Năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc: tiếp cận từ sự biến đổi của lao động quản trị

PGS.TS Hoàng Văn Hoan
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Hoàng Mỹ Nguyên Trang
Đại học VinUni
TS. Nguyễn Danh Nam
Trường Đại học Thành Đông

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc môi trường và phương thức vận hành của quản trị công, đặc biệt ở cấp xã cấp chính quyền trực tiếp gắn với người dân trong cung cấp dịch vụ công và giải quyết các vấn đề xã hội. Trong bối cảnh đó, năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trở thành yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả vận hành của chính quyền số ở cơ sở. Bài viết tiếp cận vấn đề từ sự biến đổi của lao động quản trị trong môi trường số, qua đó làm rõ bản chất của năng lực số trong hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp xã. Trên cơ sở khảo sát tại các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, phân tích thực trạng, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trong quá trình xây dựng chính quyền số ở Việt Nam.

Từ khóa: Năng lực số; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã; chuyển đổi số; các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc; chính quyền số.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng quan trọng trong quá trình đổi mới quản trị nhà nước và xây dựng chính quyền số ở Việt Nam. Việc ứng dụng công nghệ số và dữ liệu trong hoạt động quản lý không chỉ làm thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Trong bối cảnh đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là cấp chính quyền trực tiếp gắn với người dân và doanh nghiệp, đồng thời là nơi triển khai và tổ chức thực thi các chính sách công ở cơ sở.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 697 xã, phường, thị trấn thuộc 9 tỉnh gồm Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai (sáp nhập Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trở thành cấp quản trị trực tiếp xử lý nhiều hoạt động quản lý nhà nước trên nền tảng số, từ cung cấp dịch vụ công trực tuyến, quản lý dữ liệu dân cư đến điều hành các chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Từ bối cảnh đó, bài viết tập trung nghiên cứu năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã vùng Trung du và miền núi phía Bắc trên cơ sở tiếp cận từ sự biến đổi của lao động quản trị trong môi trường số.

2. Cơ sở lý luận về năng lực số của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trong chuyển đổi số: tiếp cận từ sự biến đổi của lao động quản trị

Chuyển đổi số đang tái cấu trúc sâu sắc môi trường và phương thức vận hành của nền quản trị công, trong đó cấp xã là địa bàn chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất. Là cấp chính quyền gần dân, nơi các chính sách được hiện thực hóa thành dịch vụ công và hoạt động quản trị xã hội cụ thể, vai trò của cấp xã càng được khẳng định trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã) theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Sự phân cấp, phân quyền mạnh mẽ đã biến cấp xã trở thành điểm giao diện trọng yếu giữa Nhà nước và người dân, nơi năng lực thực thi của đội ngũ lãnh đạo, quản lý đóng vai trò then chốt.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là những chủ thể giữ vai trò lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực thi các hoạt động quản trị công tại địa bàn cơ sở. Nhóm này bao gồm các chức danh chủ chốt của Hội đồng nhân dân (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng ban) và Ủy ban nhân dân (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, người đứng đầu các đơn vị chuyên môn) cấp xã. Khi môi trường quản trị chuyển dịch lên không gian số, năng lực của nhóm chủ thể này chính là yếu tố quyết định hiệu quả vận hành của chính quyền số ở cấp cơ sở.

Theo C. Mác (1995), lao động là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm, trong đó cấu trúc của mọi hoạt động lao động đều bao gồm ba yếu tố: đối tượng lao động, công cụ lao động và phương thức tổ chức lao động. Sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào trong ba yếu tố này đều kéo theo sự thay đổi về yêu cầu năng lực của người lao động. Lao động của đội ngũ lãnh đạo, quản lý mang tính đặc thù: đối tượng lao động là các quá trình xã hội, nguồn lực công và hoạt động của con người trong cộng đồng; công cụ lao động là hệ thống pháp luật, chính sách, bộ máy tổ chức; phương thức tổ chức là quy trình ra quyết định, phối hợp và điều hành. V. I. Lênin (2005) đã nhấn mạnh vai trò tổ chức, quản lý như một yếu tố then chốt để thực hiện các nhiệm vụ xã hội.

Quá trình chuyển đổi số hiện nay đang làm biến đổi căn bản cả ba phương diện của lao động quản trị trong khu vực công. Đối tượng lao động chuyển từ hồ sơ, văn bản giấy và thông tin phân tán sang dữ liệu số hóa và các hệ thống thông tin tích hợp, qua đó dữ liệu trở thành tài nguyên trung tâm cho việc phân tích, dự báo và ra quyết định. Công cụ lao động chuyển từ văn bản giấy, hội họp truyền thống sang nền tảng số, hệ thống quản lý văn bản điện tử, cơ sở dữ liệu dùng chung và dịch vụ công trực tuyến. Phương thức tổ chức lao động chuyển từ quy trình xử lý tuần tự, thủ công sang mô hình liên thông, tự động hóa và tương tác thời gian thực trên môi trường mạng.

Cerinsek và Dolinsek (2009) khẳng định, năng lực không chỉ là kiến thức và kỹ năng riêng lẻ, mà là khả năng tích hợp chúng để hành động hiệu quả trong một bối cảnh cụ thể. Đối với khu vực công, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhấn mạnh năng lực số không chỉ dừng lại ở việc sử dụng thành thạo công nghệ, mà còn là khả năng khai thác dữ liệu và công nghệ số để thiết kế, cung cấp và không ngừng cải thiện các dịch vụ công. Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng khung năng lực số DigComp làm cơ sở tham chiếu cho phát triển năng lực số tại các quốc gia thành viên. Tại Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN năm 2025, tạo cơ sở thống nhất cho việc đào tạo và đánh giá năng lực số trong xã hội.

Ở cấp xã, sự biến đổi của lao động quản trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là nơi diễn ra các tương tác trực tiếp, thường xuyên với người dân và doanh nghiệp. Các hoạt động cốt lõi như giải quyết thủ tục hành chính, quản lý dân cư, thu thuế, tiếp nhận phản ánh, kiến nghị đều đang được vận hành ngày càng nhiều trên các nền tảng số. Chủ tịch Hồ Chí Minh (2011) đã chỉ rõ: “Cấp xã là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Việc trang bị năng lực số cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý cấp xã do đó trở thành điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chính quyền số từ gốc.

Trên cơ sở tổng hợp các khung năng lực số quốc tế (OECD, EU DigComp) và trong nước (khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản theo Quyết định số 757), nghiên cứu này đề xuất cách hiểu về năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã, như sau: đó là khả năng huy động và vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi quản trị để tổ chức, điều hành và ra quyết định hiệu quả trong môi trường dữ liệu và nền tảng số nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công tại địa bàn cơ sở.

Cấu trúc của năng lực này được mô tả thông qua một hàm năng lực đa chiều: DL_commune = f (KN, DS, CO, SE, GP, DL)

Trong đó: KN (Digital Knowledge) là kiến thức số nền tảng; DS (Data Skills) là kỹ năng khai thác và sử dụng dữ liệu; CO (Digital Coordination) là năng lực phối hợp, điều hành trên môi trường số; SE (Security and Ethics) là năng lực đảm bảo an toàn, an ninh và trách nhiệm số; GP (Digital Problem Solving) là năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường số; DL (Digital Leadership) là năng lực lãnh đạo số. Sáu thành tố này phản ánh ba tầng bậc năng lực: tầng nhận thức (KN), tầng hành động (DS, CO, GP, SE) và tầng lãnh đạo – dẫn dắt (DL). Từ hàm năng lực trên, khung chỉ tiêu đo lường với các chỉ báo quan sát cụ thể được xây dựng như Bảng 1.

Bảng 1. Khung chỉ tiêu đo lường năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã

Biến năng lựcKý hiệuChỉ báoNội dung chỉ báoNguồn kế thừa/bổ sung
Kiến thức sốKNKN1Hiểu rõ mục tiêu, nội dung cơ bản của chuyển đổi số trong quản trị công.OECD Digital Government; QĐ 757 
KN2Nắm vững nguyên tắc vận hành của chính quyền số và dịch vụ công trực tuyến.OECD; EU DigComp 
KN3Nhận thức đúng vai trò của dữ liệu là nền tảng cho quản trị và ra quyết định.OECD Data-driven Government 
KN4Hiểu và cập nhật các quy định pháp luật về an toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu.QĐ 757; Khung kỹ năng số CBCC 
Kỹ năng khai thác dữ liệuDSDS1Có khả năng đọc, hiểu, diễn giải các báo cáo, thống kê, dữ liệu phục vụ quản lý.EU DigComp; OECD 
DS2Sử dụng dữ liệu để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.OECD Data-driven policy 
DS3Sử dụng dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định quản lý, điều hành.OECD Digital Government 
DS4Theo dõi, đánh giá kết quả thực thi công vụ dựa trên các chỉ số dữ liệu.OECD Public Governance 
Năng lực phối hợp sốCOCO1Thành thạo sử dụng hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử.QĐ 757 
CO2Phối hợp hiệu quả công việc với đồng nghiệp, cơ quan khác trên môi trường mạng.EU DigComp 
CO3Thực hiện chia sẻ thông tin, dữ liệu đúng quy định qua các nền tảng dùng chung.OECD; QĐ 757 
CO4Tổ chức xử lý các công việc liên thông, kết nối trên nền tảng số.OECD Digital Government 
An toàn và trách nhiệm sốSESE1Nghiêm túc tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin trong hoạt động công vụ.QĐ 757 
SE2Chấp hành quy định về quản lý, cập nhật, chia sẻ và sử dụng dữ liệu.OECD; QĐ 757 
SE3Có khả năng nhận diện và xử lý các nguy cơ, rủi ro về an ninh thông tin.EU DigComp 
SE4Thể hiện trách nhiệm và chuẩn mực đạo đức khi tham gia các hoạt động trên môi trường số.OECD; EU DigComp 
Giải quyết vấn đề sốGPGP1Chủ động ứng dụng công nghệ số để tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề quản lý nảy sinh.EU DigComp 
GP2Đề xuất hoặc thực hiện cải tiến quy trình nghiệp vụ nhờ ứng dụng công nghệ.OECD Innovation in Government 
GP3Ứng dụng các nền tảng số để nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công.OECD Digital Government 
GP4Xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống quản trị phát sinh trong môi trường số.EU DigComp 
Lãnh đạo sốDLDL1Ra quyết định quản lý, điều hành dựa trên phân tích dữ liệu và bằng chứng số.OECD Data-driven leadership 
DL2Tổ chức vận hành thông suốt các hoạt động quản trị của địa phương trên nền tảng số.OECD Digital Government 
DL3Lãnh đạo, chỉ đạo, tạo động lực thúc đẩy cấp dưới và cơ quan ứng dụng công nghệ số.OECD Public Governance 
DL4Dẫn dắt, tuyên truyền, vận động người dân và cộng đồng tham gia vào quá trình chuyển đổi số.QĐ 757; OECD 
Nguồn: Tổng hợp từ khung năng lực số của OECD, khung DigComp của Liên minh châu Âu và khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản ban hành theo Quyết định số 757/QĐ-BKHCN năm 2025; tác giả điều chỉnh phù hợp với bối cảnh lãnh đạo, quản lý cấp xã.

Bên cạnh cấu trúc nội tại, năng lực số của đội ngũ này còn chịu sự tác động tổng hợp từ môi trường bên ngoài. Mối quan hệ này được khái quát qua hàm ảnh hưởng sau: DL_commune = f (INST, INF, HR, ORG)

Trong đó: INST (Institution) là thể chế, chính sách về chuyển đổi số bao gồm cơ chế, quy định, tiêu chuẩn; INF (Infrastructure) là hạ tầng kỹ thuật số và hệ sinh thái công nghệ phục vụ quản trị; HR (Human Resources) là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy; ORG (Organization) là môi trường tổ chức, văn hóa công sở và sự ủng hộ của lãnh đạo cấp trên.

Năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã là một dạng năng lực quản trị mới, được hình thành và biến đổi cùng với sự thay đổi của lao động quản trị trong kỷ nguyên số. Việc nhận diện một cách hệ thống bản chất, cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực này là cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng khung đánh giá, thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng và hoàn thiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực, góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số quốc gia từ nền tảng cấp xã vững mạnh.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận kết hợp giữa phân tích lý luận và điều tra định lượng nhằm đo lường năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã trong bối cảnh chuyển đổi số. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để xây dựng khung khái niệm và hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực số trên cơ sở tham chiếu các khung năng lực quốc tế về kỹ năng số và các quy định chính sách của Việt Nam liên quan đến phát triển năng lực số trong khu vực công.

Để thu thập dữ liệu thực nghiệm, nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi. Thiết kế mẫu được thực hiện theo phương pháp phân tầng kết hợp cụm hai giai đoạn, nhằm bảo đảm tính đại diện không gian của các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, bao gồm ba tiểu vùng: Đông Bắc (Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên), Tây Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La) và Trung du (Phú Thọ). Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, khu vực này có 697 đơn vị hành chính cấp xã. Từ tổng thể này, nghiên cứu lựa chọn 17 xã, phường và thị trấn đại diện thuộc các tiểu vùng để tiến hành khảo sát.

Tại mỗi đơn vị cấp xã, bảng hỏi được phát tới 44 chức danh lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp xã, bao gồm các chức danh thuộc Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các phòng chuyên môn, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, cùng lực lượng công an và quân sự cấp xã. Tổng số 748 bảng hỏi được phát ra; sau khi loại bỏ các bảng hỏi không đầy đủ thông tin, 600 bảng hợp lệ được sử dụng cho phân tích.

Các chỉ báo đo lường năng lực số được xây dựng theo thang đo Likert năm mức độ. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm đánh giá cấu trúc thang đo và xác định mức độ ảnh hưởng của các thành phần năng lực đến năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã.

Bảng 2. Đặc điểm mẫu khảo sát

Tiêu chíSố lượngTỷ lệ (%)
Phân bố theo nhóm thiết chế
Đảng ủy cấp xã14023,3
Hội đồng nhân dân cấp xã8414,0
Ủy ban nhân dân và các phòng chuyên môn18731,2
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội13823,0
Công an xã và Ban Chỉ huy quân sự xã518,5
Phân bố theo tiểu vùng
Đông Bắc20634,3
Tây Bắc18931,5
Trung du20534,2
Kinh nghiệm công tác
Dưới 5 năm9816,3
Từ 5 – 10 năm18731,2
Trên 10 năm31552,5
Tổng số phiếu hợp lệ600100
Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu khảo sát của nghiên cứu.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha)

Trước khi tiến hành phân tích nhân tố, nghiên cứu thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo năng lực số thông qua hệ số Cronbach’s Alpha trên bộ dữ liệu khảo sát gồm 600 phiếu hợp lệ. Sáu nhóm năng lực với 24 biến quan sát được kiểm định riêng biệt theo từng thang đo thành phần. Theo Hair và cộng sự, thang đo được xem là đạt độ tin cậy khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,7 và hệ số tương quan biến – tổng (Corrected Item–Total Correlation) lớn hơn 0,3.

Bảng 3. Kiểm định độ tin cậy thang đo năng lực số

Biến năng lựcKý hiệuBiến quan sátCronbach’s Alpha
Kiến thức sốKNKN1–KN40,842
Kỹ năng khai thác dữ liệuDSDS1–DS40,815
Năng lực phối hợp sốCOCO1–CO40,861
An toàn và trách nhiệm sốSESE1–SE40,804
Giải quyết vấn đề sốGPGP1–GP40,823
Lãnh đạo sốDLDL1–DL40,838
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát (n = 600).

Kết quả cho thấy, tất cả các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,8, chứng tỏ các biến quan sát trong từng nhóm năng lực có mức độ nhất quán nội tại cao. Không có biến quan sát nào có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0,3, do đó, toàn bộ 24 biến quan sát được giữ lại để tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá.

4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo, nghiên cứu tiến hành phân tích nhân tố khám phá nhằm đánh giá cấu trúc của thang đo năng lực số. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett cho thấy dữ liệu phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố.

Bảng 4. Kiểm định KMO và Bartlett

Chỉ tiêuGiá trị
KMO0,891
Bartlett’s Test (Sig.)0,000

Giá trị KMO = 0,891 (> 0,5) và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05), cho thấy dữ liệu khảo sát phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá.

Kết quả EFA cho thấy, sáu nhân tố được trích xuất đúng với cấu trúc lý thuyết ban đầu, với Eigenvalue > 1 và tổng phương sai trích đạt 68,4%, đáp ứng yêu cầu của phân tích nhân tố trong nghiên cứu khoa học xã hội. Các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 và tập trung vào đúng nhóm nhân tố tương ứng.

Bảng 5. Ma trận tải nhân tố

Biến quan sátKNDSCOSEGPDL
KN10,742
KN20,781
KN30,754
KN40,736
DS10,701
DS20,732
DS30,765
DS40,714
CO10,771
CO20,784
CO30,742
CO40,759
SE10,712
SE20,734
SE30,741
SE40,725
GP10,703
GP20,748
GP30,721
GP40,733
DL10,742
DL20,768
DL30,756
DL40,734
Nguồn: Kết quả phân tích EFA (n = 600).

Kết quả này khẳng định cấu trúc thang đo năng lực số gồm sáu nhóm năng lực là phù hợp với dữ liệu khảo sát, đồng thời bảo đảm tính hội tụ và tính phân biệt của các thang đo.

4.3. Phân tích hồi quy các yếu tố cấu thành năng lực số

Trên cơ sở kết quả EFA, nghiên cứu tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm năng lực thành phần đến năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Mô hình hồi quy được xây dựng dưới dạng: DL_commune = β₀ + β₁KN + β₂DS + β₃CO + β₄SE + β₅GP + β₆DL + ε

Trong đó DL_commune là năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã; KN là kiến thức số; DS là kỹ năng khai thác dữ liệu; CO là năng lực phối hợp số; SE là an toàn và trách nhiệm số; GP là năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường số; DL là năng lực lãnh đạo số.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê với giá trị F = 42,73 và mức ý nghĩa Sig < 0,001. Hệ số xác định R² = 0,61, cho thấy sáu nhóm năng lực thành phần giải thích được khoảng 61% sự biến thiên của năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã.

Bảng 6. Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực số

BiếnBeta chuẩn hóaSig.VIF
Kiến thức số (KN)0,2180,0011,42
Kỹ năng khai thác dữ liệu (DS)0,2640,0001,36
Năng lực phối hợp số (CO)0,1730,0031,51
An toàn và trách nhiệm số (SE)0,1420,0121,29
Giải quyết vấn đề số (GP)0,1590,0061,33
Lãnh đạo số (DL)0,2870,0001,47
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát (n = 600).

Kết quả hồi quy cho thấy, tất cả các biến độc lập đều có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Trong đó, năng lực lãnh đạo số (β = 0,287) và kỹ năng khai thác dữ liệu (β = 0,264) có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu và năng lực dẫn dắt quá trình chuyển đổi số trong hoạt động quản trị ở cấp cơ sở. Các năng lực như kiến thức số, phối hợp số, giải quyết vấn đề số và an toàn, trách nhiệm số cũng có tác động đáng kể, phản ánh yêu cầu phải phát triển đồng bộ các thành phần năng lực trong quá trình xây dựng chính quyền số ở cấp xã.

5. Thảo luận

Kết quả phân tích định lượng từ 600 phiếu khảo sát hợp lệ cho thấy năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã vùng Trung du và miền núi phía Bắc được cấu thành bởi sáu nhóm năng lực gồm: kiến thức số (KN), kỹ năng khai thác dữ liệu (DS), năng lực phối hợp số (CO), an toàn và trách nhiệm số (SE), giải quyết vấn đề trong môi trường số (GP) và lãnh đạo số (DL). Mô hình hồi quy cho thấy các biến này giải thích 61% sự biến thiên của năng lực số tổng thể, khẳng định cấu trúc năng lực được đề xuất có cơ sở thực nghiệm.

Kết quả hồi quy cho thấy, lãnh đạo số (β = 0,287) là thành phần năng lực có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực số tổng thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Điều này phản ánh vai trò trung tâm của năng lực tổ chức, điều hành và dẫn dắt quá trình chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở. Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trở thành cấp quản trị trực tiếp gắn với người dân và doanh nghiệp, đồng thời phải xử lý ngày càng nhiều hoạt động quản trị trên môi trường số. Khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu, tổ chức vận hành các nền tảng số và thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong hoạt động công vụ vì vậy trở thành yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả chuyển đổi số ở cấp cơ sở.

Kỹ năng khai thác dữ liệu (β = 0,264) là thành phần năng lực có mức độ ảnh hưởng lớn thứ hai trong mô hình. Kết quả này cho thấy năng lực đọc, hiểu và sử dụng dữ liệu trong quá trình quản lý và ra quyết định đang trở thành năng lực cốt lõi của đội ngũ lãnh đạo cấp xã. Trong môi trường quản trị số, nhiều hoạt động điều hành địa phương như xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, theo dõi kết quả thực thi chính sách hoặc quản lý dịch vụ công đều dựa vào các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy mức độ thành thạo trong khai thác và phân tích dữ liệu của một bộ phận cán bộ lãnh đạo cấp xã vẫn còn hạn chế, đặc biệt tại các địa bàn miền núi nơi điều kiện hạ tầng số và khả năng tiếp cận công nghệ chưa đồng đều.

Các nhóm năng lực kiến thức số (β = 0,218), phối hợp số (β = 0,173) và giải quyết vấn đề trong môi trường số (β = 0,159) cũng có tác động tích cực đến năng lực số tổng thể. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi số ở cấp xã gắn liền với sự thay đổi phương thức tổ chức và vận hành hoạt động quản trị trong hệ thống chính trị cơ sở. Việc sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử, các nền tảng điều hành số và cơ chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan đang trở thành phương thức làm việc ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, mức độ chủ động ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình nghiệp vụ và giải quyết các vấn đề quản trị phát sinh trên môi trường số vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương trong vùng.

Biến an toàn và trách nhiệm số (β = 0,142) có mức độ ảnh hưởng thấp hơn so với các nhóm năng lực khác nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và tuân thủ các quy định về quản lý dữ liệu đang trở thành một thành phần quan trọng của năng lực số trong hoạt động công vụ. Trong thực tiễn, nhận thức và kỹ năng xử lý các rủi ro an ninh thông tin của một bộ phận cán bộ lãnh đạo cấp xã vẫn còn hạn chế, trong khi các hoạt động quản trị ngày càng phụ thuộc vào các hệ thống dữ liệu và nền tảng số.

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã vùng Trung du và miền núi phía Bắc đã bước đầu hình thành nhưng chưa phát triển đồng đều giữa các nhóm năng lực. Khoảng cách giữa năng lực lãnh đạo số và kỹ năng khai thác dữ liệu với các thành phần năng lực còn lại phản ánh yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số ở cấp cơ sở.

6. Một số giải pháp

Thứ nhất, phát triển năng lực lãnh đạo số đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở cấp xã. Lãnh đạo số có hệ số ảnh hưởng cao nhất trong mô hình (β = 0,287), cho thấy vai trò quyết định của năng lực tổ chức và điều hành chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở. Cần ưu tiên bồi dưỡng năng lực lãnh đạo số đối với các chức danh chủ chốt như bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân và trưởng các phòng chuyên môn. Nội dung đào tạo tập trung vào ra quyết định dựa trên dữ liệu, điều hành công việc trên nền tảng số và tổ chức triển khai các hệ thống quản trị điện tử ở cấp xã. Đối với các địa phương vùng núi, chương trình đào tạo cần gắn với các tình huống quản trị thực tiễn như quản lý dữ liệu dân cư, điều hành dịch vụ công trực tuyến và xử lý thông tin trên môi trường số.

Thứ hai, nâng cao năng lực khai thác và sử dụng dữ liệu trong hoạt động quản trị địa phương. Kỹ năng khai thác dữ liệu có hệ số ảnh hưởng lớn thứ hai (β = 0,264), phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu trong quản trị địa phương. Cán bộ lãnh đạo cấp xã cần được trang bị khả năng đọc, phân tích và sử dụng dữ liệu trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, theo dõi thực thi chính sách và quản lý dịch vụ công. Các địa phương cần tăng cường đào tạo kỹ năng phân tích dữ liệu cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo thuộc các thiết chế trong hệ thống chính trị cấp xã, đồng thời tạo điều kiện để họ tiếp cận và khai thác các hệ thống dữ liệu của chính quyền số.

Thứ ba, củng cố nền tảng kiến thức số cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Kiến thức số có hệ số ảnh hưởng β = 0,218, cho thấy hiểu biết về công nghệ và hệ thống thông tin quản lý là điều kiện quan trọng để triển khai chuyển đổi số ở cấp cơ sở. Việc bồi dưỡng kiến thức số cần được triển khai đối với toàn bộ 44 chức danh lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp xã, bao gồm các chức danh thuộc đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội, công an và quân sự cấp xã. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào kiến thức về chính quyền số, dữ liệu số và các hệ thống quản trị điện tử.

Thứ tư, tăng cường năng lực phối hợp số trong hệ thống chính trị cấp xã. Năng lực phối hợp số có hệ số ảnh hưởng β = 0,173, cho thấy chuyển đổi số ở cấp xã gắn liền với việc đổi mới phương thức phối hợp giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị cơ sở. Các địa phương cần thúc đẩy việc sử dụng các nền tảng quản lý văn bản điện tử, hệ thống điều hành công việc và các cơ sở dữ liệu dùng chung trong toàn bộ hệ thống chính trị cấp xã. Việc sử dụng thống nhất các nền tảng số góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và các tổ chức chính trị – xã hội trong quá trình quản trị địa phương.

Thứ năm, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường số gắn với đặc thù các tiểu vùng. Năng lực giải quyết vấn đề số có hệ số ảnh hưởng β = 0,159. Trong điều kiện vùng Trung du và miền núi phía Bắc có sự khác biệt về hạ tầng số và điều kiện phát triển giữa các tiểu vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Trung du, việc phát triển năng lực này cần gắn với điều kiện cụ thể của từng địa bàn. Đối với các tỉnh Tây Bắc, cần chú trọng năng lực sử dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề quản lý địa bàn rộng và phân tán; đối với khu vực Đông Bắc và Trung du, cần tăng cường năng lực ứng dụng dữ liệu và các nền tảng quản trị số trong quản lý kinh tế – xã hội.

Thứ sáu, tăng cường năng lực bảo đảm an toàn thông tin và trách nhiệm số trong hoạt động công vụ. An toàn và trách nhiệm số có hệ số ảnh hưởng β = 0,142. Mặc dù mức độ ảnh hưởng thấp hơn các nhóm năng lực khác, nhưng trong bối cảnh quản trị địa phương ngày càng phụ thuộc vào các hệ thống dữ liệu và nền tảng số, việc bảo đảm an toàn thông tin là yêu cầu quan trọng. Các địa phương cần tăng cường đào tạo về bảo mật dữ liệu, an ninh mạng và đạo đức số cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp xã, đồng thời xây dựng các quy trình quản lý dữ liệu trong hoạt động công vụ.

7. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực số của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã không chỉ là khả năng sử dụng công nghệ mà trước hết là năng lực tổ chức, điều hành và dẫn dắt hoạt động quản trị công trong môi trường số. Phân tích dữ liệu khảo sát 600 cán bộ thuộc 44 chức danh lãnh đạo, quản lý cấp xã tại 17 đơn vị cấp xã của 9 tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc (Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La) cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo số và năng lực khai thác dữ liệu trong hoạt động quản trị ở cấp cơ sở.

Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở thực nghiệm về cấu trúc năng lực số của đội ngũ lãnh đạo cấp xã và gợi mở định hướng chính sách nâng cao năng lực này trong quá trình xây dựng chính quyền số. Tuy nhiên, do phạm vi khảo sát mới thực hiện tại 17 đơn vị cấp xã, kết quả nghiên cứu cần tiếp tục được kiểm chứng trên phạm vi rộng hơn trong các nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 về khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản.
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen toàn tập (1995). Tập 23. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Liên minh châu Âu (2017). DigComp 2.1: The Digital Competence Framework for Citizens. Publications Office of the European Union.
5. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
6. V. I. Lênin toàn (2005). Tập 36. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật
7. Cerinsek, G., & Dolinsek, S (2009). Identifying employees’ innovation competency in organisations. International Journal of Innovation and Learning, 6 (2), 164-177.
8. Organisation for Economic Co-operation and Development (2019). The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a digital government. OECD Publishing.