Kỳ 2: Lý luận về đường lối đổi mới là trụ cột nền tảng tư tưởng định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Vũ Hoàng Mạnh Trung
Lê Văn Mão
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại thành phố Đà Nẵng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên phát triển mới, cần định hình một cách rõ ràng hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trên cơ sở tổng kết và phát triển lý luận về đường lối đổi mới. Bài viết tiếp tục làm rõ nội dung cốt lõi lý luận về đường lối đổi mới được Đại hội XIV bổ sung; khẳng định vị trí, vai trò của lý luận đổi mới trong chỉnh thể nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển, bảo vệ và vận dụng sáng tạo lý luận về đường lối đổi mới trong giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn 2045.
Từ khóa: Lý luận về đường lối đổi mới; nền tảng tư tưởng; Đại hội XIV; phát triển đất nước; kỷ nguyên vươn mình.
1. Nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới
1.1. Nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một trong những đột phá lý luận lớn nhất của công cuộc đổi mới là việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về chính sách kinh tế mà là bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy lý luận, góp phần giải đáp một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam: đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường nào trong điều kiện xuất phát điểm thấp, hội nhập quốc tế sâu rộng và tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
Thứ nhất, lý luận về đường lối đổi mới làm rõ rằng kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Thị trường là thành tựu phát triển chung của văn minh nhân loại, là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả dựa trên các quy luật khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh. Chủ nghĩa xã hội với tư cách là mục tiêu phát triển xã hội không phủ nhận vai trò của thị trường mà đặt thị trường trong khuôn khổ định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phục vụ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Nhận thức này khắc phục quan điểm giản đơn trước đây coi kinh tế thị trường là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn đổi mới cho thấy, việc vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân. Chính vì vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình vừa tuân theo các quy luật của thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ hai, lý luận về đường lối đổi mới khẳng định vai trò trung tâm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc định hướng và điều tiết nền kinh tế. Nhà nước không can thiệp hành chính một cách tùy tiện, không làm thay thị trường, nhưng giữ vai trò kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều tiết vĩ mô, khắc phục những khuyết tật của thị trường và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Đây là sự phát triển quan trọng trong nhận thức về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, giữa quản lý và tự do kinh doanh.
Thứ ba, lý luận về đường lối đổi mới xác định phát triển đa dạng các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế là yêu cầu khách quan của thời kỳ quá độ. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành quan trọng. Việc thừa nhận và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân đánh dấu bước phát triển lớn trong tư duy kinh tế, thể hiện quan điểm nhất quán: mọi nguồn lực hợp pháp của xã hội đều được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Như vậy, nhận thức mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, đồng thời là cơ sở lý luận quan trọng định hướng cho chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
1.2. Nhận thức mới về hội nhập quốc tế
Một nội dung quan trọng khác của lý luận về đường lối đổi mới là sự phát triển nhận thức về hội nhập quốc tế. Từ tư duy “mở cửa” ban đầu, Việt Nam đã chuyển sang quan điểm “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, gắn hội nhập với giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc.
Hội nhập không còn được hiểu đơn thuần là mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mà là quá trình tham gia sâu vào các thể chế, luật chơi và chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam đã ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ tiên tiến và phương thức quản trị hiện đại. Điều đó góp phần mở rộng không gian phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Quan trọng hơn, lý luận về đường lối đổi mới khẳng định hội nhập phải đi đôi với củng cố nội lực. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan mà là tham gia trên cơ sở giữ vững bản sắc, độc lập và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ trong xử lý mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, giữa hội nhập và bảo vệ lợi ích quốc gia.
1.3. Nhận thức mới về phát triển bền vững
Bước sang giai đoạn phát triển mới, lý luận về đường lối đổi mới ngày càng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh gắn với bền vững. Tăng trưởng kinh tế không thể đánh đổi môi trường, công bằng xã hội và ổn định lâu dài.
Một là, tăng trưởng phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Đây là đặc trưng bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế phải đi đôi với nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, giảm nghèo bền vững, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội. Quan điểm này bảo đảm rằng thành quả tăng trưởng được phân bổ hợp lý, hạn chế phân hóa giàu nghèo quá mức.
Hai là, phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn trở thành định hướng quan trọng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết. Điều này thể hiện sự cập nhật kịp thời của lý luận về đường lối đổi mới trước những thách thức toàn cầu.
Ba là, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực trung tâm của tăng trưởng trong kỷ nguyên kinh tế tri thức. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… không chỉ nâng cao năng suất mà còn làm thay đổi phương thức quản trị và tổ chức xã hội. Lý luận về đường lối đổi mới vì thế ngày càng gắn chặt với yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ và xây dựng nền kinh tế số.
1.4. Nhận thức mới về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Đổi mới không chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Việc hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nội dung quan trọng của quá trình đổi mới hệ thống chính trị.
Những chuyển biến này góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội – điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững.
2. Ý nghĩa việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới là một trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng
Việc xác lập “Lý luận về đường lối đổi mới” là một trong ba trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ mang ý nghĩa tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới, mà còn có giá trị chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận, phản ánh bản lĩnh chính trị và năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2.1. Góp phần hoàn thiện chỉnh thể nền tảng tư tưởng của Đảng
Ba trụ cột nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, gồm: (1) Chủ nghĩa Mác – Lênin; (2) Tư tưởng Hồ Chí Minh; (3) Lý luận về đường lối đổi mới. Sự xác lập này không phải là sự bổ sung giản đơn về mặt khái niệm mà là sự hoàn thiện chỉnh thể nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Đây là nền tảng lý luận có tính phổ quát, phản ánh quy luật chung của sự phát triển xã hội loài người. Trên cơ sở đó, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết tinh truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại, định hình con đường cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Tuy nhiên, bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, thực tiễn phát triển đất nước đã đặt ra nhiều vấn đề mới mà trong các giai đoạn trước chưa xuất hiện đầy đủ: xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển đa dạng các thành phần kinh tế; hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa; xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững; giữa độc lập tự chủ và phụ thuộc lẫn nhau trong thế giới phẳng; giữa ổn định chính trị và đổi mới thể chế.
Chính thực tiễn đó đòi hỏi phải khái quát thành hệ thống lý luận mới, bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Lý luận về đường lối đổi mới, vì vậy không tách rời chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà là sự phát triển tiếp nối trên nền tảng đó, phản ánh trình độ nhận thức mới của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện Việt Nam hiện đại.
Việc xác lập ba trụ cột tư tưởng thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển liên tục của tư duy lý luận cách mạng Việt Nam. Đó là quá trình vận động biện chứng: từ việc tiếp thu lý luận khoa học của thời đại, đến sự sáng tạo của Việt Nam qua tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp tục được bổ sung, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới. Sự hoàn thiện chỉnh thể nền tảng tư tưởng này giúp bảo đảm tính nhất quán trong nhận thức và hành động của toàn Đảng; tạo ra sự thống nhất giữa mục tiêu lâu dài và phương thức thực hiện; giữa nguyên lý cơ bản và giải pháp cụ thể; giữa lý luận phổ quát và thực tiễn đặc thù của Việt Nam.
2.2. Khẳng định bản lĩnh chính trị và năng lực cầm quyền của Đảng
Việc tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới và nâng lên thành lý luận mang tầm nền tảng tư tưởng thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và năng lực cầm quyền của Đảng.
Thứ nhất, bản lĩnh dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật và đánh giá đúng sự thật. Đổi mới bắt đầu từ việc thừa nhận những hạn chế, yếu kém của cơ chế cũ; từ việc nhận thức rõ những điểm nghẽn của mô hình kế hoạch hóa tập trung. Chính thái độ khoa học, cầu thị ấy đã tạo tiền đề cho những quyết sách đúng đắn tại Đại hội VI và các kỳ đại hội tiếp theo.
Thứ hai, bản lĩnh kiên định mục tiêu nhưng linh hoạt về phương pháp. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động lớn – sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, làn sóng toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ. Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời đổi mới mạnh mẽ tư duy kinh tế, chính trị, đối ngoại. Sự kiên định này không phải là bảo thủ mà là sự vững vàng trên nền tảng lý luận khoa học.
Thứ ba, việc phát triển lý luận về đường lối đổi mới thể hiện năng lực tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận của một đảng cầm quyền trưởng thành. Một đảng cầm quyền chỉ thực sự vững mạnh khi không chỉ biết tổ chức thực hiện chính sách mà còn có khả năng khái quát, nâng kinh nghiệm thực tiễn lên tầm lý luận, tạo định hướng chiến lược lâu dài cho đất nước. Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới là một trụ cột tư tưởng cho thấy, Đảng không ngừng tự đổi mới, tự hoàn thiện về tư duy và phương thức lãnh đạo.
Thứ tư, thể hiện trách nhiệm chính trị cao trước dân tộc và lịch sử. Khi lý luận về đường lối đổi mới được xác lập là một trụ cột nền tảng tư tưởng, Đảng đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn nữa, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đó là lời khẳng định về ý chí chính trị và khát vọng phát triển, thể hiện tinh thần không ngừng sáng tạo vì lợi ích của nhân dân.
2.3. Tạo cơ sở tư tưởng vững chắc để bước vào kỷ nguyên phát triển mới
Thế giới đang bước vào thời kỳ biến đổi sâu sắc với những đặc trưng nổi bật: cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng; kinh tế tri thức và kinh tế số trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn và nền tảng tư tưởng vững chắc để định hướng phát triển.
Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới là một trụ cột nền tảng tư tưởng giúp tạo ra cơ sở lý luận thống nhất cho quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện trong giai đoạn mới; giúp trả lời những câu hỏi lớn: Phát triển theo mô hình nào? Kết hợp giữa thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ra sao? Hội nhập quốc tế ở mức độ nào và với điều kiện gì? Làm thế nào để vừa tăng trưởng nhanh, vừa bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững?
Một hệ thống lý luận hoàn chỉnh còn có vai trò củng cố niềm tin chính trị – xã hội. Khi đường lối phát triển được khái quát thành lý luận khoa học, có cơ sở thực tiễn vững chắc sẽ tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, giảm thiểu những dao động, hoài nghi trước biến động của tình hình thế giới. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm ổn định chính trị – điều kiện tiên quyết cho phát triển. Hơn nữa, trong kỷ nguyên chuyển đổi số và kinh tế tri thức, cạnh tranh không chỉ là cạnh tranh về nguồn lực vật chất mà còn là cạnh tranh về thể chế, về năng lực tư duy và sáng tạo. Một quốc gia muốn bứt phá cần có nền tảng tư tưởng rõ ràng, định hướng chiến lược nhất quán và hệ thống lý luận đủ tầm để dẫn dắt hành động. Lý luận về đường lối đổi mới với nội dung ngày càng hoàn thiện về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, xây dựng Nhà nước pháp quyền và chỉnh đốn Đảng, chính là cơ sở tư tưởng cho sự bứt phá đó.
Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới là một trụ cột nền tảng tư tưởng không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần hoàn thiện chỉnh thể nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định bản lĩnh chính trị và năng lực cầm quyền, đồng thời tạo cơ sở tư tưởng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với niềm tin, quyết tâm và khát vọng vươn lên mạnh mẽ.
3. Nhiệm vụ tiếp tục phát triển và vận dụng lý luận về đường lối đổi mới
Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới như một trụ cột nền tảng tư tưởng mới chỉ là bước khởi đầu có ý nghĩa chiến lược. Quan trọng hơn là làm thế nào để hệ thống lý luận đó tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, thấm sâu vào đời sống chính trị – xã hội và trở thành động lực tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn phát triển mới.
Một là, tiếp tục tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận.
Tổng kết thực tiễn là con đường cơ bản để phát triển lý luận. Đối với một đảng cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam, tổng kết thực tiễn không chỉ là hoạt động nghiên cứu khoa học đơn thuần mà còn là yêu cầu chính trị thường xuyên nhằm bảo đảm sự phù hợp giữa đường lối và thực tiễn phát triển đất nước.
Cần xác định rõ rằng, thực tiễn đổi mới ở Việt Nam là một thực tiễn sinh động, đa dạng và không ngừng vận động. Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phòng chống tham nhũng… đều đặt ra những vấn đề mới về nhận thức và phương pháp lãnh đạo. Nếu không được tổng kết kịp thời, những vấn đề đó sẽ dẫn đến khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tổng kết thực tiễn phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy đảng, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo lý luận chính trị. Cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan hoạch định chính sách, cơ sở thực tiễn và các viện nghiên cứu, học viện chính trị để bảo đảm thông tin hai chiều: từ thực tiễn lên lý luận và từ lý luận trở lại thực tiễn.
Bên cạnh đó, phải nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận. Nghiên cứu lý luận không thể dừng ở việc diễn giải, minh họa đường lối đã có, mà cần chủ động phát hiện vấn đề mới, dự báo xu hướng phát triển, đề xuất giải pháp chiến lược. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ nghiên cứu phải được đào tạo bài bản, có tư duy độc lập, khả năng tiếp cận tri thức hiện đại và am hiểu thực tiễn trong nước. Ngoài ra, cần mở rộng giao lưu học thuật quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, nhất là trong các lĩnh vực quản trị quốc gia, kinh tế số, phát triển bền vững, quản trị công hiện đại. Việc tiếp thu này phải trên tinh thần chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện Việt Nam, tránh sao chép máy móc hoặc rơi vào lệ thuộc tư duy. Coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên chính là cách bảo đảm cho lý luận về đường lối đổi mới luôn vận động, phát triển cùng với thực tiễn đất nước, không bị giáo điều, không bị lạc hậu so với yêu cầu của thời đại.
Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục lý luận về đường lối đổi mới trong toàn Đảng và xã hội.
Lý luận chỉ thực sự phát huy sức mạnh khi được thấm nhuần trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về lý luận về đường lối đổi mới một cách bài bản, hệ thống và phù hợp với từng đối tượng.
Nội dung lý luận về đường lối đổi mới cần được đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp, đặc biệt trong hệ thống các trường chính trị, học viện, trung tâm bồi dưỡng chính trị. Việc giảng dạy phải gắn với thực tiễn sinh động của địa phương, ngành, lĩnh vực, tránh tình trạng khô cứng, xa rời cuộc sống. Trong sinh hoạt chi bộ, nội dung lý luận về đường lối đổi mới cần được cụ thể hóa thành các chuyên đề thiết thực: đổi mới phương thức lãnh đạo; nâng cao chất lượng công vụ; cải cách hành chính; chuyển đổi số trong quản lý; phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng văn hóa liêm chính… Qua đó giúp mỗi đảng viên hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc hiện thực hóa đường lối.
Công tác tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng cũng cần đổi mới mạnh mẽ về nội dung và hình thức. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và mạng xã hội, việc truyền tải các giá trị lý luận phải sinh động, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, kết hợp giữa lý luận và minh chứng thực tiễn cụ thể. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, giảng viên lý luận chính trị trong việc lan tỏa giá trị của đường lối đổi mới. Họ không chỉ là người truyền đạt thông tin mà còn là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn, giữa Đảng và Nhân dân. Khi lý luận về đường lối đổi mới được phổ biến sâu rộng sẽ tạo nên sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Ba là, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc thành tựu đổi mới ngày càng tinh vi và phức tạp. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn. Việc đấu tranh, phản bác không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ thông tin sai lệch mà còn phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, minh bạch về đường lối, chính sách và thành tựu phát triển của đất nước. Sự minh bạch và nhất quán trong thông tin chính là “lá chắn mềm” hiệu quả trước các luận điệu xuyên tạc.
Cần tăng cường năng lực cho đội ngũ làm công tác tư tưởng, lý luận và truyền thông trong việc nhận diện sớm các biểu hiện sai trái, thù địch; đồng thời nâng cao kỹ năng tranh luận, phản biện trên môi trường số. Việc đấu tranh phải trên tinh thần khoa học, thuyết phục, tránh cực đoan hoặc áp đặt. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sử dụng mạng xã hội, chủ động lan tỏa thông tin tích cực, không tiếp tay cho các luận điệu sai trái. Đây là một yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số và xã hội thông tin.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là phản bác cái sai mà quan trọng hơn là khẳng định giá trị đúng đắn, tính ưu việt và thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới. Chính thực tiễn phát triển của đất nước là minh chứng thuyết phục nhất cho sức sống của lý luận về đường lối đổi mới.
Bốn là, gắn lý luận với hành động thực tiễn của mỗi cán bộ, đảng viên.
Lý luận chỉ có giá trị khi được hiện thực hóa trong hành động. Vì vậy, gắn lý luận về đường lối đổi mới với thực tiễn công tác của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu then chốt để biến tư tưởng thành sức mạnh vật chất.
(1) Mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững lý tưởng cách mạng trong mọi hoàn cảnh. Kiên định không có nghĩa là bảo thủ mà là vững vàng về mục tiêu, linh hoạt về phương pháp, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm.
(2) Cần không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và trình độ lý luận. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và chuyển đổi số, cán bộ không chỉ cần phẩm chất chính trị vững vàng mà còn phải có kiến thức chuyên sâu, kỹ năng quản trị hiện đại, tư duy sáng tạo. Đây là điều kiện để thực hiện hiệu quả đường lối đổi mới trong từng lĩnh vực cụ thể.
(3) Mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động đổi mới sáng tạo trong công tác. Đổi mới không chỉ là khẩu hiệu ở tầm vĩ mô, mà phải được thể hiện qua cải tiến quy trình làm việc, ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, xây dựng môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả.
(4) Cần đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Khi người lãnh đạo thể hiện tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong toàn đơn vị, địa phương.
4. Kết luận
Việc khẳng định và phát triển lý luận về đường lối đổi mới thành một trụ cột nền tảng tư tưởng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt chính trị – tổ chức mà còn là sự khẳng định ở tầm chiến lược, công cuộc đổi mới hơn bốn thập niên qua đã đạt đến độ chín về lý luận, đủ sức trở thành một bộ phận cấu thành của nền tảng tư tưởng dẫn dắt sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Lý luận về đường lối đổi mới, với những nội dung cốt lõi như phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh và bền vững; gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo… chính là kim chỉ nam để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới một cách tự tin và chủ động.
Việc xác lập lý luận về đường lối đổi mới thành một trụ cột nền tảng tư tưởng tại Đại hội XIV không chỉ mang ý nghĩa tổng kết chặng đường đã qua mà còn mở ra một tầm nhìn mới cho tương lai. Đó là bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, tạo cơ sở vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng lớn, quyết tâm cao và niềm tin bền vững vào con đường đã lựa chọn.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
2. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.
3. Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (2023). Báo cáo Phát triển con người Việt Nam, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Hội đồng Lý luận Trung ương (2025). Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới (1986-2026), Hà Nội.
8. Ngân hàng Thế giới (2022). Việt Nam 2045: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. Washington, D.C.
9. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
10. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
11. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2024). Báo cáo kinh tế – xã hội Việt Nam thường niên. H. NXB Khoa học xã hội.



