ThS. Đàm Đình Tùng
Học viện Biên phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và tình hình an ninh biên giới có nhiều diễn biến phức tạp thì công tác vận động quần chúng càng có vai trò then chốt trong việc xây dựng “thế trận lòng dân”. Nhận thức được vai trò của công tác này, Đảng và Nhà nước nói chung mà trực tiếp là Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã luôn quan tâm, chỉ đạo kịp thời đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, phát huy vai trò xung kích của thanh niên toàn lực lượng, trực tiếp thực hiện “3 bám, 4 cùng” nhằm tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc. Bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của thanh niên Bộ đội Biên phòng trong công tác vận động quần chúng nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Từ khóa: Thanh niên; Bộ đội Biên phòng; vận động quần chúng.
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ thiêng liêng, bất khả xâm phạm, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam nói riêng, biên giới quốc gia không chỉ là giới hạn lãnh thổ pháp lý mà còn là “phên giậu” che chắn, là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và đối ngoại.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi việc giữ gìn biên cương là kế sách lâu dài để yên dân, trị nước. Kế thừa và phát huy truyền thống đó, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định quan điểm đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết và coi đây là mục tiêu tối thượng, là nguyên tắc bất biến trong công tác bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Tuy nhiên, bối cảnh thế giới và khu vực hiện nay đang có những diễn biến hết sức phức tạp và khó lường. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại nhiều thời cơ nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, các thế lực thù địch, phản động không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” nhằm chống phá cách mạng Đảng ta, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lợi dụng sự tập trung của các đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bản, như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, chúng kích động tư tưởng ly khai, tự trị, lôi kéo đồng bào tham gia các hoạt động gây mất ổn định chính trị, bên cạnh đó, các loại tội phạm an ninh xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn lậu và các hoạt động xuất nhập cảnh trái phép diễn biến ngày càng tinh vi, manh động. Đặc biệt, sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra cơ hội cho các đối tượng trên không gian mạng, nơi các luồng thông tin xấu độc tấn công trực diện vào tư tưởng, niềm tin của Nhân dân khu vực biên cương của Tổ quốc.
Ngày 03/6/2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới đã nêu: “Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang”1; ngày 26/01/2015, Quân ủy Trung ương cũng ban hành Nghị quyết số 49-NQ/QUTW về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới và nhấn mạnh: thông qua dân vận, quân đội xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo ra nguồn sức mạnh to lớn để bảo vệ Tổ quốc2; Điều 13 Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020 cũng ghi nhận: “bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới”3.
Để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang này, Bộ đội Biên phòng đã nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, trong đó, lực lượng đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng – lực lượng đông đảo, là đội quân xung kích, sáng tạo, giàu nhiệt huyết – đóng vai trò đặc biệt quan trọng, với phương châm: “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, mỗi đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện để thực hiện tốt vai trò của mình nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với từng bản làng, từng người dân.
Thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Bộ đội Biên phòng (1959 – 2026), tuổi trẻ Biên phòng đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân thông qua hàng loạt các phong trào, mô hình, chương trình an sinh xã hội mang tính nhân văn sâu sắc. Tiêu biểu, như: Chương trình “Nâng bước em tới trường”, “Con nuôi đồn biên phòng”…; trong phát triển kinh tế, thanh niên các đơn vị cơ sở đã trực tiếp hướng dẫn đồng bào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi góp phần giảm nghèo bền vững; trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, họ dũng cảm đối mặt với hiểm nguy để triệt phá các đường dây ma túy, buôn lậu, giữ gìn sự bình yên cho biên cương.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, công tác vận động quần chúng của thanh niên Bộ đội Biên phòng hiện nay cũng đang đối diện với những hạn chế, như: năng lực, kỹ năng tiến hành công tác dân vận của một bộ phận đoàn viên, thanh niên còn yếu, chưa thực sự am hiểu phong tục tập quán và tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số; việc nhận diện và xử lý các đối tượng chống phá, xuyên tạc trên không gian mạng của thanh niên có lúc còn chậm chạp, lúng túng; việc đổi mới nội dung, hình thức vận động của các chi đoàn còn chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số…
2. Thực trạng vai trò của thanh niên Bộ đội Biên phòng trong công tác vận động quần chúng
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và cấp ủy, chỉ huy các đơn vị, lực lượng thanh niên Bộ đội Biên phòng đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, trực tiếp tham gia vào công tác vận động quần chúng với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Thông qua việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết về công tác dân vận trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ trẻ đã chủ động bám địa bàn, triển khai hiệu quả các mô hình giúp dân phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời khéo léo lồng ghép việc tuyên truyền đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc. Những nỗ lực thực tiễn này không chỉ củng cố mối quan hệ máu thịt giữa quân và dân mà còn tạo ra những chuyển biến tích cực trong diện mạo khu vực biên giới.
Thứ nhất, thanh niên Bộ đội Biên phòng đã khẳng định vai trò xung kích, chủ lực trong đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức chủ quyền quốc gia cho nhân dân khu vực biên giới.
Xác định công tác tuyên truyền là khâu đầu tiên và quan trọng nhất để “dân hiểu, dân tin”, tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng đã triển khai đồng bộ nhiều mô hình sáng tạo, phá bỏ rào cản ngôn ngữ và văn hóa để đưa pháp luật về bản làng. Tại các địa bàn trọng điểm, như: Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng…, lực lượng đoàn viên, thanh niên đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể địa phương tổ chức hàng nghìn buổi tuyên truyền miệng, kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng số.
Điển hình tại tỉnh Lai Châu, cán bộ, đoàn viên Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp tổ chức hơn 2.400 buổi tuyên truyền cho hơn 144.000 lượt người dân về Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Mô hình “Thầy giáo quân hàm xanh – đẩy nhanh chuyển đổi số” và phong trào “Bình dân học vụ số” đã được triển khai quyết liệt. Với phương châm “Ngày giúp dân xóa nhà tạm, tối giúp dân chuyển đổi số”, cán bộ trẻ đã trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận internet an toàn, tặng 140 điện thoại và sim 4G cho người dân4, qua đó không chỉ nâng cao dân trí mà còn tạo kênh thông tin nhanh chóng để người dân phản ánh tình hình an ninh trật tự.
Trên tuyến biên giới biển, công tác tuyên truyền chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) được xác định là nhiệm vụ cấp bách. Tại Hải Phòng, mô hình “Tuyên truyền, vận động chống khai thác IUU” do Hải đội 2 triển khai là một điểm sáng, lực lượng thanh niên đã thành lập các biên đội tàu, ca nô, trực tiếp tiếp cận ngư dân ngay trên biển để tuyên truyền, phát hơn 18.000 tờ rơi, trao tặng 3.800 lá cờ Tổ quốc, 4.000 băng đĩa tuyên truyền và vận động ngư dân ký cam kết không vi phạm vùng biển nước ngoài.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn viên, thanh niên biên phòng thành phố đã thực hiện tốt công tác quản lý xuất nhập cảnh, bảo vệ an toàn cho hàng trăm lượt tàu quân sự, tàu du lịch quốc tế, đồng thời tuyên truyền pháp luật cho cư dân khu vực cảng biển5, góp phần giữ vững an ninh cửa khẩu cảng lớn nhất cả nước. Thông qua hệ thống VMS, tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng đã phát hiện, thông báo yêu cầu 6.405 chủ phương tiện, thuyền trưởng tàu cá mất kết nối VMS tự khắc phục, mở lại kết nối, cảnh báo, yêu cầu 302 lượt tàu cá hoạt động gần ranh giới vùng biển giữa Việt Nam với các nước, không vi phạm vùng biển nước ngoài”6.
Thứ hai, đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, làm cầu nối vững chắc giữa Đảng với Nhân dân các dân tộc.
Thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ cho các xã biên giới khó khăn, hàng nghìn lượt cán bộ, sĩ quan trẻ, đảng viên Đồn biên phòng đã được điều động về cơ sở. Tại tỉnh Đắk Nông, hiện có 311 “Cán bộ tăng cường xã quân hàm xanh” giữ các vị trí chủ chốt tại các xã đặc biệt khó khăn; 2.388 đảng viên các Đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản và 9.402 đảng viên phụ trách hơn 40.000 hộ gia đình ở khu vực biên giới. Lực lượng này đã trực tiếp tham gia củng cố 135 tổ chức đoàn thể, 571 lượt chi bộ, kết nạp 518 đảng viên mới tại Lai Châu7, góp phần xóa thôn, bản “trắng” đảng viên.
Tại Cao Bằng, lãnh đạo và cán bộ trẻ Bộ đội Biên phòng thường xuyên tham dự sinh hoạt chi bộ tại các xóm bản (như xóm Lũng Giỏng, xã Tổng Cọt), trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đảng viên và quần chúng, từ đó tham mưu giải quyết kịp thời các vướng mắc ngay từ cơ sở. Việc “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” đã giúp cán bộ trẻ nắm chắc địa bàn, phân loại đối tượng, từ đó xây dựng được mạng lưới cơ sở tin cậy, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.
Thứ ba, tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng đã triển khai hiệu quả các chương trình, mô hình an sinh xã hội, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, để lại dấu ấn nhân văn sâu sắc.
Chương trình “Nâng bước em tới trường”, “Con nuôi đồn biên phòng” đã trở thành chương trình đầy tính nhân văn. Tính đến nay, tuổi trẻ toàn lực lượng đã nhận đỡ đầu, hỗ trợ cho 12.107 lượt học sinh có hoàn cảnh khó khăn (bao gồm cả học sinh Lào và Campuchia) và nhận nuôi 338 cháu (trong đó có 162 cháu mồ côi) tại các đồn biên phòng hoặc tại gia đình với tổng trị giá thực hiện gần 67,7 tỷ đồng. Tại Đắk Nông, chương trình này đã hỗ trợ 153 em học sinh dân tộc thiểu số với số tiền hàng năm trên 1,5 tỷ đồng; “Con nuôi đồn biên phòng” nhận nuôi 7 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn8.
Trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thanh niên Bộ đội Biên phòng đã trực tiếp hướng dẫn nhân dân thay đổi tập quán canh tác lạc hậu. Tại Sơn La, mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang chanh leo, chè tại xã Lóng Sập đã giúp người dân thoát nghèo, từ bỏ việc tham gia vận chuyển ma túy. Tại Lào Cai, mô hình “Giúp dân trồng lúa nước”, “Tay kéo biên phòng” được duy trì hiệu quả. Đặc biệt, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau”, tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng đã huy động nguồn lực và ngày công xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo. Tại Lai Châu, cán bộ chiến sĩ đã huy động hơn 4.000 ngày công, làm mới và sửa chữa hơn 700 căn nhà9.
Thứ tư, thanh niên Bộ đội Biên phòng thể hiện bản lĩnh dũng cảm, mưu trí trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự và chủ quyền lãnh thổ.
Trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tội phạm đầy cam go, nhất là tội phạm ma túy, buôn lậu và xuất nhập cảnh trái phép, thanh niên Bộ đội Biên phòng luôn là lực lượng mũi nhọn. Từ năm 2022 đến nay, các đơn vị đã chủ trì đấu tranh thành công 2.593 chuyên án/vụ án, bắt giữ 3.470 đối tượng, thu giữ 6.630 kg ma túy các loại. Tại “chảo lửa” ma túy Lóng Sập (Sơn La), thông qua mô hình “Bữa sáng cho em” và kiên trì vận động, thanh niên Bộ đội Biên phòng đã giúp giảm hẳn số người nghiện mới, ngăn chặn người dân bị lôi kéo vào các đường dây vận chuyển ma túy10.
Phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” được triển khai sâu rộng. Tại Đắk Nông, đã có 54 dòng họ, 220 đảng viên phụ trách 738 hộ gia đình, thành lập 76 tổ/1.076 thành viên tự quản an ninh trật tự, 21 tập thể và 699 hộ gia đình đăng ký tự quản đường biên, mốc quốc giới. Tại Lai Châu, Nhân dân đã cung cấp hơn 330 tin có giá trị, giúp Bộ đội Biên phòng đấu tranh thành công 14 chuyên án11.
Thứ năm, thanh niên Bộ đội Biên phòng góp phần quan trọng trong công tác đối ngoại biên phòng, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị.
Công tác đối ngoại nhân dân, đối ngoại biên phòng được triển khai linh hoạt, sáng tạo với nòng cốt là lực lượng trẻ. Phong trào “Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới” đã được nhân rộng, các hoạt động giao lưu sĩ quan trẻ, giao lưu “Biên cương thắm tình hữu nghị” với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng (Trung Quốc, Lào, Campuchia) được tổ chức thường xuyên. Qua đó, không chỉ thắt chặt tình đoàn kết giữa lực lượng vũ trang mà còn giúp nhân dân hai bên biên giới hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, cùng nhau bảo vệ đường biên, mốc giới, giải quyết ổn thỏa các vụ việc nảy sinh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị.
Bên cạnh những kết quả đạt được, dưới tác động của điều kiện địa hình và tình hình ở khu vực biên giới, vai trò của thanh niên Bộ đội Biên phòng tại một số đơn vị vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Một là, kỹ năng tiến hành công tác vận động quần chúng, đặc biệt là khả năng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trẻ còn hạn chế. Theo thống kê, vẫn còn khoảng 9,6% cán bộ làm công tác vận động quần chúng chưa thông thạo tiếng dân tộc(13). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền sâu rộng, nhất là đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm;
Hai là, công tác nắm tình hình địa bàn, dự báo tình hình có lúc còn bị động; việc đổi mới nội dung, hình thức vận động ở một số chi đoàn còn chậm, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng xã hội; việc ứng dụng chuyển đổi số trong công tác vận động quần chúng chưa đồng đều giữa các tuyến biên giới.
Ba là, kỹ năng dân vận, tuyên truyền, thuyết phục của nhiều đoàn viên còn chưa đồng đều; chưa linh hoạt trong xử lý các tình huống phức tạp, nhạy cảm ở khu vực biên giới. Nội dung tuyên truyền đôi khi còn dàn trải, chung chung, chưa sát với nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của từng nhóm đối tượng quần chúng.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên đó là, một số cấp ủy, chi bộ, đơn vị chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng vận động quần chúng cho đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên đặc biệt là đội ngũ chuyên trách làm công tác vận động quàn chúng; địa bàn ở các khu vực biên giới rộng, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, dân cư phân tán, trình độ dân trí không đồng đều và nhiều hủ tục lạc hậu còn tồn tại. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi…
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, người đứng đầu đối với công tác thanh niên và đổi mới tư duy về công tác vận động quần chúng trong bối cảnh mới.
Cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương về công tác dân vận. Cần xác định rõ công tác vận động quần chúng của thanh niên Bộ đội Biên phòng không chỉ là các hoạt động phong trào bề nổi mà là một biện pháp nghiệp vụ cơ bản, chiến lược; xây dựng chương trình hành động cụ thể cho tổ chức đoàn; đổi mới tư duy từ “vận động chung chung” sang “vận động chuyên sâu”, gắn trách nhiệm của từng đoàn viên, thanh niên với từng hộ gia đình, từng thôn bản cụ thể theo mô hình “đảng viên đồn biên phòng phụ trách hộ gia đình”. Cấp ủy cần thường xuyên đối thoại với đội ngũ cán bộ đoàn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn từ thực tiễn cơ sở để có cơ chế hỗ trợ kịp thời về thời gian, kinh phí và phương tiện, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thanh niên triển khai các mô hình dân vận tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Thứ hai, đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục chính trị, nâng cao bản lĩnh, kỹ năng “dân vận khéo” và năng lực thực tiễn cho đội ngũ đoàn viên, thanh niên.
Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; các đơn vị cần tổ chức thường xuyên các lớp bồi dưỡng kiến thức về dân tộc học, tôn giáo, phong tục tập quán của từng vùng miền để thanh niên Bộ đội Biên phòng không chỉ hiểu mà còn tôn trọng và hòa nhập được với văn hóa bản địa, tránh những va chạm không đáng có do bất đồng văn hóa; trang bị kỹ năng mềm cho thanh niên như kỹ năng tuyên truyền miệng, kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp, kỹ năng hòa giải ở cơ sở và kỹ năng sử dụng mạng xã hội an toàn; chú trọng bồi dưỡng thông qua thực tiễn, đưa cán bộ trẻ xuống các địa bàn trọng điểm, phức tạp để rèn luyện bản lĩnh, tích lũy kinh nghiệm, theo mô hình “Cán bộ tăng cường xã quân hàm xanh”.
Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, phương pháp vận động quần chúng theo hướng chuyển đổi số, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Cần triển khai rộng rãi các mô hình như “Thầy giáo quân hàm xanh – đẩy nhanh chuyển đổi số”, phong trào “Bình dân học vụ số” như kinh nghiệm tại Lai Châu. Cán bộ trẻ cần trực tiếp hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, kỹ năng bán hàng nông sản trên các sàn thương mại điện tử, và cách thức tiếp cận thông tin chính thống trên internet; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, kết hợp giữa tuyên truyền miệng, hệ thống loa truyền thanh nội bộ với việc sử dụng các nền tảng mạng xã hội để kết nối các nhóm dân cư, già làng, trưởng bản; thanh niên cần xung kích chiếm lĩnh không gian mạng, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “nhân quyền” để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng, xung kích tham gia phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững, củng cố quốc phòng – an ninh tại khu vực biên giới.
Cần tiếp tục duy trì, nhân rộng và nâng cao chất lượng các chương trình, mô hình an sinh xã hội đã khẳng định được hiệu quả thực tế “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”… thanh niên Bộ đội Biên phòng cần tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo theo tinh thần “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Trong công tác bảo đảm an ninh trật tự, cần phát huy vai trò nòng cốt của thanh niên trong các tổ, đội tuần tra, kiểm soát, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quân sự và các đoàn thể địa phương trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy, buôn lậu, giữ vững sự bình yên cho bản làng.
Thứ năm, tăng cường phối hợp giữa đoàn viên, thanh niên và các tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo.
Thanh niên Bộ đội Biên phòng cần tích cực tham gia củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể tại các xã biên giới. Đặc biệt, cần tranh thủ và phát huy tối đa vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo để thông qua họ tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật, xóa bỏ hủ tục lạc hậu và tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc.
Thứ sáu, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng.
Để thanh niên yên tâm công tác, cống hiến lâu dài nơi biên giới, hải đảo, cần thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách ưu đãi đặc thù, cụ thể là các chế độ phụ cấp thu hút, phụ cấp công tác lâu năm, chế độ trợ cấp lần đầu, hỗ trợ về nhà ở, đất ở cho cán bộ định cư ở khu vực biên giới; kịp thời biểu dương, khen thưởng, đề xuất thăng quân hàm, nâng lương trước thời hạn cho những cán bộ, đoàn viên có thành tích xuất sắc, đột xuất trong vận động quần chúng; quan tâm giải quyết tốt chính sách hậu phương quân đội, tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, con của cán bộ, đoàn viên, thanh niên công tác tại vùng sâu, vùng xa, giúp họ yên tâm tư tưởng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
4. Kết luận
Nâng cao vai trò của đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng trong công tác vận động quần chúng là một nội dung trọng yếu, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Với đặc thù là lực lượng xung kích, thường trực tại các địa bàn trọng điểm, thanh niên quân hàm xanh không chỉ là những chiến sĩ cầm súng mà còn là những cán bộ dân vận tận tụy, đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc nơi biên cương.
Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu đội ngũ đoàn viên, thanh niên làm tốt công tác vận động quần chúng, ở đó “thế trận biên phòng lòng dân” được củng cố vững chắc, các điểm nóng về an ninh trật tự được đẩy lùi và chủ quyền an ninh biên giới được giữ vững. Tuy nhiên, trước sự chuyển dịch phức tạp của bối cảnh địa chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống, việc phát huy vai trò của lực lượng này đòi hỏi một lộ trình toàn diện và đồng bộ. Trước hết, cần tiếp tục bồi đắp bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm cho đoàn viên, làm cơ sở để mỗi cá nhân tự giác khắc phục khó khăn, bám trụ địa bàn. Bên cạnh đó, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng phải chủ động đổi mới phương thức tiếp cận quần chúng, chuyển mạnh sang hướng thực chất, hiệu quả, chú trọng phát triển kinh tế – xã hội gắn với tuyên truyền pháp luật.
Sự trưởng thành và tinh thần dấn thân của đoàn viên, thanh niên Bộ đội Biên phòng chính là nhân tố quyết định đến sức mạnh tổng hợp của nền biên phòng toàn dân, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển bền vững trong tương lai.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.
2. Quân ủy Trung ương (2015). Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26/01/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới.
3. Quốc hội (2020). Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020.
4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13. Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng (2025). Báo cáo Tổng kết hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên trong Bộ đội Biên phòng giai đoạn 2022 – 2025.
5. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2025). Báo cáo số 5993/BC-BĐBP ngày 29/10/2025 về tổng kết công tác biên phòng và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng năm 2025.
12. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.



