Some experiences in leading industrial development in Bac Ninh province
Trung tá Nguyễn Văn Thiết
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển công nghiệp là một trong những nội dung, nhiệm vụ quan trọng để nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, nâng cao đời sống của người dân, nâng cao năng lực và tạo lợi thế cạnh tranh cho các địa phương. Theo đó, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tập trung vào phát triển công nghiệp để tạo tiền đề, cơ sở cho những năm tiếp theo. Những kết quả đạt được của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo phát triển công nghiệp là tư liệu quý tiếp tục định hướng, chỉ dẫn phát triển công nghiệp của tỉnh trong thời gian tiếp theo để xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, toàn diện, bền vững.
Từ khóa: Phát triển công nghiệp; tỉnh Bắc Ninh; vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; phát triển nhanh, bền vững.
Abstract: Industrial development constitutes one of the key tasks and priorities in accelerating economic growth, narrowing income disparities, improving the living standards of the population, and enhancing the capacity and competitive advantages of localities. In this regard, the Party Organization, authorities, and people of Bac Ninh Province have consistently focused on promoting industrial development as a foundation and driving force for subsequent stages of development. The achievements attained by the Bac Ninh Provincial Party Committee in leading industrial development serve as valuable practical evidence, providing important orientations and guidance for the province’s continued industrial advancement in the coming period, with the aim of building Bac Ninh into a locality characterized by rapid, comprehensive, and sustainable development.
Keywords: industrial development; Bac Ninh Province; Northern Key Economic Region; rapid and sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Sau khi được tái lập tỉnh (năm 1997), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề ra chủ trương phát triển công nghiệp nhằm đưa Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, trở thành tỉnh có công nghiệp phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Hiện nay, sau khi sáp nhập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Bắc Ninh, phát triển công nghiệp của tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của tỉnh đối với các địa phương và thu hút các nguồn lực từ nước ngoài để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Trong quá trình phát triển công nghiệp đã có nhiều kinh nghiệm và bài học ý nghĩa trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó vận dụng vào quá trình đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh những năm tiếp theo.
2. Khái quát một số kết quả đạt được của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo phát triển công nghiệp
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có diện tích 822,7 km2. Tỉnh có 8 đơn vị hành chính, gồm: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện, dân số 1.240.151 người. Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh bao gồm có 99 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 66 xã và 33 phường. Về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng, như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, đất sét làm gạch chịu lửa, đá cát kết, đá sa thạch than bùn ở Yên Phong.
Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, các đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hóa của miền Bắc, như: Quốc lộ 1A nối Hà Nội – Bắc Ninh – Lạng Sơn, đường cao tốc Quốc lộ 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài – Bắc Ninh – Hạ Long, Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh – Hải Dương – Hải Phòng; trục đường sắt xuyên Việt đi Lạng Sơn và Trung Quốc; mạng lưới đường thuỷ sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy ra biển Đông. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội và giao lưu với bên ngoài. Đây là những điều kiện thuận lợi quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong phát triển kinh tế của tỉnh.
Tỉnh Bắc Ninh có 33 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích 10.600 ha; thu hút nhiều nhà đầu tư lớn nước ngoài đến phát triển, xây dựng thương hiệu, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Bắc Ninh đang có nhiều lợi thế trong thực hiện các khâu đột phá vì Bắc Ninh là một trong những “thủ phủ công nghiệp điện tử” của Việt Nam với sự hiện diện của các tập đoàn lớn, như: Samsung, Canon, Foxconn, Hanwha, Goertek, Foster, Microsoft Việt Nam. Các doanh nghiệp này hình thành chuỗi sản xuất – cung ứng công nghệ điện tử, linh kiện, vi mạch, cơ khí chính xác, tự động hóa; tập trung nhiều khu công nghiệp.
Tỉnh Bắc Ninh xác định: “đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng theo hướng thực hiện tổ chức không gian kinh tế và đô thị toàn tỉnh, trong mối quan hệ cơ cấu kinh tế và cấu trúc không gian của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Vùng Thủ đô”. Để phát triển sản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại, cần phải huy động tổng hợp và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp. Tỉnh huy động tổng nguồn vốn đầu tư xã hội đạt 363.000 tỷ đồng, bình quân hằng năm đạt 35 – 40% GRDP1.
Môi trường được cải thiện, cơ bản không còn tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề; 100% dân số đô thị và nông thôn được sử dụng nước sạch; 100% rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải công nghiệp được thu gom, cơ bản được xử lý. Phát triển nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; giải quyết việc làm bình quân hàng năm 27.000 lao động; tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn vào năm 2020: 80-85%. Cơ cấu lao động đến năm 2020 là: công nghiệp – xây dựng chiếm 42%; dịch vụ chiếm 33%; nông – lâm nghiệp – thủy sản chiếm 25%. Chăm sóc, nâng cao sức khỏe và mức sống của Nhân dân; tỷ lệ các xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã đến năm 2018 đạt 100%2.
Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa có bước đột phá khu vực kinh tế trong nước phát triển chưa tương xứng, tính cạnh tranh thấp, công nghiệp phụ trợ chưa bảo đảm với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp; khu vực đầu tư nước ngoài FDI phát triển nhanh nhưng không tạo được sự lan tỏa, kết nối với doanh nghiệp trong nước; huy động các nguồn vốn ngoài nhà nước cho đầu tư hạ tầng còn ít. Cơ cấu trong dịch vụ trong tổng sản phẩm GRDP trong tỉnh thấp, tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai vẫn xảy ra, ô nhiễm môi trường chưa được khắc phục; công tác đào tạo nghề chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, cải cách hành chính, năng lực quản lý điều hành và tổ chức thực hiện có mặt hạn chế.
3. Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp
Một là, quán triệt đầy đủ, sâu sắc chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đề ra chủ trương phát triển công nghiệp phù hợp với thực tiễn của tỉnh.
Đây là bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn sau 40 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở những quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa, thể chế hóa vào từng lĩnh vực cụ thể, đề ra những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi địa phương; lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ban, ngành có liên quan tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn về thể chế, luật pháp, tạo ra hành lang thông thoáng để các địa phương khai thác những tiềm năng, lợi thế phát triển công nghiệp, tập trung phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn, có khả năng thu hút nhiều lao động, nguồn lực ở bên trong và bên ngoài, xây dựng nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, bảo đảm môi trường, phát triển bền vững ở mỗi khu vực, địa bàn.
Thực tiễn trong thời gian qua, lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành đã tổ chức những buổi gặp gỡ, đối thoại với các doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài lắng nghe những ý kiến, nguyện vọng và mong muốn của nhà đầu tư nhất là về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính. Từ đó, tạo sự đoàn kết, thống nhất giữa Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân trong tỉnh để đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tạo bước đột phá về kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, đưa Bắc Ninh phát triển trong tương lai.
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương đã sâu sát, cụ thể hướng dẫn cùng với người dân, doanh nghiệp tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nội dung đã xác định; xây dựng ý chí quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có cách nghĩ, cách làm sát hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương. Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, nhà đầu tư phát triển công nghiệp trên cơ sở tôn trọng luật pháp, bảo đảm môi trường, cuộc sống của người dân.
Hai là, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân để tập trung phát triển công nghiệp.
Đây là bài học kinh nghiệp được đúc rút từ thực tiễn phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua cho thấy phát triển công nghiệp đã phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân. Chính vì vậy, để phát triển công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển công nghiệp. Giao nhiệm vụ cho các sở, trực tiếp là Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính khảo sát, Sở Công thương đánh giá một cách căn cơ, toàn diện, khách quan những ưu điểm, nhược điểm khi cho xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác, các nguồn khoáng sản…
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt sâu sắc quan điểm lấy dân làm “gốc”; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái; không đánh đổi kinh tế bằng bất cứ giá nào để làm tổn hại đến bản sắc văn hóa dân tộc; từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về mặt thể chế, chính sách cho doanh nghiệp, người dân trong quá trình phát triển công nghiệp. Rà soát, đánh giá, có sự phân định giữa các ngành công nghiệp điện điện tử, cơ khí chế tạo, các làng nghề thủ công truyền thống, từ đó kêu gọi đầu tư, có kế hoạch khôi phục, phát triển và giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho người dân; đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong các doanh nghiệp, là hạt nhân, trung tâm đoàn kết, kết nối với các tổ chức, lực lượng.
Ba là, chú trọng công tác quy hoạch, tập trung vào các ngành công nghiệp có lợi thế ở các địa phương.
Đây là kinh nghiệm phản ánh tầm nhìn, năng lực thực tiễn, tư tuy chiến lược của lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Quy hoạch đúng, có trọng tâm, trọng điểm trong phát triển công nghiệp sẽ đánh thức, khơi dậy những tiềm năng, lợi thế của mỗi khu vực, địa bàn. Do đó, công tác quy hoạch có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng để phát triển công nghiệp, mỗi địa phương đều có những đặc điểm, lợi thế riêng trong khai thác, phát huy tối đa lợi thế so sánh thành năng lực cạnh tranh, phát huy, tận dụng tối đa ảnh hưởng của liên kết vùng và tác động lan tỏa của các doanh nghiệp FDI, sử dụng phát triển công nghiệp đồng bộ với hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông.
Đối với những vùng trũng, cần có những phương án để giảm thiểu những thiệt hại về kinh tế do ngập úng gây ra, xây dựng hệ thống thoát nước liên hoàn trong các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp ở khu vực cao, khai thác thế mạnh của địa phương; đối với khu vực nông thôn, tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất, bảo đảm đủ nguồn cung cấp cho nhà máy trong sản xuất; bảo đảm chất lượng cuộc sống, quyền lợi cho người lao động. Đối với khu vực giáp Hà Nội cần tăng cường trao đổi, hợp tác trong phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ.
Ưu tiên phát triển ngành chế tạo linh kiện và thiết bị điện tử, linh kiện và thiết bị điện, trong đó, ưu tiên sản xuất các sản phẩm điện tử công nghiệp, điện tử viễn thông, máy tính thương hiệu Việt Nam, điện thoại di động, linh kiện điện từ phục vụ sản xuất và xuất khẩu, gia công lắp ráp các chỉ tiết linh kiện, điện tử, cơ khí có thể vào được khu vực nông thôn, ngành cơ khí chế tạo máy móc thiết bị và gia công kim loại, trong đó, tập trung các ngành sản xuất khuôn mẫu cho công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp ô tô, xe máy, máy động lực, máy nông nghiệp, máy móc sử dụng trong công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản; phát triển nhanh ngành công nghiệp sản xuất phần mềm, công nghiệp chế tạo, chế biến, lắp ráp, phát triển các ngành công nghiệp hóa dược, dược phẩm, công nghiệp sản xuất ứng dụng công nghệ cao, như: công nghệ nano, công nghệ sinh học; phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu3.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiệp.
Thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển, điều đó có nghĩa là, không chờ cho đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Bắc Ninh đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đầy đủ các mặt hoạt động công tác của các sở, ban, ngành, địa phương trong phát triển công nghiệp. Các cơ quan, chức năng tăng cường rà soát, đánh giá hệ thống các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp ở các địa phương bảo đảm chấp hành nghiêm quy định pháp luật, hướng dẫn của Phòng Tài nguyên và Môi trường, bảo đảm quá trình phát triển sản xuất được diễn ra thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, môi trường và sức khoẻ, sự an toàn của người dân.
4. Kết luận
Phát triển công nghiệp là hướng đi đúng đắn, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của Bắc Ninh hiện nay. Vì vậy, quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể để đánh thức, khơi dậy các nguồn lực tự nhiên, xã hội, bên trong và bên ngoài, tạo thành sức mạnh tổng hợp khắc phục hạn chế, tồn tại trong phát triển công nghiệp, đẩy mạnh phát triển những ngành, lĩnh vực của công nghiệp đã trở thành thế mạnh của tỉnh.
Chú thích:
1, 2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2020-2025), lưu Văn phòng Tỉnh ủy Bắc Ninh.
3. Bắc Ninh triển khai nhiều giải pháp phát triển công nghiệp. https://vioit.org.vn/vn/Printer.aspx?nld=3120.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Bắc Ninh (2010). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926 – 2008). H. NXB Chính trị quốc gia.
2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2015 – 2020.
3. Thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay – Một số vấn đề đặt ra và gợi ý chính sách. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/27/thuc-trang-doi-ngu-cong-chuc-quan-ly-nha-nuoc-ve-kinh-te-tren-dia-ban-tinh-bac-ninh-hien-nay-mot-so-van-de-dat-ra-va-goi-y-chinh-sach.



