổi số và tiêu chuẩn hội nhập quốc tế. Cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa nông nghiệp, khoa học công nghệ, công thương và tài nguyên môi trường trong quản lý vùng nguyên liệu. Đồng thời, thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá định kỳ về hiệu quả phát triển vùng nguyên liệu theo các tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường để kịp thời điều chỉnh chính sách.
Thứ sáu, gắn phát triển vùng nguyên liệu với mục tiêu sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường. Đối với tỉnh miền núi như Cao Bằng, phát triển vùng nguyên liệu không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn phải góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số và giảm nghèo bền vững. Do đó, cần khuyến khích các mô hình sản xuất thân thiện môi trường, hạn chế phá rừng, thúc đẩy canh tác hữu cơ và tuần hoàn. Chính quyền tỉnh cần tăng cường giám sát việc sử dụng đất và bảo vệ tài nguyên, bảo đảm phát triển vùng nguyên liệu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Thứ bảy, chủ động thích ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và trách nhiệm xã hội, tỉnh cần xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường dựa trên phân tích yêu cầu kỹ thuật và rào cản thương mại cụ thể. Việc nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp mà cần có sự hỗ trợ định hướng, đào tạo và tư vấn từ phía chính quyền. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác liên tỉnh và liên vùng để hình thành chuỗi cung ứng quy mô lớn, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Như vậy, các giải pháp tăng cường quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững tại tỉnh Cao Bằng cần được triển khai theo hướng tổng thể, kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số và chủ động hội nhập. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh không chỉ dừng lại ở chức năng quản lý hành chính mà phải chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo phát triển, điều phối nguồn lực và dẫn dắt quá trình chuyển đổi theo hướng bền vững.
5. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý phát triển vùng nguyên liệu nông sản bền vững đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các địa phương. Trường hợp tỉnh Cao Bằng cho thấy, việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, thu hút đầu tư và bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình sản xuất hàng hóa gắn với chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế về quy hoạch phân tán, chính sách chưa đồng bộ, liên kết chuỗi còn lỏng lẻo và mức độ số hóa chưa toàn diện. Những hạn chế này bắt nguồn từ yếu tố thể chế, nguồn lực hạn chế, đặc thù miền núi và năng lực tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở.
Để nâng cao hiệu quả quản lý phát triển vùng nguyên liệu trong thời gian tới, tỉnh Cao Bằng cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch tích hợp, đồng bộ hóa chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị vùng trồng và tăng cường liên kết chuỗi giá trị theo hướng chuẩn hóa, minh bạch và đáp ứng tiêu chuẩn hội nhập. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh cần được chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, điều phối nguồn lực và dẫn dắt quá trình chuyển đổi theo hướng bền vững. Những kinh nghiệm từ Cao Bằng cũng có ý nghĩa tham khảo đối với các địa phương miền núi có điều kiện tương đồng trong quá trình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường và hội nhập quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022). Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 – 2025.
2. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021–2025.
3. Adefila, J. et al. (2024). Nghiên cứu về chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững và cấu trúc quyền lực trong chuỗi.
4. OECD (2020). Global value chains in agriculture and food: A synthesis of OECD analysis (OECD Food, Agriculture and Fisheries Papers, No. 139). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/6e3993fa-en
5. OECD (2021). Agricultural Policy Monitoring and Evaluation 2021: Addressing the Challenges Facing Food Systems. OECD Publishing. doi.org
6. Porter, M. E. (1985). Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance. New York: Free Press.
7. FAO & UNIDO. (2024). Sustainable agrifood value chain development: Guidelines for practitioners (2nd ed.). Rome: FAO & UNIDO. doi.org
8. World Bank. (2021). What’s Cooking: Digital Transformation of the Agrifood System. Washington, DC: World Bank. doi:10.1596/978-1-4648-1657-4.



